TỪ TU THIỀN ĐẾN TU PHẬT



Quý vị đang nghe Piano Concerto N°3 của L.Beethoven


CHƯƠNG VIII
PHẦN KẾT LUẬN


Đạo Phật sở dĩ được nhiều người, nhiều thời mến mộ bởi các đức TỪ, BI, HỈ, XẢ. Pháp của Đạo Phật được gọi là CHÁNH PHÁP bởi Hạnh Thường Bất Khinh Bồ Tát, bởi không còn Ngã chấp, Pháp chấp. Người tu Phật chân chính lúc nào cũng Thu thúc Lục Căn, nên Thân, Khẩu, Ý Ba Nghiệp thanh tịnh. Cuộc sống GIỮ GIỚI, hành theo Bát Chánh Đạo. Không nói những lời phô trương, không chứng đắc mà khoe chứng đắc hay bằng cách nọ cách kia để người khác tưởng rằng mình là thánh nhân giáng trần, mục đích cầu danh, cầu lợi. Ý thức rằng cuộc sống không trường tồn, nên không màng danh lợi, cao, thấp, hơn thua. Nhất là ý thức Nhân Quả, nên không lấn người, không hại vật để mưu cầu lợi ích bản thân.

Người tu Phật xem cái Thân như oán tặc, chỉ dùng nó như phương tiện để qua sông Sinh tử. Không để cho cái thân làm chủ mình để chìu theo những đòi hỏi của nó, mà làm chủ nó, điều khiển nó, như lời Kinh Đại bát Niết Bàn: “Như người ở giữa biển, ôm thây ma để bơi vô bờ”. Công phu tu hành buổi đầu là phải Thiền Định, tập trung Thân, Tâm mà Soi, Quán để TÌM cái VỌNG TÂM. Thấy được cái VỌNG TÂM đồng thời sẽ thấy được cái CHÂN TÂM hay là BỔN THỂ TÂM hay THẤY TÁNH, mà có vị đã diễn tả bằng những bức tranh trong “Thập mục ngưu đồ”. Tức là đầu tiên phải biết mục tiêu cần tìm là cái VỌNG TÂM, tượng trưng cho con trâu. Kiên trì theo dấu nó. Khi tìm được thì khống chế nó, chăn dắt nó, để nó không còn phá hư lúa mạ. Khi việc điều phục con trâu xong rồi thì thỏng tay vào chợ, tức lúc đó con trâu đã được thuần hóa, không còn phá phách nữa. Cuối cùng là không còn người, cũng không còn trâu, để nói về sự Giải Thoát.

Do vậy, chư Tổ đều dạy, việc tu hành bắt buộc phải đi qua ngưỡng cửa Thấy TÁNH, tức là phải nhận biết CÁI BỔN TÂM CỦA MÌNH. Từ cái THẤY TÁNH này, họ sẽ điều phục cái VỌNG TÂM để cho nó hết MÊ LẦM. Bởi chính vì Mê Lầm mà nó đã chấp lầm cái thân Tứ Đại Nghiệp quả này cho đó là TA, từ đó mà tạo Nghiệp để hiện đời không được an ổn, kiếp sau lại sẽ theo Nhân Quả mà đọa vào Sáu Nẻo Luân Hồi. Mục đích tu Phật là để chấm dứt chuỗi Luân Hồi đó. Cho nên, người tu phải điều phục cái Tâm, hay còn gọi là “làm Bồ Tát Hạnh”, tức là “Độ Sinh”, độ cho những tư tưởng còn u mê của mình, cho tới lúc được hoàn toàn Giải Thoát.

Trong cái Giải Thoát đó cũng Giải Thoát luôn cái Ngã Chấp, tức là Không còn Chấp Cái Ta. Nhưng đa phần các Thiền Sư đều làm ngược lại: Chẳng những có Ta, mà còn có Ta cao Phật phải thấp hơn họ thì họ mới hài lòng. Ngài Nguyệt Khê thì đẻ ra Cõi TUYỆT ĐỐI, và cho là “Cõi tuyệt đối không phải là chỗ mà ngữ ngôn văn tự có thể biểu tượng được, cho dù với trí huệ của Phật Thích Ca”.(Đại Thừa Tuyệt Đối Luận, dịch giả Đặng Hữu Trí tr. 85).

Phật Thích Ca thì không luận nổi Cõi Tuyệt Đối, trong khi Ngài Nguyệt Khê viết Tuyệt Đối Luận dài cả mấy tập! Xem ra Ngài Nguyệt Khê đúng là siêu hơn Đức Thích Ca rồi! Cũng giống như Ngài Nguyệt Khê, Thiền Sư Suzuki cho là “Phật Thích Ca, và về sau là Thế Thân, Long Thọ cũng không thể nói về Giác Ngộ hết lời, cạn ý”. Có điều giáo pháp của Phật Thích Ca và Chư Tổ thì dắt người sau đến được Giác Ngộ, còn Luận của hai Ngài không thể dắt người sau đi tới cảnh giới tối cao mà họ mô tả được!

Kinh DUY MA CẬT viết: “Trong Phật Pháp, người có chứng đắc là kẻ tăng thượng mạn”, vì chứng đắc của Đạo Phật là “đắc cái Vô sở đắc”, tức đắc cái không còn Ta Đắc. Đã Không còn TA đắc thì lấy ai mà cao hơn người? Hơn nữa, lẽ ra NẾU CÁC VỊ THIỀN SƯ ĐÓ THẬT SỰ ĐẮC ĐƯỢC CHỮ VÔ, thì Tâm của họ phải như hư không mới phải. Đàng này, Lý một nơi, Sự một nẻo, nên hành vi, lời nói các vị toàn là CÓ, hoàn toàn trái với thái độ Từ Bi, Nhẫn Nhục, Thường Bất Khinh Bồ Tát của đệ tử Phật Môn!

Lý do vì sao họ lại có những lời lẽ, cử chỉ thì chúng ta có thể phân tích để thấy phần nào:

1/- Do hiểu lầm về mục đích và phương tiện của Đạo Phật.

Ai cũng biết Đức Thích Ca rời bỏ hoàng cung – sau này gọi là xuất gia – là do thấy nỗi Khổ SINH, LÃO, BỊNH, TỬ đè nặng lên thân xác con người nên Ngài mới phát tâm đi tìm cách Thoát khỏi cảnh đó. Sáu năm tu hành theo ngoại đạo, hành bao nhiêu khổ hạnh mà không thấy được điều mình muốn tìm, nên Ngài đã Ngồi Thiền Định 49 ngày đêm. Cuối cùng đã thấy được lý do vì sao mà con người phải bị Sinh Tử Luân Hồi cũng như cách thức để hóa giải gọi là “đắc đạo”, tức là “gặp được con đường”. Như vậy, Đức Thích Ca Ngồi Thiền là để tìm thủ phạm đã gây ra Sinh Tử Luân Hồi. Pháp của Ngài “Đắc” là tìm được thủ phạm gây ra Sinh Tử Luân Hồi và cách thức để hóa giải.

Khi thấy được nguyên nhân của Sinh Tử Luân Hồi thì Ngài thấy rằng thủ phạm chính là cái VỌNG TÂM của mỗi chúng ta. Chính nó vì MÊ LẦM, thấy CÁI THÂN giả tạm là MÌNH, nên tạo bao nhiêu nghiệp chướng, để rồi bị Nghiệp lôi kéo mà phải triền miên hết Tử, lại Sinh, vòng quanh trong 6 nẻo là: Địa Ngục, Ngạ Quỷ, Súc Sinh, Nhân, Atula, Thiên, gọi là LUÂN HỒI. Vì thế, muốn Thoát vòng Luân Hồi này, Ngài đặt ra 6 phương tiện gồm: BỐ THÍ, TRÌ GIỚI, NHẪN NHỤC, TINH TẤN, THIỀN ĐỊNH và TRÍ HUỆ và dùng cả cuộc đời còn lại để rao giảng con đường mà Ngài khám phá ra đó. Con đường đó gọi là Con đường Giải Thoát. Giải Thoát có nghĩa là PHẬT. Con đường là ĐẠO, nên gọi tắt là ĐẠO PHẬT. Thành tựu công việc Tự Giải Thoát được gọi là Thành Phật. Tất cả mọi người, không phân biệt già, trẻ, giới tính, ngu, trí, sang, hèn, nếu chấp nhận, hành trì theo phương pháp Ngài đặt ra cũng sẽ đạt được giống như Ngài; vì thế, Ngài đã Thọ Ký: “Ta là Phật đã thành, chúng sinh là Phật sẽ thành”.

Đạo Phật có rất nhiều phương tiện, nhưng để tiến tới giai đoạn “Thành Phật” là bắt buộc phải THẤY TÁNH nên có câu “Kiến Tánh Thành Phật”. THẤY TÁNH không phải là để thành một vị Thần Linh nào đó, mà chỉ là NHẬN RA CÁI BẢN CHẤT THẬT SỰ CỦA MÌNH. Biết rằng MÌNH không phải là cái Thân Tứ Đại giả tạm này, mà là phần vô tướng, đi chung với cái Thân cho đến khi nó hết nghiệp, hư hoại, trở về với tứ Đại. Cái CHÂN TÁNH này trường tồn, bất diệt, mỗi người đều có. Biết cách tìm thì sẽ gặp. Cái này cũng gọi là CÁI CHÂN TÂM hay BỔN THỂ TÂM.

Người tu hành chân chính phải là người thấy cuộc đời là Khổ, nên phát tâm tu hành để cầu THOÁT KHỔ. Mục đích duy nhất, là được Thoát Khổ, cho nên không đòi hỏi quả vị, không hơn thua, so sánh với người khác, chỉ biết lo tìm cái Vọng Tâm của mình rồi điều phục nó. Để làm được điều này, họ phải tuân thủ theo các phương pháp mà Phật đặt ra. Phải có GIỚI, cuộc sống phải đi trong BÁT CHÁNH ĐẠO. Mọi công phu là để tìm ra cái TÂM MÊ, gột rửa nó, để nó trở lại tình trạng thanh tịnh như vốn có từ vô thỉ.

Phái THIỀN TÔNG xuất phát từ Đạo Phật, nên họ cũng loáng thoáng nghe những điều này. Họ cũng biết Đức THÍCH CA nhờ Ngồi Thiền mà đắc đạo, nên cố sống cố chết Tham Công Án để chứng đắc! Nhưng cái họ lầm lớn nhất là tưởng Thành Phật là thành một vị Thần Linh, cứu nhân độ cả Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới như trong Kinh Đức Phật đã dùng phương tiện, chỉ bên ngoài để nói về sự cứu độ bên trong. Chính vì sự lầm tưởng đó nên các Thiền Sư ngày xưa vị nào cũng cho là khi chứng đắc là sẽ cao hơn Phật!

Họ cũng biết là muốn Thành Phật thì phải qua giai đoạn Thấy Tánh. Biết rằng phải Quán sát các pháp. Biết rằng Đạo Phật đưa con người từ CHẤP CÓ, đến cái KHÔNG. Khi không còn chấp nữa, thì sẽ được Giải Thoát, nên họ đốt giai đoạn, vừa vào tu học Thầy đã cho THAM CHỮ VÔ, bỏ qua những hạnh khác. Khi thấy được chữ VÔ lại tưởng lầm là THẤY TÁNH, rồi tưởng Thấy Tánh là Thành Phật nên kiêu mạn!

Họ không biết Phật dạy: “Như biển cả chỉ có một vị mặn, đạo của ta cũng chỉ có một vị là Giải Thoát mà thôi”, và họ cũng không biết là CÁI KHÔNG chưa phải là ý nghĩa cuối cùng của Đạo Phật. Bởi vì sau đó Phật còn giảng tiếp để đi đến rốt ráo của các pháp là: “KHÔNG PHẢI CÓ, KHÔNG PHẢI KHÔNG, MÀ CŨNG CÓ, CŨNG KHÔNG”, tức là CON ĐƯỜNG TRUNG ĐẠO. Con đường này mới làm cho người tu Sống giữa các pháp mà Thoát Các Pháp. Đó mới kết quả thật sự của Đạo Phật chân chính.

Mọi Mê, Ngộ, Thánh, Phàm đều do cái Tâm, cho nên Tu Phật là phải SỬA ở đó gọi là TU TÂM. Vì thế ĐỐN GIÁO là phương tiện chỉ thẳng cái TÂM, để người tu biết MÊ ở đó thì NGỘ cũng ở đó. Tập trung hành trì ở đó, thay vì vòng quanh tụng kinh, gõ mõ, chay lạt, ngồi Thiền, cạo tóc, đắp y vv... gọi là Tiệm Giáo.

2/- Gán ghép hai trường hợp được Ấn chứng với phương pháp truyền dạy của phái Tu Thiền.

a)- Khi Đức Thích Ca trước chúng đưa cành Hoa Sen lên, đại chúng đều ngơ ngác, không hiểu Ngài muốn nói gì? Chỉ riêng Ngài Ca Diếp mỉm cười và được Đức Thích Ca Truyền Y Bát. Thế là những người chuyên Tu Thiền vin vào đó để cho rằng cho CÁI CƯỜI đó là “ĐỐN GIÁO”. Họ không cần xem lại lịch sử truyền đạo của Đức Thích Ca để thấy Ngài Ca Diếp là một trong những đệ tử đầu tiên theo Đức Thích Ca nghe pháp. Nhờ nhiều năm theo hầu Phật để học hỏi, thực hành, nên biết rõ mục đích của Đạo Phật. Ngài hiểu rằng dù Đức Thích Ca dùng bao nhiêu phương tiện: nào là Quả Vị, nào là Tây Phương Cực Lạc đầy dẫy 7 báu, Đông Phương Tịnh Quốc, Phật Quốc. Chư Bồ Tát bay lướt mười phương hay Ngài Quán Thế Âm luôn lắng nghe tiếng kêu của chúng sinh để cứu độ vv... Mục đích chỉ là để dụ cho con người ham thích, rồi mong về đó mà thực hành theo những điều kiện đưa ra, để bớt đắm đuối vào cảnh trần, mà được Thoát Khổ, được như Hoa Sen, sinh ra, lớn lên từ bùn, mà không bị bùn nhơ làm cho ô nhiễm. Vì thế, khi thấy Đức Thích Ca đưa cành Hoa Sen lên, Ngài Ca Diếp mỉm cười để tỏ ý là Ngài đã thấu triệt những gì Đức Thích Ca muốn hướng con người tới. Vì vậy, Đức Thích Ca đã Truyền Y Bát cho Ngài thay mặt thống lãnh đồ chúng. Đâu có phải vừa gặp Phật một ngày hay hai ba tháng đã được Truyền Y Bát mà cho là “ĐỐN”? Ngài Anan thuộc pháp của Phật làu làu như “nước trong bình đổ ra không sót một giọt” còn không được truyền, vì Hạnh chưa đầy đủ. Lẽ nào chỉ cần CƯỜI mà được? Chứng tỏ người kết luận “nhờ CƯỜI mà được truyền Y Bát” là hoàn toàn không hiểu gì về việc Truyền Y Bát của Đạo Phật.

b)- Hiểu lầm về trường hợp Thần Hội khi gặp Lục Tổ bị đánh 3 gậy. Sau đó, khi Lục Tổ tịch rồi thì đứng lên thay Ngài để hoằng hóa Phật Pháp thì cho rằng GẬY đó là “Đốn Giáo”

Theo Pháp Bảo Đàn Kinh thì trước khi đến gặp Lục Tổ thì Thần Hội đã là Sa Di bên Chùa của Sư Thần Tú được 9 năm. Có lẽ cũng có nghe sư Thần Tú nói rằng “Ngồi Thiền thì Thấy Tánh”, nên đã vặn hỏi Lục Tổ “Hòa thượng ngồi Thiền, thấy hay chẳng thấy?” Lục Tổ muốn khai mở cho y, mới đánh Y ba gậy. Sau đó, Thần Hội ăn năn, lạy Tổ hơn trăm lạy để xin lỗi và tiếp tục theo học với Lục Tổ. Đến mười sáu năm sau, khi Tổ viên tịch mới đứng ra hoằng pháp. Đâu phải vừa gặp Tổ bị đánh 3 gậy đã Thấy Tánh? Như vậy sao gọi Gậy đó là “ĐỐN GIÁO” được? Việc Phật đưa cành Sen lên và Lục Tổ đánh Thần Hội 3 gậy liên quan gì tới việc các Thiền Sư đưa Thiết trượng hay Phất Thủ lên xuống, hoặc đưa ngón tay lên? Ngoài những cử chỉ đó, các Thiền Sư có nói thêm điều gì đâu mà Ngài Suzuki cho là “Chỉ Thẳng”?

Thế Tôn “cầm hoa” để nói với người đã học, đã thông suốt con đường tu hành là Đức Ca Diếp. Các Thiền Sư cầm Phất thủ hay thiết trượng đưa xuống đưa lên để nói gì với người chưa hiểu gì về Đạo?

3/- Hiểu lầm câu “làm thầy cõi trời và cõi người”.

Câu “là thầy cõi trời và cõi người” nằm trong lời NGŨ TỔ dạy, nguyên văn như sau: “Nếu chẳng biết Bổn Tâm thì học pháp vô ích. Bằng biết Bổn tâm và Thấy Bổn Tánh mình, tức gọi lả trượng phu, là thầy cõi trời và cõi người vậy”. Điều kiện đã được Ngũ Tổ nói rất rõ: Phải Biết BỔN TÂM và THẤY BỔN TÁNH. Trong khi đó, phái Tu Thiền không hề Biết được Bổn Tâm, cũng chẳng Thấy Bổn Tánh. Chỉ thấy được chữ VÔ cũng tự cho là “làm thầy cõi trời, cõi người”! Quả là “báng Kinh, nhạo Pháp!

Mặt khác, “cõi trời và cõi người” mà Ngũ Tổ dạy đó là nằm ở trong Tâm của người tu. Mỗi người khi tu hành đều phải làm công việc “giáo hóa” hay là “điều phục chúng sinh”. Phật dạy Lục Đạo chúng sinh trong nội tâm của người tu, không phải ở bên ngoài. Nhưng phái Tu Thiền đã hiểu sai, nên khi tưởng rằng mình chứng đắc thì nghĩ là sẽ “làm thầy của cõi trời, cõi người” bên ngoài, đâm ra kiêu mạn! Điều đó chứng tỏ vì không hiểu lời Tổ, cũng không hiểu Phật Pháp, chỉ nghe loáng thoáng đã chấp lấy, nên họ hoàn toàn đi ngược lại với con đường tu Phật chân chính.

4/- Hiểu lầm câu “Phùng Phật Sát Phật”

Câu “Phùng Phật Sát Phật” của chư vị đi trước mang ý nghĩa như sau: Trên con đường tu hành, Đức Phật đặt ra nhiều phương tiện, trong đó có những cách hành trì mà theo đó người hành sẽ đắc quả Tu Đà Hoàn, A Na Hàm, A La Hán cho đến Bồ Tát, Phật vv... Nhưng Kinh Diệu Pháp Liên Hoa đã giải thích rõ: Quả Vị chỉ là Hóa Thành cho người lười mỏi nghỉ ngơi, sợ họ tu lâu quá mà chẳng thấy được gì đâm ra nản lòng. Vì tu Phật là để được Giải Thoát, không phải là để đắc Quả. Vì thế, người nào còn thấy có mình chứng đắc là người đó chưa thật sự chứng đắc theo Đạo Phật. Vì “Đắc” của Đạo Phật là “Đắc cái VÔ SỞ ĐẮC”. Cho nên, người nào tu mà hành trì miên mật cho đến thấy mình đắc quả Phật, thì phải lập tức Sát cái Phật đó đi. Tức là dẹp ngay cái ý tưởng chứng đắc của chính mình đi. Vì giờ phút nào còn mang tư tưởng đó là cái NGÃ CHẤP chưa trừ dứt. Nếu cứ ai đắc quả Phật rồi nghe lời Ngài Vô Môn, đi kiếm Phật khác mà giết, thì hóa ra tu hành là để trở thành Sát thủ hay sao?! Bao nhiêu đó cho ta thấy cái hiểu Phật Pháp của các Thiền Sư rất là ít ỏi! Họ chê Kinh là văn tự, nên không đọc, vì thế không thể phân biệt đâu là NGHĨA để y theo. Do đó, họ hoàn toàn Y NGỮ!

5/- PHẢN THẦY, TỔ

Môn THIỀN ĐỊNH đầu tiên không phải do Đức Thích Ca sáng lập. Nhưng chính Ngài nhờ vào Thiền Định mà đắc đạo, rồi từ đó mà Thiền Định được truyền dần xuống tới Tổ Đạt Ma rồi mới đến Tổ Huệ Năng. Thế mà phái Tu Thiền gạt bỏ Đức Thích Ca ra, chỉ chấp nhận Tổ Đạt Ma và Lục Tổ Huệ Năng cho đó là hai Sơ Tổ của pháp môn Tu Thiền. Thế nhưng khi thực hành thì họ cũng chẳng làm giống như hai Ngài đã giảng dạy về Thiền mà Sáu Cửa vào Động Thiếu thất và Pháp Bảo Đàn Kinh còn lưu lại! Nói rằng Tu Thiền là do Người Trung Hoa sáng tạo, nhưng lại vay mượn Công Án “Thế Tôn cầm hoa” và “Lục Tổ đánh Thần Hội”. Cho đó là “Đốn Giáo”, lấy đó làm tôn chỉ cho Pháp môn TU THIỀN. Nhưng Tổ chính thức của Ngũ Phái Thiền là Hạnh Tư Thiền Sư và Nam Nhạc đâu có bị Lục Tổ đánh gậy nào khi tu học? Tóm lại, họ toàn vay mượn, gán ghép, mục đích đề cao pháp môn Tu Thiền. Mượn phương tiện Thiền Định của Đạo Phật từ Người Ấn Độ do Tổ Đạt Ma truyền sang, sau đó chối bỏ, cho “TU THIỀN là đặc thù của người Trung Quốc”!

Học với Thầy rồi khi thấy mình chứng đắc trở lại chối bỏ hoặc chê, mắng Thầy, Tổ. Đó chẳng là phản thầy sao? Trong khi người tu Phật được dạy phải đền TỨ ÂN, trong đó có Ân cha mẹ, Ân Phật, Ân Thầy, Ân đất nước. Vì người có tu hành chứng đắc cao đến cỡ nào thì vẫn phải mặc áo, ăn cơm, cũng vẫn là một người con của cha mẹ, là một công dân đối với đất nước, xã hội, lo dốc sức báo đền còn chưa đủ! Suy ra đạo lý làm người họ còn chưa tròn.

6/- Thầy, trò bên Tu Phật và Tu Thiền

Người Thầy bên tu Phật chân chính được Phật, Tổ dặn dò phải THẤY TÁNH mới được giảng dạy. Khi giảng lại phải dùng thanh luận, lời nói phải thanh tao. Thái độ phải đúng mực. Cuộc sống phải không tỳ vết để người ta kính trọng Thầy mà trọng pháp của Thầy. Không được ẩn dấu Chánh Pháp. “Thấy người hỏi pháp cũng như thầy lành”, vì xem đó là cơ hội để chính mình cũng có dịp soi sáng thêm.

Người học khi hỏi pháp phải “Ba lần thưa thỉnh, năm vóc sát đất” trong ý nghĩa là dẹp bỏ Cái Ngã Chấp, hạ mình xuống để học hỏi.

Đức Phật từ lúc đắc đạo thì giảng pháp cho đến cuối đời. Khi gần nhập diệt còn thông báo để mọi người ai còn thắc mắc gì thì đến hỏi. Lục Tổ trước khi ra đi cũng tóm tắt cách thức để truyền pháp cho đệ tử.

Ngược lại, người Thầy phía bên Tu Thiền thì “hét, đánh, đạp, lấy gậy đập, đóng cửa cho kẹt chân, xô trò ngã xuống chân tường, mắng nhiếc, nói vu vơ, lấy gậy hay thiết trượng đưa xuống, đưa lên hay quăng đi. Đưa ngón tay lên. Trò hỏi đúng thì trả lời không được, nên nói nhại, im lặng, lý luận vòng tròn”...

Trò đắc pháp rồi thì đánh Thầy, tát thầy, gọi thầy bằng “lão già”. Ngôn ngữ ngạo mạn như thế mà cũng là Thiền Sư! So ra còn thua người đời vì người đời dù là phàm phu, chẳng tu hành gì mà còn biết dạy nhau: “Kính lão đắc thọ”, “Kính thầy mới được làm thầy”!

7- So sánh cái CHỨNG ĐẮC của người TU PHẬT và người TU THIỀN

Mục đích của Đạo Phật là để ĐỘ KHỔ. Tu Phật là để Thoát Khổ. Cái Chứng đắc của người tu theo Đạo Phật là Thấy Tánh hay thấy cái BỔN THỂ TÂM.

Cái Chứng đắc của người tu Thiền chỉ là Ngộ được CÔNG ÁN! Đa phần chỉ là chữ VÔ hay một Công Án vu vơ nào đó.

8/- So sánh cách Soi, Quán của người Tu Phật và Tham Công Án của người Tu Thiền

Người tu Phật khi Soi, Quán, thì “nội quang phản chiếu”, tức là soi vào trong TÂM để thấy cái xấu mà chuyển hóa nó cho tốt hơn, gọi là TU TÂM. Ngược lại, phải TU THIỀN toàn đưa những Công Án SOI RA. Tìm “Kẻ niệm Phật là ai?”, “Con chó có Phật Tính không?”, “Tổ Sư Tây Lai Ý”, “Tại sao tên Hồ không có râu?”, “Tiếng vỗ của bàn tay”, “Hề Trọng chế xe”, “Bà lão ở Ngũ Đài sơn”, “Hai tăng cuốn rèm”, “Cô Thanh lìa hồn”… không ăn nhập gì tới con đường tu hành.

Theo luật Nhân Quả. Tìm gì thì đắc nấy. Họ có tìm Phật đâu mà đòi gặp Phật? Có tu Hạnh của Phật đâu mà đòi đắc quả Phật?

9.- Gọi phương pháp TU THIỀN là TRUYỀN TÂM ẤN là hoàn toàn không đúng

Tu theo Đạo Phật gọi là TU TÂM. Người thấy đi trước đã thấy được BỔN THỂ TÂM nên truyền lại cho người sau cách thức để Thấy như mình, gọi là DÙNG TÂM ẤN TÂM hay là TÂM TRUYỀN TÂM, hay là TRUYỀN TÂM ẤN. Ngược lại, người TU THIỀN không hề áp dụng những phương pháp của người tu Phật. Không điều phục Vọng Tâm. Không Quán, Soi các pháp. Chỉ dùng CÔNG ÁN để truyền nhau, trong đó không có Công Án nào nói về Tìm Tâm hay Tu Tâm. Như thế, nếu nói cho đúng thì phải gọi giới Tu Thiền là TRUYỀN CÔNG ÁN cho nhau thì mới đúng. Có dạy nhau TÌM TÂM đâu mà gọi là TRUYỀN TÂM? Rõ ràng là họ dùng lầm từ!

10.- So sánh cách Thực hành Thiền Định giữa Tu Phật và Tu Thiền

THIỀN ĐỊNH của Đạo Phật được giải thích trong KINH VIÊN GIÁC:

THIỀN ĐỊNH LÀ CHỈ, QUÁN

VÀ CHỈ QUÁN SONG TU

Tức là người Ngồi Thiền, trong thời gian Ngồi là để cho cái THÂN ngưng tới lui, hoạt động. ĐỊNH là dừng cái tâm suy nghĩ viễn vông, để tập trung SOI, QUÁN những pháp của Đạo. Tu Phật là để Thoát Khổ, vì vậy, người tu phải tìm xem cái Khổ đó do đâu mà có. Biết được nó rồi thì tìm cách để tháo gỡ. Thời của ta thì mọi thứ đã được Đức Thích Ca đã chỉ dẫn rành mạch rồi. Bổn phận của mỗi chúng ta là phải kiểm chứng lại, xem cái Lý của Ngài có đúng đối với ta hay không? Vì nếu ta thấy không đúng thì thực hành làm gì? bao giờ chấp nhận được thì theo đó mà hành trì.

Công dụng của NGỒI THIỀN trong Đạo Phật là như thế, nhưng đến Phái TÀO ĐỘNG trở thành:

“Không làm gì hết, chỉ NGỒI đó là THIỀN. NGỒI tự nhiên là thực hành tuyệt đối. Như vậy, tư thế Ngồi tự nhiên là con đường dẫn đến thành Phật” (tr.160) .

“Tọa Thiền là tĩnh lặng tuyệt đối, tĩnh lặng mọi tư tưởng” .

Kiểu Ngồi Thiền một đống, không suy nghĩ gì hết được Kinh Duy Ma Cật gọi là “Ngồi sững ở đó”. Tích có kể, Hoài Nhượng Thiền Sư khi thấy Mã Tổ lúc còn là Thiền Sinh đang Ngồi Thiền thì Ngài bèn lượm 1 viên gạch đem mài trước am. Mã Tổ lấy làm lạ hỏi: Mài gạch để làm gì?

Hoài Nhượng đáp: Để làm kính.

Hỏi : Mài gạch sao thành kính được?

Đáp: Mài gạch không thành kính được, tọa thiền há thành Phật được sao?

Và Ngài Hoài Nhượng giải thích: “Ông học tọa Thiền hay học tọa Phật? Nếu học tọa Thiền thì Thiền không dính chi tới chuyện nằm ngồi. Nếu học tọa Phật thì Phật vốn chẳng có tướng nhất định. Các pháp vô trụ, không nên buông bắt. Nếu chấp cái tướng ngồi thì không đạt được lẽ đó.

Với kiểu Ngồi bất động, Lục Tổ dạy:

“Khi sống, ngồi chẳng nằm

Lúc chết, nằm chẳng ngồi

Gốc là cục thịt thúi

Làm chi vậy mệt ôi!”

Bởi vì nếu chỉ NGỒI khơi khơi, thì xả Thiền ra có biết thêm được gì? Không thấy Sinh Tử do đâu? Không biết cách để tu sửa, thì cái Thân hôi nhơ này, nếu Ngồi hoài khi sống, lúc chết không ngồi được nữa thì trước sau cũng chỉ là cục thịt thúi mà thôi!

Người dạy đạo, từ Tổ đầu tiên là Đức Thích Ca đến Tổ Đạt Ma và Lục Tổ Huệ Năng đều có thuyết giảng, phân tích rành mạch từ cái Phát tâm chân chính, đến cách Ngồi thiền. Cho đến phải Quán soi những gì? Soi như thế nào? Như thế nào là đạt đến kết quả? Trong khi đó, các phái Tu Thiền chỉ còn: làm thinh, hét, đánh, vác gậy đập, đưa lên đưa xuống thiết trượng hay phất tử hay thậm chí đập chết bỏ những ai dám nhúc nhích trong thời kỳ “Đả Thất”! (Bài thuyết của Thiền Sư Lai Quả trong CỘI NGUỒN TRUYỀN THỪA).

Từ thời xưa nhiều người cũng đã biết, lối Tu Thiền không còn phải là tu theo Đạo Phật chân chính nữa, nên đã công kích họ. Chính Ngài Suzuki cũng viết: “Có nhiều người công kích, cho rằng Thiền đã đi lạc quá xa so với hiểu biết thông thường về lời dạy của Phật được chép lại trong các Bộ Kinh”. “Có một số khích bác, cho rằng Thiền không phải là Phật Giáo, mà là một biến chứng nẩy sinh trong bất kỳ tôn giáo nào. Nó là cái gì bất thường, lớn mạnh giữa những dân tộc, mang những nếp cảm nghĩ khác với dòng Phật Giáo chánh truyền”. Nhưng Ngài đề nghị: “Lời phê phán đúng hay không, ta chỉ quyết đoán sau khi: Một mặt thấu rõ thế nào là tinh thần chánh thống trước những chủ thuyết của Phật Giáo như các dân tộc Đông Phương ở đây thường chấp nhận. Đồng thời cũng nên đại khái biết qua diễn trình chứng ngộ”.

Lời đề nghị đó là một rào cản khá kiên cố cho bất cứ ai muốn phê phán THIỀN. Dù vậy, bản thân tôi là một cư sĩ, có trên 30 năm tu Phật. Thời gian đầu đương nhiên là phải có Ngồi Thiền. Nhưng tôi không Ngồi một cách máy móc, mà có nghiên cứu để hiểu thế nào THIỀN ĐỊNH đúng nghĩa. Thế nào là Thiền Hữu Tướng. Thế nào là Thiền Vô Tướng, để làm theo phương pháp nào đúng và hữu hiệu nhất. Ngoài ra, tôi đã bỏ hơn 20 năm nghiên cứu chính Kinh. Đã lược giải được một số Kinh như DIỆU PHÁP LIÊN HOA, KIM CANG, DUY MA CẬT, BÁT NHÃ, LĂNG NGHIÊM, VIÊN GIÁC, SÁU CỬA VÀO ĐỘNG THIẾU THẤT. PHÁP BẢO ĐÀN KINH. (còn nằm trong bản thảo). Đồng thời cũng có tham khảo các Kinh HOA NGHIÊM, ĐẠI BÁT NIẾT BÀN, ĐẠI PHƯƠNG TIỆN PHẬT BÁO ÂN, THẮNG MAN, KIM QUANG MINH, TÂM ĐỊA QUÁN và một số Kinh khác. Nên có thể dựa vào lời Phật, Tổ trong Kinh mà đủ sức phân biệt được thế nào là tu hành đúng Chánh Pháp, thế nào là Tà Pháp! Ngoài ra tôi cũng có một chút kinh nghiệm về diễn trình gọi là chứng ngộ được đánh dấu bằng một số Thơ, Kệ, đã được Thầy ấn chứng, nên thiết nghĩ có lẽ phần nào đáp ứng được yêu cầu của Thiền sư. Vì thế tôi mạnh dạn viết ra tập này, mục đích là để mang lời Phật, lời Tổ trích từ trong Kinh ra, để người ít đọc Kinh cũng có tài liệu để so sánh với những lời dạy của các Thiền Sư sẽ thấy đúng, sai, chân, giả.

Các Phái Thiền đương nhiên là sẽ không đồng ý về nhận xét của người khác, vì cho là người không Tu Thiền không thể nào hiểu nổi sự cao siêu của Thiền! Họ không biết rằng THIỀN chỉ mới là một Độ trong Lục Độ, người tu Phật nào cũng có THIỀN ĐỊNH, nhưng không tách ra để chỉ hành riêng Độ Thiền, gọi là TU THIỀN như họ. Tuy vậy, cứ theo họ, cho là Tu Thiền là cao siêu đi. Nhưng mục đích của cái cao siêu đó là gì? Bởi xét về lợi ích và mục đích thì ta thấy: Đạo Phật đưa người tu học đến Thoát Khổ, Thoát Sinh Tử. Phương pháp của Đạo Phật rất cụ thể. Là Lục Độ, Tứ Nhiếp, Soi, Quán, Tư Duy, Bát Chánh Đạo, Giới vv... nhằm để XẢ CÁI NGÃ CHẤP. Vì Phiền Não, Sinh tử đều do đó. Có XẢ được nó thì mới thoát được phiền não, được an ổn trong kiếp sống. Còn chỉ Khai CÔNG ÁN thì kết quả về đâu? PHẬT có nghĩa là Giải Thoát. THÀNH PHẬT có nghĩa là thành tựu hay hoàn tất công việc Giải Thoát bằng những việc làm bỏ ác, hành Thiện, bỏ Ngã Chấp, Pháp Chấp. 32 Tướng Tốt của Phật là 32 việc làm đối với Thầy, Bạn. Yêu thương, kính trọng cha mẹ, giúp đỡ mọi người. Những người Tu Thiền chỉ Tham có mỗi một Chữ VÔ. Không Tư Duy, Quán sát, không giữ Giới. Không lập Hạnh thì người bình thường với Nhân, Nghĩa, Lễ, trí Tín còn chưa xong, làm sao thành Thánh, thành Phật?

Đạo Phật có mặt ở thế gian đã trên 2.550 năm. Người thật sự chứng đắc cũng không ít. Nhưng những kẻ ham danh lợi, mượn cửa Đạo để nhàn thân, lại được ăn trên ngồi trước càng đông hơn. Bậc chân tu cũng như những người lợi dụng tôn giáo cũng đều muốn gặp được Thầy giỏi để học hỏi. Chính vì thế, khi nghe ca tụng quá nhiều về các thiền Sư nước người, rồi vọng ngoại để gặp phải những Thiền Sư “Hữu danh, vô thực”. Người ca tụng họ cũng là những người không hiểu về Đạo Phật, nên làm sao hiểu được những gì họ giảng nói là đúng Chánh Pháp hay không?

Theo lịch sử Đạo Phật của Việt Nam ta, thì từ năm 580 Thiền Sư Ấn Độ là Tỳ Ni Đa Lưu Chi đã từ Trung Hoa sang nước ta để truyền đạo, lập ra Phái Thiền đầu tiên. Ngài truyền cho Thiền Sư Pháp Hiền làm Tổ thứ Hai. Đến triều Lý (1010-1255) thì Đạo Phật ở nước ta đã phát triển rất mạnh, các vua Lý đều tôn sùng Đạo Phật. Vua Lý Thái Tông thuộc thế hệ thứ bảy của Thiền Phái Vô Ngôn Thông. Vua Lý Thánh Tông thuộc thế hệ thứ nhất của Thiền Phái Thảo Đường. Nhiều vị Sư có uy tín được vua mời làm Quốc Sư như Sư Minh Không, Sư Viên Thông. Các Thiền Sư Vạn Hạnh, Đa Bảo còn được vua mời tham gia bàn chuyện triều chính.

Đến đời Trần, Phật Giáo vẫn phát triển. Các Thiền Phái trên vẫn phát triển, cho đến lúc Vua Trần Nhân Tông lập ra Thiền Phái Trúc Lâm thống nhất Giáo Hội Phật Giáo thời Trần. Vua không chỉ am tường việc Đạo mà còn là anh hùng của hai cuộc chiến chống quân Nguyên. Việc trị quốc đã thế, trong tề gia Ngài cũng là một người cha nghiêm khắc. Một lần, Vua từ Yên Tử về Kinh, thấy con là Vua Anh Tông mê mải tiệc tùng, lơ là việc nước, ngài đòi truất phế, triều đình phải xúm lại can ngăn. Từ đó, vua Anh Tông không dám bỏ bê việc nước, và lo tròn bổn phận một vị vua.

Điều đó cho ta thấy người tu Phật thật sự không tiếp tục bon chen tranh giành như người đời, nhưng cũng không phải nhắm mắt, bưng tai, xa lánh việc đời. Lục Tổ dạy: “Phật Pháp tại thế gian. Bất ly thế gian giác”. Có nghĩa là không rời cuộc đời mà giác ngộ. Tu không phải là để đóng khung, tránh né, xa lánh thế gian. Bởi việc tu Phật thật sự chính là trang bị cho người tu cách sống giữa phiền não mà không bị phiền não nhấn chìm, như ý nghĩa của Hoa Sen mà Phật dụng làm biểu tượng, muốn cho người tu đạt tới, là Nở hoa thanh khiết, dù vẫn sống trong bùn.

Từ xa xưa đã có những vị Giác Ngộ hiện diện là điều rất hãnh diện cho dân tộc nhỏ bé, kém phát triển và triền miên bị các cường quốc lấn áp như nước ta, mà giáo Pháp của Tam Tổ là bằng chứng để chúng ta nhận ra điều đó. Nhưng có thể là những vị đắc pháp thời trước đó chưa có điều kiện để phổ biến rộng rãi nên không thể nào so với hoàn cảnh chứng đắc của một vị vua đương thời, được mọi điều kiện hỗ trợ tối đa như Điều Ngự Giác Hoàng. Một phần cũng bởi thời đó phương tiện truyền thông không có. Viết xong được một quyển sách, thuê thợ khắc bản in cũng là cả một vấn đề. Ngay cả quyển Khóa Hư Lục của Vua Trần Thái Tông còn bị quên lãng. Có thể do nhiều người không đủ sức để lãnh hội những gì Ngài viết, cho nên, Ngài tịch năm 1308 mà đến năm 1840 mới được sư cụ Thanh Hương chùa Do Nha huyện Võ Giàng nhờ Tuần phủ hộ lý Tổng Đốc Ninh Thái đề tựa để in ra. Hơn nữa, thời đó, muốn di chuyển thì phải đi bộ. Đa phần Chùa thì hay ở non cao, động vắng, nên đó cũng là một trở ngại rất lớn cho việc phổ biến đạo pháp.

Đọc những bài giảng của Tổ PHÁP LOA của Thiền Phái TRÚC LÂM YÊN TỬ trong TAM TỔ THỰC LỤC thì tôi thấy không khác với những lời của Phật dạy trong Chính Kinh và của hai Tổ: Đạt Ma, và Huệ Năng. Chỉ đề cập đến việc tu sửa Thân, Tâm. Không hề cổ vũ xây thêm chùa lớn, đúc tạc cho nhiều tượng Phật. Các Ngài chỉ lui tới những chùa danh tiếng sẵn có để truyền pháp. Phải chăng các Ngài e rằng càng phát triển chùa tướng thì đồng nghĩa là chùa Tâm bị quên lãng? Thế nhưng, dù không thấy xây thêm nhiều chùa, mà các Ngài vẫn truyền pháp cho rất nhiều người. Không biết những người có trách nhiệm gìn giữ và truyền bá Thiền Phái TRÚC LÂM YÊN TỬ có còn giữ được tinh thần của Phái Thiền này không? Nếu chỉ phát triển bằng hình tướng, chiêu mộ Phật Tử thêm đông, nhưng không giữ được cốt tủy của Thiền Phái này, không đưa người tu đến Thấy Tánh, Thành Phật, thì quả thật là chúng ta đã phản bội kỳ vọng của các vị Giác Ngộ đã chọn đất nước ta để làm nơi mồi ngọn đuốc Pháp!

Mỉa mai thay! thực tế đã chứng minh cho ta thấy, lời người xưa nói “Bụt chùa nhà không thiêng” quả thật không sai! Lẽ ra chúng ta đã biết và hết lời xưng tụng Đức Điều Ngự là Phật Hoàng, thì với những lời vàng ngọc của các Ngài để lại thừa sức để “Chấn Hưng Thiền Học”. Cần lấy Phương pháp của các Ngài để làm “Phương Pháp Tu Trì của Thiền Tông”, để khuyến khích mọi người tu tập theo đó. Trái lại, hình như việc khơi dậy Thiền Phái TRÚC LÂM đó chỉ nhằm quảng bá điểm du lịch Yên Tử, sao cho ngày càng nhiều khách thập phương tới vãn cảnh! Nếu sự thật như tôi suy diễn thì quả thật là đáng buồn! Mọi người đã thật sự thấy Tam Tổ là người chứng đắc sao không quảng bá, phát huy Giáo Pháp của ngài để lại? Việc làm đó có ích cho người tu học biết mấy, thay vì cho dịch và dùng làm tài liệu cho tăng ni tu học bằng những quyển sách của những Thiền Sư “hữu danh vô thực” của nước ngoài, bởi trong đó, những lời chính đáng của Phật Pháp thì ít, đa phần là những lời kiêu mạn, phỉ báng Phật, chê Tổ, mắng Thầy! Nếu họ tin, rồi truyền nhau, thì trách nhiệm đối với Chánh Pháp thật không phải nhỏ!

Có người sẽ nạn rằng bản thân người viết không phải là một cao Tăng, không tu hành chính quy, làm sao hiểu hết diệu dụng của chư vị Giác Ngộ? Lấy căn bản nào để đánh giá rằng những phát ngôn của các Thiền Sư trong những quyển sách trích ở phần trước không phải là những người đã chứng đắc? Nếu họ hành nghịch pháp để thị hiện thì sao?

Xin thưa, “Chiếc áo không làm nên thầy tu”, và muốn phân biệt người nào có tu đúng Chánh Pháp hay không, thì chúng ta phải đối chiếu với lời Phật dạy. Trước lúc Phật nhập Niết bàn, có ngoại đạo tên Subhadda đến hỏi Phật: “Làm sao phân biệt trong những người đang giảng pháp thao thao, ai là người có Chánh Pháp?”. Phật đã trả lời: “Trong giáo pháp nào có Bát Chánh Đạo thì trong đó có đệ nhất sa môn, đệ nhị sa môn, đệ tam sa môn, đệ tứ sa môn... Giáo Pháp của ta có Bát Chánh Đạo, nếu các Tỳ kheo này sống chân chánh thì đời này không vắng những vị A La Hán”

Thế nào là những Tỳ Kheo “Sống Chân Chánh?” Tức là người đó phải có GIỚI, phải sống theo Bát Chánh Đạo. Đã có Bát Chánh Đạo thì có CHÁNH TƯ DUY, CHÁNH NGỮ, CHÁNH MẠNG… Có Chánh Ngữ thì lời nói phải chân chánh. Không nói để khen mình, chê người. Người tu hành thì lúc nào cũng phải “Thu thúc Lục Căn”, “Thân, Khẩu, Ý Ba Nghiệp phải thanh tịnh. Nhưng các Thiền Sư đó xem ra thả lỏng căn trần, ngông nghênh kiêu mạn. Ý không thanh tịnh nên KHẨU cũng không thanh tịnh. Cái chứng đắc của người tu là đắc cái “Vô Ngã”, tức “Không có Ta”. Đối với mọi người phải hành Hạnh Thường Bất Khinh Bồ Tát, vì tất cả chúng sinh đều là Phật sẽ Thành, nhưng không thấy các vị đó thể hiện!

Với Phật chưa thành còn phải kính trọng, huống chi gọi Phật Thích Ca là “Lão Cồ Đàm mặt vàng”! Gọi Tổ Đạt Ma là “Lão già Hồ sún răng, truyền pháp cho người không đủ Lục Căn”! Người không đủ Lục Căn đó chính là Nhị Tổ Thần Quang! Cho “Thích Ca, Di Lặc còn là tôi đòi của những kẻ đó”! Lời lẽ như thế hoàn toàn là của phàm phu tự cho là mình tu hành, chứng đắc, đâu thể là của Bậc Giác Ngộ? Phật họ còn mắng, Tổ còn bị chê, Thầy còn gọi lão này lão nọ, như vậy để dạy ai cái gì khi nhân thừa còn chưa có? Chẳng lẽ Tu Thiền, chứng đắc để trở thành một con người hỗn xược, không còn tôn ty trật tự? Trong lịch sử các Tổ, cả 33 vị, ta chưa hề thấy có vị nào có hành vi và nói năng như thế. Tích “Con chồn Hoang” nói về một pháp sư chỉ vì hạ sai một chuyển ngữ còn phải đọa làm chồn 500 kiếp. So với VÔ MÔN QUAN ta thấy tội đó chẳng thấm vào đâu!

Tổ Đạt Ma dạy: “Rắn biến thành rồng vẫn không đổi vảy. Phàm phu thành thánh cũng không đổi mặt”. Tức là trước hay sau khi tu chứng đắc, người đó vẫn con người bình thường. Cái khác đi là họ đã điều phục xong cái tâm của họ và được Thoát các pháp. Có thế thôi, có gì đâu mà cao cả hơn đời?

Để Thành Phật thì chỉ cần điều phục mình, đâu phải làm gì kinh thiên động địa? Kinh Viên Giác đưa ra một công thức rất đơn giản:

“NẾU NGƯỜI ĐOẠN THƯƠNG GHÉT,

CÙNG VỚI THAM, SÂN, SI "

CHẲNG CẦN TU GÌ KHÁC

CŨNG ĐỀU ĐẶNG THÀNH PHẬT”

Thành Phật chỉ có nghĩa là hoàn tất công việc tự độ, tự giải thoát cho bản thân. Công phu để thành chỉ là “Độ những tính xấu trong tâm” của mình, gọi là “Độ Sinh” thì có gì hơn người để mà kiêu mạn? Rõ ràng các Thiền Sư đó đã hiểu lầm hai chữ “Thành Phật” và cũng không biết cách thức để Thành Phật. Họ tưởng Thành Phật là thành một “Ông Phật có 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp, cứu độ tam thiên đại thiên thế giới”. Trong khi Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới là cách mà Phật mô tả những sinh khởi trùng trùng của Tam Độc trong mỗi người chúng ta. Mỗi loại nhiều đến nỗi ngang bằng với cả một thế giới. Có tới Ba Độc nên gọi là Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới.

Chính vì vậy, nếu người tu không quên căn bản: Tu chỉ có một nghĩa là SỬA. “Tu Phật là Tu Tâm”, là “Tự Độ”. Thành Phật chỉ là “Thành tựu con đường tự Giải Thoát”. Tâm niệm như thế khi phát tâm tu hành thì dùng bất cứ phương tiện nào của Đạo: Mật, Hiển, Đại Thừa, Tiểu Thừa… hẳn không nảy sinh những tư tưởng kiêu mạn khi chứng đắc. Các Thiền Sư đó, suy cho cùng, ngay hai chữ Thành Phật còn chưa hiểu. Cách hành cũng không đúng thì làm sao chứng đắc? Đã chưa chứng đắc thì làm sao có thể gọi là “thị hiện” để giáo hóa người khác?

Đạo Phật sở dĩ xuất hiện ở trần gian là vì con người. Bao nhiêu phương tiện được Đức Thích Ca đặt ra là vì muốn cho con người được sống một cuộc sống an vui. Ngài thấy rằng cuộc sống ngắn ngủi không đầy trăm năm mà con người không chịu yêu thương, đùm bọc nhau, trái lại còn giết vật, hại người, gian dâm vô độ, say sưa mất lý trí để làm nhiều chuyện rối loạn, làm cho cả mình và người đều phải buồn khổ. Chính vì vậy mà Ngài đặt ra GIỚI nhằm hạn chế bớt những lỗi lầm, biết tôn trọng lẽ phải để giúp con người sống tốt đẹp hơn. Đó là SÁT, ĐẠO, DÂM, VỌNG NGỮ và TỬU. Những Giới này dù là Chư Phật từ cổ xưa, hay muôn vạn kiếp tới đều phải tuân giữ. Kinh Đại phương Tiện Phật Báo Ân viết: “Nếu có 100 hay 1.000 vị A La Hán thì từ vị A La Hán đầu tiên, cho đến vị cuối cùng đều nhân Giới mà thành đạo”. Kinh Phạm Võng Bồ Tát Giới Phật dạy: “Người đã thọ Giới của Phật, nên hộ trì giới luật của Phật như ấp yêu con một, như kính thờ cha mẹ, không được hủy phá”.

GIỚI của Đạo Phật quan trọng như thế, nhưng Ngài Nguyệt Khê chê là: “Giới của Phật giáo cho đến hiện tại vẫn là qui củ xưa của mấy ngàn năm trước phần nhiều đều biến thành bối văn, hoặc không có cách nào tuân thủ theo. Cho nên chúng ta chủ trương cần phải sửa đổi thêm hoặc bổ sung, đem những cái vụn vặt phiền phức biến thành giản đơn, vòng vo thối nát biến thành kiện toàn, sau đó uy lực của giới luật bị mất mát có thể trở về nguồn, chỗ tôn nghiêm của tăng già mất mát mới có thể cứu vãn được, khiến cho ma quỷ thấy mà xa lánh, rút lui, người lành thấy mà khởi lên lòng kính trọng, đây là điều kiện chủ yếu để phục hưng Phật Giáo”!

Trong khi GIỚI dù xưa cũ mấy ngàn năm, nhưng làm cho con người tốt đẹp hơn lên, thì Ngài Nguyệt Khê cho đó là “vòng vo thối nát”, cần phải “sửa đổi để phục hưng Phật Giáo”! Chẳng lẽ Phật Giáo sẽ được phục hưng bằng cách phá bỏ những rào cản đạo đức tối thiểu của con người? Liệu mọi người có thể “khởi lên lòng kính trọng” với những người tà dâm, trộm cướp, nói láo, say sưa vô độ không?

GIỚI, ĐỊNH HUỆ của Đạo Phật là căn bản tu hành bất di bất dịch. Kinh Lăng Nghiêm dạy người tu nào muốn thành thì đều phải có đủ 3 món đó như điều kiện tiên quyết thứ nhất, thì Ngài Nguyệt Khê viết: “Xưa có người hỏi Thiền Sư Nam Tuyền Phổ Nguyện rằng: “Thế nào là Giới, Định, Huệ?”, Sư đáp rằng: “Bần đạo trong đây không có thứ đồ bỏ xó đó’! Thiền Sư mà không có Giới thì liệu có Định, có Huệ? Thảo nào ông ta cho các thứ đó là “đồ bỏ xó”! Thế thì trong ông có thứ gì cao quý?

Kinh Điển được xem là bản đồ, là La Bàn thì Thiền Sư Nguyệt Khê viết: “Nay con người chui đầu vào kinh điển sách vở, ôm chấp văn nghĩa thì điều tai hại há chẳng phải là nông cạn ư? Vì thế chuyện bất lập văn tự, truyền riêng ngoài giáo mới được kiến lập vậy. Nếu có thể mượn văn tự và ngôn ngữ tương đối để chỉ thị, chứng nhập vào cảnh giới tuyệt đối của chân như thì văn tự của kinh điển chỉ là mớ bá láp mà thôi”!(Tuyệt Đối Luận tr. 53).

Phật dạy: “Ly Kinh nhất tự đồng ma thuyết”. Có nghĩa là không được rời Kinh, dù chỉ 1 chữ. Phật chỉ chê trách những người đọc Kinh rồi ôm mớ văn tự, không hiểu được Ý nghĩa mà Ngài muốn truyền đạt nên không thực hành, vì thế không đạt được kết quả như Ngài mong mỏi. Ngay cả bất cần văn tự bằng chữ viết thì ít ra cũng phải bằng ngôn ngữ. Con người hiểu nhau qua hai cách đó. Chỉ có các Thiền Sư hiểu đạo qua “ngón tay”, và “Phất Tử” đưa lên, đưa xuống! Cao siêu là vậy. Nhưng kết quả thì thế nào? Thiền Sư Suzuki viết đến hơn ngàn trang để Luận về Thiền mà đã tự cho là không thể giải thích được thế nào là THIỀN! Chắc không cần phải biện minh dông dài, vì qua đó thì mọi người đã thấy hiệu quả của phương pháp được hết lời ca tụng đó!

Thiền Sư nào cũng muốn mở ra một con đường riêng, cao hơn, hay hơn nhanh hơn là con đường mà Phật Thích Ca đã mở ra. Tiếc là họ tưởng tượng nên không đưa ra được cách nào để đến. Cảnh cũng tưởng, phương tiện cũng tưởng, thì đương nhiên người đạt tới cũng chỉ là ảo tưởng mà thôi. Tu hành theo Đạo Phật là để Giải Khổ cho cuộc sống đầy phiền não. Đức Phật chỉ ra nguyên nhân gây phiền não và cách thức chặt đứt. Người tu Phật phải Hành nhiều pháp để tháo gỡ từ từ. Người TU THIỀN theo các Thiền Sư hướng dẫn chẳng có mục đích. Tu cũng không có phương tiện. Thấy được một chữ cũng tưởng rằng chứng đắc. Chứng đắc xong cũng chẳng biết về đâu!

Thiền Sư Nguyệt Khê đặt ra Cõi Tuyệt Đối. Sau đây là cách Ngài giải thích: “Bản thể tuyệt đối vốn không, không có tên gọi và hình tướng, vốn không có biến huyển, hoàn toàn không dính dáng với nhau. Tuy nhiên cõi tương đối ấy, lìa ngoài tư duy và cảm giác thì thực ra không có chỗ nương cậy, cho nên tin sâu mà chẳng nghi ngờ. Cho đến bình tâm mà phản tỉnh, hoặc được thiện tri thức mở lối dẫn dắt thì ban đầu là nghi ngờ, nhưng kế đến là tự minh gia thêm phủ định. Phủ định cái gọi là hình tướng, cái gọi là tên gọi, phủ định cái gọi là tư duy và cảm giác, sau cùng vô thỉ vô minh không có tư duy – không có cảm giác cũng bị phủ định luôn, cho đến khi không thể phủ định được nữa thì cõi tương đối kết thúc, liền nhập vào cảnh giới tuyệt đối, bèn hoát nhiên đại ngộ”. (tr. 78).

Ngài chỉ cách để nhập vào tuyệt đối: “Liên quan đến việc phủ định tương đối là phủ định lại cái đã phủ định, đến khi không thể phủ định được nữa, tức là đã nhập vào tuyệt đối” (tr.105). Như vậy, theo lời Ngài dạy: phủ định tất cả thì nhập vào cõi tuyệt đối của Ngài. Nếu ta phủ định cả Ngài và lý thuyết của Ngài hẳn ta còn nhập vào cõi cao hơn nữa chăng?

Tiếc thay, những bậc chân tu thường không khua chuông, gióng trống. Họ theo Hạnh của Đức Thích Ca là tự tu, tự sửa, không rầm rộ cờ xí, tiền hô hậu ủng… nên người đời không nhận ra được. Vì thế, người đời chỉ chạy theo những pháp sư được đông đảo người ca tụng tưởng họ có Chánh Pháp! Trong khi đó, dòng truyền thừa hẳn còn khiêm tốn trong Tâm của vị chân tu trong những ngôi chùa nhỏ bé, đơn sơ nào đó. Vì họ hiểu rõ lý Nhân Quả nên không lạm dụng tiền của bá tánh để cất chùa cho to, quảng bá rầm rộ để được nhiều người biết đến và cũng không thu nạp đệ tử cho đông, vì “quý hồ tinh bất quý hồ đa”! Chính tôi, sau nhiều năm tìm hiểu, thận trọng đối chiếu với nhiều Bộ Chính Kinh, khi nhận biết đường tu mình đang theo học thật sự là đúng chánh pháp, vì chỉ dạy tu sửa bản thân, thì Thầy tôi cũng đã qua đời nên tôi không hỏi được nguồn cội. Tôi có dò hỏi thì chỉ nghe nói là Thầy của Thầy tôi – cũng là một cư sĩ – ngày trước đã đắc pháp ở một ngôi chùa tại miền Trung (hiện Thầy của Thầy tôi đang giảng dạy tại Mỹ). Thông tin quá mù mờ nên tôi chỉ biết một điều là dòng Chánh Pháp lúc nào cũng âm thầm được gìn giữ trong tâm của những bậc chân tu. Không phát triển rầm rộ bằng chùa to, Phật lớn, vì hiểu đúng như lời Phật dạy trong Kinh Kim Cang “Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng”.

THIỀN chỉ là 1 Độ trong LỤC ĐỘ của Đạo Phật. Người tu Phật nào cũng phải THIỀN, dù là HỮU TƯỚNG hay VÔ TƯỚNG. Nếu dùng sự Soi, Quán để hiểu một từ của đạo làm CÔNG ÁN thì người tu Phật có rất nhiều Công Án phải khai thông. TU PHẬT là để được GIẢI THOÁT. Mục đích của Đạo Phật là đưa người tu đến Thoát Sinh Tử, Thoát Phiền Não, còn ĐẠO THIỀN đưa người chứng đắc về đâu?

Những Thiền Sư thời đó cũng không đọc Kinh Phạm Võng Bồ Tát Giới để thấy Kinh dạy: “Thà lấy lưới sắt nóng quấn lấy thân mình cả nghìn lớp, quyết không để thân này phá Giới mà thọ những đồ y phục của tín tâm đàn việt. Thà chịu nuốt hòn sắt cháy đỏ và uống nước đồng sôi mãi đến trăm nghìn kiếp, quyết không để miệng này phá giới mà ăn các thực phẩm của tín tâm đàn việt. Thà nằm trên đống lửa lớn, trên tấm sắt nóng, quyết không để thân này phá giới mà nhận lấy các thứ giường ghế của tín tâm đàn việt. Thà trong một hai kiếp chịu cho cả trăm gươm dáo đâm vào mình, quyết không để thân này phá giới mà thọ các thứ thuốc men của tín tâm đàn việt. Thà nhảy vào vạc dầu sôi trong trăm ngàn kiếp quyết không để thân này phá giới mà lãnh những phòng, nhà, ruộng vườn, đất đai của tín tâm đàn việt”.

Về những người hủy báng Tam Bảo và tiếp tay quảng bá cho người phỉ báng Phật, có GIỚI HỦY BÁNG TAM BẢO: “Nếu Phật Tử tự mình hủy báng Tam Bảo, xúi người hủy báng Tam Bảo: Nhân hủy báng, duyên hủy báng, cách thức hủy báng, nghiệp hủy báng. Phật tử nghe một lời hủy báng Tam Bảo của ngoại đạo và kẻ ác, còn đau lòng hơn ba trăm cây nhọn đâm vào tim mình, huống là tự miệng mình hủy báng! Không có đức tin và lòng hiếu thuận đối với Tam Bảo, lại còn giúp sức cho những kẻ ác, kẻ tà kiến hủy báng nữa. Phật tử này phạm “Bồ Tát ba-la-di tội”.

Qua những quyển sách viết về Thiền mà tôi đã tham khảo, ta thấy có vị chém mèo, giết rắn, một cách lạnh lùng, không chút xót thương. Chẳng biết tâm Từ, Tâm Bi các vị để ở đâu? Với người tu học thì đấm, đá, xô cửa cho gãy chân, thậm chí còn đánh đến chết như chùa Cao Mân! Nhiều người sau chẳng hiểu gì, cũng xưng tán, cho như vậy mới là cao siêu!

Nếu Thiền Tông cho rằng mình có đường lối tu hành riêng, Quả vị chứng đắc hoàn toàn khác với Đạo Phật thì chúng ta không đề cập đến làm gì. Nhưng các Ngài lấy hai vị TỔ của Đạo Phật, cho đó là SƠ TỔ của mình. Lấy Quả Phật của Đạo Phật làm Quả vị của Đạo Thiền. Nhưng đường lối hướng dẫn cũng như hành trì hoàn toàn khác với lời của PHẬT, TỔ dạy thì ta nên xem xét lại. Bởi lời Phật không hề hư vọng. Kinh dạy: “Người nào “Thọ, trì, đọc, tụng, giảng nói, biên chép Y Pháp tu hành thì xuất sanh chư Phật”. Phái Tu Thiền thì không thọ trì,đọc tùng Kinh để hiểu lời Phật day. Không Giữ Giới. Không theo Bát Chánh Đạo. Cũng chẳng Soi, Quán. Không tìm Tâm. Không “Điều phục Vọng Tâm”, cũng chẳng làm Lục Độ, Vạn Hạnh, thì họ lấy gì để đắc? Đắc xong sẽ trở thành gì?

Trong khi đối với Thiện Tri Thức, Phật dạy: “Này Thiện nam Tử! Chúng sanh đời sau muốn tu hành, suốt đời phải kính trọng, cúng dường Thiện Tri Hữu Thức”. Và: “Đối với Thiện Tri Thức này mà hành giả không khởi một niệm khinh thường thì Tâm Hoa sẽ được rộng mở chiếu sáng khắp cã mười phương thế giới và thành tựu Quả Phật”. Nhưng phía Thiền gia, người thấy mình chứng đắc thì đánh Thầy, mắng Phật, chửi Tổ... mà cũng “thành Phật” thì quả thật là Đại vọng ngữ.

Ngay trên bìa của quyển CỘI NGUỒN TRUYỀN THỪA của dịch giả THÍCH DUY LỰC, ta thấy chễm chệ câu ‘PHƯƠNG PHÁP TU TRÌ CỦA THIỀN TÔNG”. Trong đó, ngoài những nguồn gốc của Ngũ Phái Thiền và những lời giải về Đạo Phật của Thiền Sư Nguyệt Khê, phần sau, hơn nửa quyển là THIỀN THẤT KHAI THỊ LỤC của Lai Quả Thiền Sư giảng tại chùa Cao Mân. Trong đó là những bài giảng trong 10 Thất cho những người Nhập Thất Tu Thiền. Lời lẽ đầy ngạo mạn, khinh chê, mắng chửi người nhập thất. Chê họ là ngu mê, và cho rằng trong những thời kỳ đả thất vừa qua đã đánh chết mấy người. Xin trích vài đoạn đầy tính cách hâm dọa như sau:

* “Quy củ đả thất rất nghiêm khắc, khác với lúc bình thường. Vậy khác ở chỗ nào? Ấy là ngày nay các ông xin phép sanh tử ở các vị Tổ quá khứ và cũng xin phép sanh tử với ta. Ta hứa cho phép sanh tử, vậy sanh tử các ông nằm trong hai tay ta, ta muốn cho các ông sống thì sống, muốn cho chết thì chết. Đúng ngay chỗ này chết !”. (tr. 175).

* Các ông xin phép sanh tử, không phải xin Ban Thủ, Duy Na, mà phải xin ta. Các vị kia dám thay ta cho phép ư? Vậy khi nào có bệnh thì làm cách nào? Chẳng có cách nào hết. Sống cũng đả thất, chết cũng đả thất, mạnh cũng đả thất, đau cũng đả thất, chung quy là đả thất.”

* Các ông bệnh cũng được, sống cũng được, chết cũng được, đợi sau khi giải thất thì mới đưa đi chôn, dù năm người hay ba người cũng quăng xuống đáy quảng đơn. Đây là cách giải quyết kẻ có bệnh. Lại nữa, trong thời kỳ đả thất, đi hương, ngồi hương, quả đường cho đến đại tiểu tiện mà quay đầu một cái, hoặc cười đùa, như thế thì ta bảo cho các ông biết: Các ông phải mất mạng đó. Thế là sao? Một khi các ông đã đến Thiền Đường thì hương bảng của các vị Ban Thủ, Duy Na đều quay về các ông mà đập xuống. Một, hai chục hương bảng chẳng kể đầu, mặt, tai, cứ đánh hết, đánh rồi mà không chết thì vẫn phải đả thất. Nếu như đánh các ông bị thương thì làm cách nào? Thì cũng phải liệng các ông xuống đáy quảng đơn. Sau khi giải thất rồi thì đem chôn một lượt”

* Những năm qua trong thời kỳ đả thất cũng có mấy người bị đánh chết, đây là việc bình thường, chẳng có gì là lạ”.

Đức Phật cho rằng “Thân người khó được”, mà Thiền Sư mà coi mạng người như kiến, ruồi! Lời lẽ thô bạo như của những tên côn đồ. Dùng toàn đao to búa lớn, tưởng chừng như những người nhập thất, qua thời kỳ đả thất là sẽ đồng loạt thành Phật. Nhập Thất mà tưởng chừng như vô trại tập trung của Đức Quốc Xã! Mỗi ngày đều có một bài khai thị và qui củ nghiêm ngặt, sẵn sáng đánh chết người nếu có chút sơ suất. Người học cũng chấp nhận tu hành nghiêm túc như thế. Nhưng kết quả thì rất đáng thất vọng! Đến Thất 8, ngày thứ 6 ông ta lại nói: “Ta thật tiếc cho các ông, trong thời kỳ đả thất chẳng có người nào công phu được chút tiến bộ sâu xa nào, chẳng từng có được người nào công phu khai được tiểu ngộ, đó là điều ta thật tiếc vô cùng”! (tr. 389).

Chỉ lấy làm tiếc thôi sao? Người ta đã chấp nhận trả giá bằng cả tính mạng để học mà giáo pháp của mình sau cả chục thất, không dám nói cười, tới lui, chịu ăn hương bảng chết bỏ lại không đạt kết quả như lời quảng cáo, lẽ ra vị Thầy phải xấu hổ, xin lỗi và bồi thường mới đúng. Trái lại, còn muốn đổ lỗi cho người học! Ta nghĩ sao những lối giảng dạy như thế lại được cho là PHƯƠNG PHÁP TU TRÌ CỦA THIỀN TÔNG, và dùng đó để “chấn hưng môn Thiền học”?

Ước mong rằng người muốn thành Phật cấp tốc qua hướng dẫn của phương pháp Tu Thiền nên hiểu rõ thế nào là Thiền của Đạo Phật chân chính, thế nào là Thiền ngoại đạo, để đừng khởi tâm mong cầu Chứng Đắc, Quả Vị, ham tu tắt, tới cao, để tin theo các Tà Sư mà làm hư mất Tâm Bồ Đề. Tốt nhất, nếu muốn tu hành theo Đạo Phật chân chính thì nên đọc Chính Kinh để thấy trong đó Phật hướng dẫn tu hành ra sao rồi áp dụng. GIỚI và BÁT CHÁNH ĐẠO là vòng rào kiên cố bảo vệ cho ta khỏi lạc sang tà ma, ngoại đạo. Khi Quán, Soi, Tư Duy thì nên “nội quang phản chiếu”, quay vào tìm TÂM, tìm TÁNH của mình. Đó chính là Công Án lớn nhất mà Đức Phật Thích Ca và Chư Tổ đã bao đời truyền nối nhau để hướng dẫn, mong mọi người nương đó mà Thoát được Vô Minh, Thoát Sinh Tử Luân Hồi, Phiền Não, Khổ Đau, để được an lạc trong cuộc sống hiện tại và vĩnh kiếp về sau. Đó là mục đích của Đạo Phật, mà cũng là lời Phật đã hứa khi mang Đạo Phật vào thế gian vậy.


Viết tại Thành Phố Hồ Chí Minh, năm 2004
Bổ sung và hoàn tất tháng 10/2011
Hoa Nghiêm Chân Tử - Tâm Nguyện
PHẦN BỔ SUNG

Xin được trích ra một vài Bài Kệ của tôi đã làm năm 1978, trong thời gian tu học.
1/- Chỉ cần quay lại nhận ra nhau
Ai nói sông Mê, bến Ngộ nào?
Ta vẫn là Ta, đâu biến đổi
Chẳng qua là một giấc chiêm bao.

2/- Sông Mê chưa từng qua
Bờ Giác không là nhà
Tung tăng trong các cõi
Tự tại một mình Ta.

3/- Tâm có gì đâu để phổ truyền?
Tướng là hư huyển, được bao niên?
Pháp thì Sinh, Diệt, làm sao đắc?
Tánh vốn muôn đời vẫn ở yên.





© Tác giả giữ bản quyền.
. Đăng ngày 13.03.2013 theo nguyên bản của tác giả từ SàiGòn.
. TRÍCH ĐĂNG LẠI VUI LÒNG GHI RÕ NGUỒN NEWVIETART.COM .