Nhân ngày Giỗ Tổ Hùng Vương 10/3

Gia Đình và Đất Nước Việt Nam
Hình Thành Từ Thời Đại Hùng Vương
- Một Niềm Tự Hào Của Dân Tộc -



Theo nhiều tài liệu chính thống hiện đang lưu hành, nhà nước và dân tộc Việt Nam đã hình thành từ thời đại Hùng Vương với 18 đời vua trị vì từ năm 2879 tới năm 258 trước Công nguyên và tồn tại cho tới ngày nay, tính ra có gần 5.000 năm lịch sử. Tiến trình lịch sử văn minh của dân tộc Việt Nam đã hun đúc nên truyền thống tốt đẹp mà ngày nay chúng ta đang thừa hưởng nên cần phải giữ gìn nó như một thứ di sản vô giá, như lời phát biểu của Chủ tịch Hồ Chí Minh với Đại đoàn tiên phong 308 tiến về tiếp quản thủ đô Hà Nội ngày 10/10/1954 sau 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi : “Các vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”.

Theo nhiều kiến giải của các nhà nghiên cứu, sử học và khảo cổ học, thời đại Hùng Vương trải qua bốn giai đoạn hình thành và phát triển kế tiếp nhau trong thời gian 2.621 năm như sau :

1-Giai đọan Phùng Nguyên : tồn tại vào khoảng nửa đầu thiên niên kỷ II trước CN, thuộc sơ kỳ thời đại đồng thau. Giai đoạn này chưa có công cụ bằng đồng.

2-Giai đoạn Đồng Dậu : ở vào khoảng nửa sau thiên niên kỷ II trước CN thuộc Trung kỳ thời đại đồng thau. Đây là giai đoạn phát triển kế tiếp và cao hơn giai đoạn Phùng Nguyên. Người thời đại Đồng Dậu vẫn dùng đồ đá trong sản xuất và đời sống là chủ yếu nhưng hiện vật bằng đồng thau đã chiếm gần 20% số công cụ và vũ khí. Kỹ thuật đồ gốm và luyện kim phát triển hơn.

3-Gia đoạn Gò Mun : tồn tại vào khoảng nửa đầu thiên niên kỷ I trước CN. Đặc điểm của giai đọan này là đồ đá giảm sút rõ rệt, chỉ chiếm lối 48% trong tổng số hiện vật, còn đồng thau chiếm tỷ lệ cao hơn.

4-Gia đoạn Đông Sơn : tồn tại trong khoảng thời gian từ thế kỷ thứ VII trước CN đến thế kỷ thứ I sau CN. Đây là giai đoạn chuyển tiếp từ sự phát triển rực rỡ của đồ đồng chuyển sang sơ kỳ đồ sắt.

Căn cứ vào các di tích khảo cổ học thuộc văn hóa Đông Sơn đã phát hiện được, người ta đã xác định được địa bàn cư trú của người Việt cổ ở nước Văn Lang tương ứng với vùng Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ của nước ta ngày nay, mà chủ yếu sống tập trung ở các đồng bằng thuộc lưu vực sông Hồng, sông Mã, sông Cả và một số ít sống rải rác dọc miền núi theo các thung lũng ở miền Bắc, miền Trung nước ta. (Địa bàn cư trú của người Việt cổ được xác định theo các di vật khảo cổ và các niên đại được tính theo lớp đất bên dưới bằng phương pháp khoa học : các bon phóng xạ C.14 từ trên 3.000 tới trên tới gần 4.000 +-100).

Trên cơ sở phân bố của các nền văn minh nói trên, ta xác định được cương vực cư trú và tương ứng với 15 bộ của nước Văn Lang, có nguồn gốc từ 15 bộ lạc sinh tồn trước đó. Theo sách Tiền Hán thư (Trung Quốc) do Ban Cố (năm 32-92) biên soạn tức sau thế kỷ I CN cho biết quận Giao Chỉ (đất Bắc Bộ) có 92.440 hộ gồm 746.237 nhân khẩu và quận Cửu Chân (đất Thanh, Nghệ, Tĩnh) có 35.743 hộ gồm 166.013 nhân khẩu. Dĩ nhiên, cư dân này ở thời đại Hùng Vương phải ít hơn nhiều, cách đó trên 200 năm.

Thời đại Hùng Vương bắt đầu trước đây 4.000 năm đã xuất hiện trong lịch sử Việt Nam một thời đại nói lên sức sống mãnh liệt, năng lực sáng tạo vĩ đại, sức mạnh đoàn kết chiến đấu chống ngoại xâm của dân tộc ta… Xã hội thời đại Hùng Vương với nền văn hóa đồng thau rực rỡ, với nền nông nghiệp và nghề luyện kim phát triển, đã phân chia giai cấp nhưng mâu thuẫn giai cấp không sâu sắc lắm. Các truyền thuyết của ta cho thấy các vua Hùng rất quan tâm tới đời sống của nhân dân (Sổ tay Báo cáo viên 2005, trang 154).

Trong xã hội thời đại Hùng Vương, số phận của cá nhân gắn chặt với số phận của tập thể. Tập thể này trước hết là làng xã. Làng xã là cơ sở tổ chức của xã hội thời đại Hùng Vương. Làng được bao bọc bởi lũy tre xanh. Lũy tre xanh là áo giáp che chở cho dân làng chống lại trộm cướp và ngoại xâm. Tục ngữ có câu :”Nghèo ở làng, sang ở nước”.

Đời sống của nhân dân nước Văn lang là đời sống của những người cần cù lao động và sinh hoạt giản dị (qua hình vẽ người nam và người nữ trên trống đồng). Cần cù lao động và sinh hoạt giản dị về sau đã trở thành truyền thống của dân tộc Việt Nam. Xã hội Văn lang là xã hội trong đó chế độ phụ quyền đã xác lập nhưng nhân dân có thói quen trọng phụ nữ. Tục tôn trọng phụ nữ vẫn được tiếp tục ở các thế kỷ sau, có thể mạnh hơn kể từ cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng (năm 40 sau CN).

Khi nghiên cứu những ngôi làng Việt cổ cách đây trên 4.000 năm, các nhà khảo cổ và lịch sử xác định là làng ngày nay có tên “chạ” (các tục ngữ : chung chạ, ăn chung ở chạ…) và “kẻ” (Kẻ Sét – nay là làng Thịnh Liệt, Kẻ Mơ – nay là Hoàng Mai, Kẻ Trầu – nay là Phù Lưu…) thời đại Hùng Vương còn lưu lại tới ngày nay.

Từ làng chạ Việt cổ là đơn vị xã hội, người dân Văn lang đã tổ chức sống thành gia đình là tế bào của xã hội cho tới ngày nay. Mỗi gia đình nhỏ có cuộc sống đầm ấm của mình trong môt ngôi nhà sàn, chưa có vách, sàn thấp, mái cong hình thuyền, thang lên đặt ở mặt trước (hình trên trống đồng), giữa sự chăm sóc giúp đỡ của cộng đồng làng chạ.

Gia đình nhỏ thời vua Hùng là tế bào của xã hội. Gia đình này bao gồm vợ chồng và những đứa con, đứa cháu sau thời kỳ công xã thị tộc dòng mẹ bắt đầu tan rã nhường cỗ cho chế độ quyền cha và gia đình dòng cha. Mặc dù có sự chuyển đổi quyền mẹ sang quyền cha nhưng không cực đoan và mâu thuẫn lớn. Môt tinh thần bình đẳng ngự trị trong quan hệ gia đình cũng như trong xã hội của người đàn ông và người đàn bà. Nhưng phụ quyền vẫn còn yếu, nhiều lúc người mẹ vẫn còn có vai trò tích cực trong gia đình như chịu sự chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trong khi người cha, người chồng vẫn là lao động chính, phải ra ngoài sản xuất, săn bắt, tham gia việc làng việc nước, nhất là bảo vệ xóm làng và chống ngoại xâm.

Lãnh đạo gia đình là người chồng đồng thời ý kiến của người vợ cũng có tác dụng quyết định. Thật tốt đẹp khi hai vợ chồng đều chung lưng kề vai để tham gia sản xuất nông nghiệp mang tính truyền thống lâu đời qua câu ca dao : “Chồng cày, vợ cấy, con trâu đi bừa” hay tục ngữ : “Đồng vợ đồng chồng, tát biển Đông cũng cạn !”

Hôn nhân thời ấy là “chế độ hôn nhân một vợ một chồng” đánh dấu sự hình thành những gia đình cá thể (ra ở riêng), những lứa đôi gắn bó với nhau một cách ổn định, khác với thời kỳ nguyên thủy, chế độ hôn nhân hỗn tạp với hình thức lỏng lẻo, tùy tiện. Thời Hùng Vương, sự tích Mị nương chọn lựa giữa Sơn Tinh và Thủy Tinh để lấy một chồng, nàng Tiên Dung ngẫu nhiên gặp Chữ Đồng tử tuy nghèo khổ nhưng vẫn lấy làm chồng do mình chọn đã minh chứng cho chế độ một vợ một chồng thời ấy (kể cả sự tích Trầu Cau) và con gái được tổ chức rước về nhà chồng như hiện nay là một truyền thống đậm đà bản sắc dân tộc.

Từ tiểu gia đình gồm vợ chồng, con cái lần lượt phát triển lên thành đại gia đình có thêm ông, bà rồi ông bà ngoại, ông bà nội. Ngày nay có thêm con, cháu, ông bà, cha mẹ trở thành tứ đại đường (gia đình lớn có bốn thế hệ). Khi đó, gia đình lớn vẫn tiếp tục sinh hoạt theo chế độ cha truyền con nối, quyền huynh thế phụ, chị ngã em nâng… Gia phong không thua phép nước mặc dù phép vua thua lệ làng. Ngày nay, xã hội và nền hành chính nước ta vẫn duy trì quản lý theo nguyên tắc phân quyền : trung ương và địa phương. Trung ương không can thiệp vào địa phương nhưng địa phương phải báo cáo, thỉnh thị theo quy hoạch và chỉ thị của trung ương theo hệ thống dọc và ngang thống nhất các ban ngành, đoàn thể..

Quyền lực của người già (quyền trưởng lão) là một thực tế phổ biến từ thời Hùng vương trải qua các thời đại sau này. Trong thời Hùng Vương, cơ quan quyền lực cao nhất của làng chạ cũng là Hội đồng bô lão gồm những ông bà già có uy tín trong dân, uy tín này được xây dựng bằng những bậc cao niên có nhiều thành tích sản xuất (Anh hùng lao động ngày nay), chiến đấu (Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân ngày nay) thời trai trẻ và những hoạt động quan tâm tới tập thể (mạnh thường quân có hằng tâm hằng sản)…Hội nghị Diên Hồng thời Trần là một truyền thống nêu cao vai trò của bô lão. Tiệc yến lão hay lễ thượng thọ…hàng năm thời phong kiến là những dịp tôn vinh các bậc cao niên đáng kính của nhà nước và xã hội có từ thời đại Hùng Vương.

Từ thời đại Hùng Vương, ý thức về nòi giống và tập thể cộng đồng đã dẫn người Việt cổ đến việc sùng bái trước hết là Tổ tiên và những người đứng đầu cộng đồng của mình, từng làng chạ đến gia đình và bộ tộc. Việc sùng bái các vị thủ lĩnh có công tổ chức, xây dựng và bảo vệ làng chạ, bộ tộc, gia đình đã khơi nguồn cho một truyền thống có ý nghĩa hay và đẹp nhất của dân tộc Việt Nam. Đó là truyền thống tưởng nhớ tổ tiên, nhất là tổ tiên là các vua Hùng lâu đời trở thành phong tục thờ cúng tổ tiên – giỗ Tổ hàng năm ngày mà tổ chức UNESCO của Liên Hợp Quốc đã công nhận Tín ngưỡng (thờ cúng) vua Hùng là di sản phi vật thể của dân tộc Việt Nam.

Tinh thần tín ngưỡng hay thờ cúng tổ tiên ở gia đình, làng xã và cộng đồng hay đất nước từ thời đại Hùng vương tới nay đã trở thành truyền thống “Uống nước nhớ nguồn”, “Đền ơn đáp nghĩa” vô cùng đẹp đẻ đậm đà bản sắc dân tộc.

Cùng với tổ tiên của dân tộc, làng chạ, gia đình, dòng tộc, tất cả những anh hùng văn hóa và anh hùng chống ngoại xâm đều được tôn thờ trong các đình, đền,. miếu mạo…rất trang trọng, trong đó có cả nữ thần kể từ Mẹ Âu Cơ trong thần thoại, tín ngưỡng dân gian đến hiện thực trong xã hội trải qua hàng ngàn năm lịch sử. Tục thờ cúng tổ tiên và sùng bái anh hùng dân tộc, ông bà, cha mẹ trong gia đình đã dẫn đến ý thức gia tộc, ý thức cộng đồng, tinh thần thương yêu đoàn kết và niềm tự hào về nguồn gốc về quê hương, đất tổ nơi mình sinh ra, lớn lên mà cần phải bảo vệ dù phải hy sinh đến tính mạng, tài sản.

Gia đạo, gia phong là nguồn gốc và giềng mối của gia đình, cộng đồng xã hội. Phép nước, pháp quy là uy quyền của nhà nước ai nấy đều phải tôn trọng để bảo đảm an ninh trật tự xã hội. (Thượng tôn pháp luật).

Ý thức dân tộc, tinh thần gia đình nói trên là nguồn gốc sức mạnh để cho người Việt Nam giữ nước và dựng nước trong thời đại Hùng Vương, để khẳng định sự tồn tại của đất nước trong thời Bắc thuộc, kháng chiến chống lại các cuộc xâm lược của các triều đại phong kiến phương Bắc, tiến tới kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ suốt hai ngàn năm lịch sử về sau và cả ngày nay vẫn luôn phải kiên trì, khéo léo và sáng tạo chống lại âm mưu diễn tiến hòa bình của các thế lực thù dịch trên đất liền một dải từ Bắc tới Nam và ngay cả ngoài biển Đông để tìm cách lấy lại quần đảo Hoàng Sa và thường xuyên bảo vệ quần đảo Trường Sa thân yêu.

_____________________________________________________



© Tác giả giữ bản quyền.
. Đăng ngày 30.03.2013 theo nguyên bản của tác giả chuyển từ Sài Gòn.
. TRÍCH ĐĂNG LẠI VUI LÒNG GHI RÕ NGUỒN NEWVIETART.COM .