TRẠNG NGUYÊN NGUYỄN HIỀN


Nguyễn Hiền sinh năm 1235 tại Dương Miện phủ Thượng Hiền trấn sơn Nam Hạ. Người đời sau hiểu biết về ông qua biết bao giai thoại. Còn bé Hiền đã thích chữ nghĩa, lên 4 tuổi người đến chùa xem sư cụ dạy học nhưng không bị ám ảnh bởi cảnh cúng bái. ông như con ong non bay lượn trên bầu trời chữ nghĩa. Không học nhưng ông lại giỏi hoan cả học sinh giỏi nhất của chùa. Năm 13 tuổi về kinh thi đình đỗ trạng nguyên. Năm ấy là năm Thiên Ứng Chính Bình thứ 16 đời vua Trần Thái Tông. Khi vào bệ kiến, vua hỏi:
- “Vấn Trạng học hà sư” tức là trạng học ai? Trạng trả lời:
- Thần trình Bệ Hạ “Thần sinh nhi tri nghi tắc vấn tăng nhất nhị tự” (Thưa bệ hạ tôi đẻ ra đã biết chữ, đôi lúc hỏi nhà sư vài chữ).

Vua Trần phán: “Trạng nguyên niên ấu vị tri lễ hứa hồi gia học lễ đãi tam niên nhi hậu dụng” có nghĩa là Trạng nguyên còn trẻ chưa biết lễ về nhà học lễ ba năm rồi ta dùng.
Trong Triều lúc bấy giờ có sứ thần trung Quốc đưa tối hậu thư sang cho vua Trần trong đó có bài thơ:


Lưỡng nhật bình đầu nhật
Tứ sơn điên đảo sơn
Lưỡng vương tranh nhất Quốc
tứ khẩu tung hoành gian


Tạm dịch:


Hai chữ nhật bằng đầu nhau
Quay bốn mặt đều là chữ sơn
Hai vua tranh một nước
Bốn mặt đều là chữ khẩu


Tương truyền vua quan nhà Trần đều không bniết cách giải. Đem vua Trần mộng thấy: Hữu có Thgượng Hiền chi tài khả năng y quốc (Đất Thượng Hiền có người tài khả năng giúp nước).Vua cho sứ giả về đất Dương Miện tìm trạng.

Khi về đến đầu làng, nhân dân thấy ngựa xe của đoàn sứ giả khiếp bỏ chạy. Còn lại mình chú bé ngồi nặn voi ngang đường. Voi bằng đất nhưng lại đi được vì bốn chân có gắn bốn con cua, hai tai gắn hai con bướm, đuôi một con đỉa, vòi môt con đỉa. Sứ giả ngồi trên ngựa quát hỏi: “ Thằng bé kia, mày ở đâu lại?” Trạng trả lời: “ Tôi là người quân tử ngồi chờ thời”. Khi biết người là Trạng sứ giả liền xuống ngựa mời người về nhà để trao chiếu chỉ triều đình. Về đến nhà sứ thấy ba giân nhà tre, gian giữa bên trên thờ Tổ, bên dưới là bàn học của Trạng. Một bên giường lão mẫu, một bên là bếp. Sứ hỏi : “ người quân tử ở nơi đài các sao Trạng lại ở gần bếp?” Thân thế sự nghiệp ta ở trên cao, hiện giờ để tạm”.
Sứ trao chiếu chỉ mời trạng về kinh để hỗ trợ việc nước. Trạng trả lời: “Vua chê ta không biết lễ nhưng triều đình cũng không biết lễ. Muốn mời ta về phải có voi ngựa, bằng sắc, mũ áo rước ta đi”. Sứ phản hồi khi xin vua đầy đủ các nghi thức trên, trạng hồi cung. Khi họp với văn võ bá quan trạng giảng bài thơ ấy ,là chữ ĐIỀN. Sứ Tàu cũng có mặt tại đó thấy rằng Đại Việt có người tài về tâu với vua Tàu phong cho Trần Cảnh là An Nam Quốc Vương. Nuớc ta thoát được một lần xâm lăng đe doạ. Sau đó vua Trần phong cho trạng là: Đô ngự sử kiêm Đại tướng công , kiêm công bộ thượng thư. khi làm quan trạng hiến kế
cho vua mở giảng võ đường để rèn quân, luyện tướng (bây giờ còn khu Giảng Võ Hà Nội ). Về nông nghiệp trạng hiến kế đắp đê, quai vạc sông Hồng để dẫn thuỷ nhập điền nông dân cày cấy năng suất cao.
Lần thứ hai vua lại nhận được tối hậu thư của vua Tàu trong đó có hai chữ “Thanh tuý”. Vua hỏi Trạng, Trạng phê vào ,giấy là: “Thập nhị nguyệt xuất tốt”(tháng12 đưa quân ra biên ải bố phòng). Thế là lại một lần nữa nước ta thoát nạn binh đao. Trạng mất năm 1225 tương truyền khi đi chỉ đạo đắp đê gặp mưa rét, nắng hàn nên trạng bị cảm nặng rồi mất. Khi trạng mất, thôn Dương Miện đổi là Dương A, phủ Thượng Hiền là Thượng Nguyên. Vua Trần cho xây đền thờ nơi cố trạch thuộc huyện Nam Trực tỉnh Nam Định ngày nay.
Đền được xây dựng theo kiểu nội công ngoại quốc. Từ ngoài vào là bốn hàng cột gỗ lim các hoa văn được trạm khắc tinh xảo. Trên câu đầu hoành x, kẻ bẩy chủ yếu là rồng, tùng, trúc, cúc, mai, rồng lá.Trên long cốt còng ghi chữ “Khải Định thập cửu niên”. Vào đến cung đệ nhị có bức hoành phi lớn với bốn chữ “ Hoa Quốc Phúc Dân”. Ở giân hai bên phải trái có hai bức đại tự mang chữ rất lạ ,không đâu có như “Bạt Hồ Tuy” nghĩa là vượt trên tầm giỏi và ba chữ “Sinh Nghi Tri” nghĩa là đẻ ra đã biết chữ. Dưới đại tự gian bên tả còn treo tấm bảng viết lại bài phú đỗ Trạng nhan đề “ Át Tử Từ Kê Mẫu Hồ”(vịt con từ mẹ gà xuống hồ). Tại cung dọc nối cung đệ nhị với hậu cung mà người ta gọi là thiêu hương có dựng biển hiệu vua ban mang bốn chữ “ Khai Quốc Trạng Nguyên” và bát hương hội đồng thờ các quan. lên đèn hương ở cung này rồi vào cung cấm. Tại cửa cung cẩm có bức đại tự với ba chữ “ Trạng Nguyên Từ” sơn son thếp vàng treo bên trên bộ cửa chạm trổ hoa văn uy nghi không mấy khi được mở. Vào bên trong là cỗ khám gian to, mở cửa khám bên trong có để thần vị mang dòng chữ: “ Trần triều Đinh Mùi khoa Trạng nguyên thăng kim tử vinh lộc đại phu công bộ Thượng thư Nguyễn Tướng công huý Hiền”. Bên ngoài bệ cỗ khám là nhang án to mang hoa văn thời Nguyễn mới được phục chế lại. hai cung đệ nhị và cung cấm được xây từ năm nào không còn di chỉ để lại.
Tương truyền khi được vua ban lập đền thờ thì được phong ba chữ “ Quốc Tế Thần” tức là được các quan triều đình về chỉ đạo việc tế lễtheo nghi thức quốc gia. Hiện còn câu đối 2 nói lên điều đó là:



Đông A nhất giáp sinh tri Trạng
Nam Việt thiên thu quốc tế thần


Từ năm 1991 đến năm 2005 làng Dương A đã sửa đền tám lần bằng tiền đóng góp của 700 hộ dân. Năm thì lợp lai bái đường, năm thì xây cổng, xây nhà chè, đóng cánh cửa, xây thiêu hương, sân gạch, sân cờ tướng, xây vỉa đá bờ hồ sen. Đến năm 2006 cung đệ nhất và cung đệ nhị được trùng tu lai chắc chắn hơn với số tiền là 190 triệu đồng do nhà nước và nhân dân cùng làm.
Hàng năm nhân dân ở đây mở hội kỵ quan trạng vào ngày mất của ngài ngày 14-8 âm lịch. hội được mở ba ngày có cả rước kiệu quanh làng.
Những nam thanh nữ tú, cụ già trẻ nhỏ rước quan trạng dạo chơi đến từng ngõ, từng nhà. Không biết quan trạng linh thiêng có phán bảo gì không nhưng tấm gương tuổi nhỏ, học giỏi tài cao của quan Trạng đẵ thôi thúc tuổi trẻ làng Dương A, tuổi trẻ xã Nam Thắng không chịu thuachi kém em trên quê hương đất học, đất ngàn năm văn hiến Nam Đinh./.







. Đăng ngày 19.04.2013 theo nguyên bản của tác giả từ Nam Định.
. TRÍCH ĐĂNG LẠI VUI LÒNG GHI RÕ NGUỒN NEWVIETART.COM .