VÀI KỶ NIỆM
VỚI NHÀ THƠ BÀNG BÁ LÂN


HUYỀN VIÊM

Quý vị đang nghe Sérénade của Schubert


LỜI TÁC GIẢ.- Sau khi bài “Nghĩ về một câu ca dao”của tôi đăng trên Newvietart, bạn Hồng Ngọc Thiện ở Hà Nội có gửi cho tôi một điện thư. Thư viết :“Tôi là người rất yêu thơ Bàng Bá Lân nhưng chưa có dịp gặp thì nhà thơ đã từ trần. Tiếc thay ! Anh quen thân với nhà thơ như vậy hẳn là có nhiều kỷ niệm. Anh có thể kể cho tôi và bạn đọc nghe vài ba kỷ niệm được không? Xin cảm ơn anh trước”.

Chiều ý bạn, tôi viết bài này.

          Huyền Viêm


Năm 1965. Một buổi chiều mùa hạ đẹp trời trước ngày nghỉ hè, anh chị em nhà giáo chúng tôi quây quần trong phòng giáo sư trường Lê Bảo Tịnh trên đường Trương Minh Giảng, một trường rất lớn ở Sài Gòn, vui vẻ nghĩ đến những ngày được nghỉ ngơi sắp tới sau một năm trời dạy học. Mọi người chuyện vãn râm ran, kẻ uống trà, người rít thuốc lào trong khi chờ đợi bữa tiệc chia tay hằng năm do nhà trường khoản đãi giáo sư và nhân viên như thường lệ.

Chợt anh Giám học Chu Đăng Sơn nhìn vào một người và vui vẻ hỏi :

- Thế nào, nhà thơ Bàng Bá Lân, anh có bài thơ mới nào ngâm lên cho anh em thưởng thức với chứ !

Bấy giờ tôi chưa biết Bàng Bá Lân. Anh này quay lại cười trừ :

- Dạy mệt bỏ xừ, làm gì còn thơ với thẩn !

Thì ra đó là tác giả “Tiếng thông reo”.

Anh Chu Đăng Sơn lại chỉ vào tôi và giới thiệu :

- Còn đây là Huyền Viêm, cũng là nhà thơ đấy.

Đồng thanh tương ứng, nhà thơ Bàng Bá Lân vui vẻ tiến đến nồng nhiệt bắt tay tôi :

- Tôi đọc thơ anh đã lâu trên các tạp chí Đời Mới, Phổ Thông, Thẩm Mỹ, Văn Nghệ Tiền Phong, tiếc rằng đến nay mới gặp.

Tôi quen Bàng Bá Lân từ đấy.

Thời gian sau, anh Lân mời tôi đến nhà chơi. Gia đình anh sống trong một căn nhà nhỏ có sân trồng cây cảnh ở đường Trương Quốc Dụng, quận Phú Nhuận. Anh làm việc cật lực, dạy nhiều trường để nuôi một gia đình đông con, cuộc sống của anh thanh bạch nhưng vui vẻ và ấm cúng. Vợ anh, chị Phạm Kim Thuần, là một phụ nữ rất tốt. Chị tất bật, tần tảo lo cho chồng, cho con hơn là nghĩ đến mình.

Bấy giờ giáo sư trường công dạy nghĩa vụ mỗi tuần chỉ 18 tiếng mà anh Lân gánh từ 40 đến 48 tiếng một tuần tại các tư thục, thời khóa biểu kín hết, chỉ trống ngày chủ nhật. Được cái là lương ở các tư thục rất cao, lương của một giáo sư trung bình tương đương từ một đến ba lượng vàng mỗi tháng tùy theo dạy nhiều hay ít, có tên tuổi hay không. Còn các giáo sư tầm cỡ như Nguyên Sa Trần Bích Lan (1) thì đi dạy bằng ô-tô là chuyện bình thường. Vì thế hồi đó nhiều giáo sư chê trường công, chỉ thích dạy trường tư và các giáo sư trường công cũng tìm cách kiếm giờ ở trường tư để dạy thêm vào những ngày rảnh rỗi.

Anh Lân nỗ lực làm việc trong năm bảy năm thì mua được nhà vì nhà ở Sài Gòn hồi ấy rất rẻ, chỉ vài chục lượng vàng đã có thể mua được một căn nhà mặt tiền khang trang, sạch đẹp. Từ đó chúng tôi thường đến thăm nhau để đàm đạo chuyện văn chương. Khi đã thân nhau rồi, chúng tôi thường rủ nhau ghé quán cà phê sau khi tan học buổi chiều. Một bữa, giữa lúc vui chuyện, anh đột ngột hỏi tôi :

- Trong số thơ tôi, anh thích bài nào nhất?

Câu hỏi thật khó trả lời vì tôi chưa bao giờ nghĩ đến. Tôi thật thà đáp :

- Thơ anh tôi thích nhiều bài : Cổng làng nè, Hồ Xuân Hương nè, Giai nhân nè...nhung khó mà nói thích bài nào nhất...... Như chợt nhớ ra điều gì, tôi ngừng lại :

- Nhưng bài gây cho tôi nhiều ấn tượng nhất là bài “Sông Thương”....

Không để tôi nói hết, anh nhổm dậy, reo lên :

- Vậy sao? Bài ấy tôi cũng rất thích, nhưng thất lạc đâu đó, tôi chưa tìm ra. Mà tôi cũng quên mất mấy câu. Anh có thể đọc cho tôi nghe không?

May là vì rất thích bài ấy, đọc nhiều lần nên thuộc, tôi bèn đọc cho anh nghe :

Một lá thuyền thơ thả tắm trăng,

Nước về đâu mãi, chảy xuôi dòng.

Sông Thương đôi ngả, này cô lái,

Hãy ghé cho vào bến nước trong ! (2)

Đôi mảnh hồn quê quá ngẩn ngơ,

Sinh nhầm thế kỷ, lạc tìm mơ.

Nhìn ra trời nước dềnh nghiêng ngả,

Say rượu hay là say ý thơ ?

Trời nước này đây hai mảnh trăng,

Vài ba lửa đốm ngỡ sao băng.

Đôi chèo vỗ sóng ngờ sênh phách,

Tưởng gái Tầm Dương ghé đãi đằng.

Có tiếng đêm dài khóc ở đâu,

Dế ven sông kéo nhị âu sầu.

Đôi bờ lăng lắng muôn tai lá,

Nước chở hồn sông dạt bãi dâu....

Anh lim dim đôi mắt, lắng nghe thơ mà hồn như mơ về tận sông Thương ở Bắc Giang, quê anh, một mùa thu cũ. Khi tôi ngừng lại, anh mở mắt ra, buông một tiếng thở dài. Bài thơ toát lên một nỗi buồn mênh mang sâu lắng.

Đến lượt tôi hỏi :

- Anh đọc nhiều thơ tôi, vậy anh thích bài nào nhất ?

Anh đáp, không cần suy nghĩ :

- Bài “Lá thư về Bắc” đăng trên tạp chí Đời Mới (3). Bài thơ gợi cho tôi tình hoài hương sâu sắc và khiến tôi nhớ tới Đinh Hùng.

Một buổi chiều thứ bảy gần Tết âm lịch năm Mậu Thân (1968), anh hẹn tôi sau giờ tan học buổi chiều ghé quán cà phê gần trường để nói chuyện thơ. Tôi ngồi ở phòng giáo sư chờ anh mãi nhưng không thấy. Chuông tan học đã lâu mà anh vẫn chưa xuống. Năm giờ, 5 giờ 15 rồi 5 giờ 30 mới thấy anh lò dò xuống, rối rít xin lỗi tôi vì đã trễ hẹn mất nửa giờ. Hỏi ra mới biết hôm ấy anh dạy Việt văn lớp 12, đến đoạn Kiều ở lầu Ngưng Bích, anh say sưa giảng quá giờ mà không hay, đến khi học trò nhắc anh mới sực tỉnh. Chả là nhà trường có hậu ý bố trí cho các lớp 12 sắp thi tú tài học trên lầu cao nhất để tránh tiếng ồn ào ở dưới sân, vì thế nhiều khi chuông reo mà thầy trò không nghe. Mê văn chương như anh kể cũng hiếm.

Thấm thoắt đã đến ngày Sài Gòn giải phóng. Bấy giờ các nhà giáo chúng tôi chỉ được đăng ký dạy tai một trường, chứ không được dạy nhiều trường như trước nữa. Anh và tôi cùng đăng ký dạy tại trường Hưng Đạo (nay đổi tên thành trường Chu Văn An) ở đường Cống Quỳnh, quận I, một trường lớn vào bậc nhất Sài Gòn vì trước đó chúng tôi đã từng dạy ở đây.

Những năm đầu sau giải phóng, lương hướng nhà giáo thật khiêm tốn, đời sống thiếu thốn là chuyện tất nhiên. Năm 1978 còn sống dưới chế độ bao cấp, tình hình kinh tế rất khó khăn, các nhu yếu phẩm đều được phân phối đến từng người.

Một hôm, ban đời sống của nhà trường thông báo mới nhận được một số lốp (vỏ) xe đạp được phân phối, nhưng hàng ít, người đông nên phải bốc thăm vào chiều hôm sau. Chẳng may hôm ấy anh Lân bị ốm, nên nhờ tôi bốc thăm hộ. Lần thứ nhất bốc thăm cho tôi : thăm trắng ! Lần thứ hai bốc thăm cho anh thì thăm trúng. Hai hôm sau, anh đi dạy lại, tôi trao cái lốp xe cho anh, anh mừng rỡ, mắt sáng lên khiến tôi vô cùng cảm động, Ngày nay cái lốp xe

đạp có đáng gì nhưng hồi ấy rất quí đối với bọn nhà giáo chúng tôi vì xăng được phân phối mỗi tháng chỉ có 3 lít, còn chợ đen thì bán giá trên trời nên xe máy đành phải trùm mền, chỉ còn biết dùng xe đạp.

Bàng Bá Lân cũng là người có tính hài hước. Năm 1985, trong một buổi họp mặt các nhà giáo còn dạy hay đã nghỉ, vốn là bạn cũ của nhau, anh Phan Văn Đức than phiền :

- Không hiểu sao ngày nay học trò hỗn láo quá, chẳng coi thầy cô ra gì cả. Còn đâu là tinh thần “tôn sư trọng đạo”....

Anh Lân chợt ngắt lời :

- Anh nói sai rồi. Phải nói là “tôn viên trọng đạo” mới đúng chứ !

- Tại sao ?

- Anh không thấy ư ? Hiện nay trong cả nước, hơn chín chục phần trăm là giáo viên, còn không đầy mười phần trăm là giáo sư, vậy theo đa số phải nói là “tôn viên trọng đạo”.

Mọi người phá ra cười.

Hôm khác, trong lúc cùng các bạn ngồi uống cà phê, nhân bàn về nghề nghiệp và đời sống giáo viên, anh Lân nói :

- Nghĩ cũng kỳ : học ở trường không có “ ”, khi ra đời lại thành “ ” (học luật ra luật , học dược ra dược ), còn học trường có “” hẳn hoi, khi ra đời lại mất “ ” (học phạm ra đời thành giáo viên).

Ai nấy cùng cười. Bàng Bá Lân là vậy đó. Làm thơ hay, rất vui tính, tử tế và thân mật với bạn bè nên ai cũng mến. Thấm thoắt mà anh bỏ chúng ta đến hơn hai chục năm rồi. Mỗi lần nghĩ tới anh là tôi nhớ đến một nhà thơ tài hoa, một nhà giáo nghiêm túc với vầng trán cao, đôi mắt sáng, nụ cười hiền dễ gây thiện cảm với mọi người.

Hôm đưa đám anh, các nhà giáo và học sinh đưa tiễn khá đông. Lướt qua hàng nữ sinh, tôi ngước nhìn lên thì thấy trên mắt các em long lanh hai hàng lệ. Ai nấy đều ngậm ngùi thương tiếc một nhà giáo tâm huyết, một nhà thơ có tài mà không được nằm xuống ở quê hương, nơi có dòng sông Thương thơ mộng mà anh từng mến yêu và ca ngợi.

_________________________________________________

(1) Nguyên Sa Trần Bích Lan : Hiệu trưởng trường Văn Học, tác giả bài thơ “Áo lụa Hà Đông” với hai câu thơ nổi tiếng :
                  Nắng Sài Gòn anh đi mà chợt mát
                  Bởi vì em mặc áo lụa Hà Đông

(2) Con sông Thương nước chảy đôi dòng, một bên đục, một bên trong.
(3) Bài thơ này có đăng trên Newvietart.

MỘT BÀI THƠ HAY CỦA BÀNG BÁ LÂN

G I A I N H Â N

Giai nhân nan tái đắc

Lý Diên Niên

“Thư trung hữu nữ nhan như ngọc” (*),

Đọc sách mười năm chẳng gặp mình.

Chỉ thấy những tên xinh đẹp quá :

Tây Thi, Bao Tự, Thôi Oanh Oanh.

Ta thả hồn si lạc bốn trời,

Đi tìm người đẹp khắp nơi nơi.

Biết bao mong đợi, bao thương nhớ,

Mơ vẫn hoàn mơ, ôi lẻ loi !

Nhưng một chiều thu nắng trải vàng,

Trời xanh mây bạc lượn lang thang.

Ta đi tìm hứng trên hè phố

Rẽ một đường quanh, bỗng gặp... Nàng !

Từ đáy lòng ta thốt tiếng “Ôi !”,

Có chi đổ vỡ ở trong người.

Tay chân bủn rủn, hồn ngây ngất,

E lệ trào lên cả mắt môi !

Tóc biếc mây nhường, trán sáng cao,

Môi son he hé nụ anh đào.

Cổ thiên nga nõn, hàm răng ngọc,

Mũi thẳng, cằm thon, mắt ánh sao.

Nàng chỉ nhìn ta một thoáng nhanh

Mà như trao gửi biết bao tình.

Ngã ba sắp khuất, còn quay lại :

Một liếc xiêu xiêu cả vạn thành !

Ôi ! Kiếp con tằm, kiếp nhả tơ,

Bao năm tìm kiếm, gặp tình cờ,

Để mà mơ ước, mà thương tiếc :

Em lấy chồng, anh mãi dệt thơ !

Muôn đời thi sĩ với giai nhân

Gặp gỡ dù cho chỉ một lần,

Thơ mộng ngàn năm vang bóng mãi,

Cho ngàn năm mãi mãi bâng khuâng !

BÀNG BÁ LÂN

(Trong tập “Vào thu”)


(*) Thư trung hữu nữ nhan như ngọc : trong sách có cô gái mặt đẹp như ngọc
© Tác giả giữ bản quyền.
. Cập nhật ngày 23.03.2013 theo nguyên bản của tác giả chuyển từ SaìGòn .
. Đăng tải lại vui lòng ghi rõ nguồn Newvietart.com