HỌA SĨ - ÔNG ĐỒ XỨ NGHỆ
NGUYỄN TƯ NGHIÊM
(1922-…)

"Bát tú” trên bầu trời nghệ thuật nước Việt Nam : 4 “đại thụ” của thế hệ thứ nhất: “Nhất Trí (Nguyễn Gia Trí), nhì Vân (Tô Ngọc Vân), tam Lân (Nguyễn Tường Lân), tứ Cẩn (Trần Văn Cẩn)”, “tứ trụ”, thế hệ thứ hai gồm: Sáng (Nguyễn Sáng) – Nghiêm (Nguyễn Tư Nghiêm) – Liên (Dương Bích Liên) – Phái (Bùi Xuân Phái) của thập niêm 1970-1980. Nguyễn Tư Nghiêm lặng lẽ mở ra cho mình một lối vẽ kế thừa tinh hoa của văn hóa đình chùa Việt Nam, phát triển lên bằng cách đưa hơi thở của thời đại bằng cách tân táo bạo giữ hồn cốt của sự việc trong thể hiện nổi bật cái mà bức tranh phài đạt được để góp phần xây dựng nền mỹ thuật Việt Nam hiện đại”. Nguyễn Tư Nghiêm sinh năm 1922 ở xã Trung Cần (nay là xã Nam Trung), huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Cha ông, cụ Nguyễn Tư Tái là một nho sĩ đậu Phó bảng. Nguyễn Tư Nghiêm là học viên khóa 1941 - 1946 của Trường cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, học cùng khóa với Bùi Xuân Phái, Huỳnh Văn Gấm… khóa XV (1941-1946). Năm thứ 3, ông được Giáo sư Tô Ngọc Vân, một danh họa nổi tiếng về sơn dầu trực tiếp hướng dẫn. Giáo sư Tô Ngọc Vân hay khuyến khích các học trò vẽ sáng tạo, tránh sự gò bó khuôn sáo… nên học trò Nguyễn Tư Nghiêm tha hồ phá cách. Nguyễn Tư Nghiêm thường vẽ sơn dầu bằng bay như bức Người gác Văn Miếu, với lối vẽ khá giản lược mà vẫn thành công. Đó là bức tranh “mô-đéc” nhất lúc bấy giờ, làm chấn động giới hội họa với lối vẽ táo bạo, mới lạ. Sau này, năm 1944, bức Người gác Văn Miếu được Hội đồng giám khảo Triển lãm Mỹ thuật Salon Unique tặng giải nhất. Năm 1945, ông về quê tham gia Việt Minh và là cán bộ Ủy ban kháng chiến Nam Đàn. Năm 1947, ông lên chiến khu Việt Bắc. Năm 1952, ông là sinh viên đầu tiên được công nhận tốt nghiệp khóa kháng chiến Việt Bắc và sau đó trở thành giảng viên khóa mỹ thuật đầu tiên của trường do họa sĩ Tô Ngọc Vân làm hiệu trưởng. Với sự mẫn cảm của người nghệ sĩ, Nguyễn Tư Nghiêm đã tạo dựng một phong cách nghệ thuật đặc biệt từ việc học tập mỹ thuật dân tộc, kết hợp giữa quá khứ với hiện đại. Những phù điêu trong đình, chùa là nơi ông tiếp thu tinh hoa truyền thống và lấy cảm hướng sáng tạo. Họa phẩm Điệu múa cổ là một ví dụ điển hình từ việc học tập, ảnh hưởng vốn mỹ thuật truyền thống của ông. Tác phẩm nghệ thuật của Nguyễn Tư Nghiêm vừa mang đậm bản sắc dân tộc vừa hòa quyện cùng hơi thở cuộc sống. Thời đó, trong lúc các họa sĩ khác đang loay hoay tìm lối vẽ riêng cho mình thì ông đã rất vững vàng trong lối vẽ cách điệu quen thuộc, những đường nét thẳng, đơn giản, khúc triết và khỏe khoắn kết hợp với gam màu trầm với bút pháp và lối vẽ cách điệu phóng khoáng cho dù tác phẩm đó là bột màu, sơn dầu hay sơn mài… Trong khi các các đồng nghiệp vẽ tranh Tết chỉ hứng thú vẽ các con vật có hình thù đẹp như rồng, hổ, ngựa, gà… Nguyễn Tư Nghiêm vẽ tất cả các con vật trong 12 con giáp để thấy tổng thể chu kỳ của vạn vật, con nào cũng được người nghệ sĩ thêm bớt các chi tiết cực đắt để nâng lên thành hình tượng nghệ thuật hấp dẫn mang hiệu quả thẩm mỹ cao. Như bức Tết Năm Kỷ Mão. Ở trung tâm là vợ chồng mèo âu yếm bên nhau, vòng ngoài vây quanh là mười hai con giáp.

Giải thưởng và một số tranh vẽ của Nguyễn Tư Nghiêm:

• 1944: Người gác Văn Miếu (giải nhất Salon Unique năm 1944).

• 1948: Giải nhất Triển lãm Mỹ thuật toàn quốc kháng chiến, tác phẩm: Du kích làng Phù Lưu

• 1957: Giải thưởng triển lãm Mỹ thuật toàn quốc, tác phẩm: Con nghê

• 1975: Giải thưởng Triển lãm Mỹ thuật Thủ đô, tác phẩm: Hai đĩa sơm mài.

• 1985: Giải chính thức Triển lãm Quốc tế nghệ thuật hiện thực ở Sophia (Bulgaria), tác phẩm: Điệu múa cổ I năm.

• 1987: Giải chính thức Triển lãm Quốc tế ở Hà Nội, tác phẩm; Điệu múa cổ II.

• 1990: Giải nhất Triển lãm Mỹ thuật toàn quốc, tác phẩm: Gióng.

• 1996: Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt I về văn học nghệ thuật.

• Tác phẩm

• Cổng làng Mông Phụ

• Đánh cờ dưới bóng tre.

• Trạm gác (1948).

• Con nghé (1957)

• Xuân Hồ Gươm (1957)

• Nông dân đấu tranh chống thuế (1960).

• Điệu múa cổ

• Gióng (1990)

• Mười hai con giáp

• Kim Vân Kiều.

TÌNH VÀ LÝ NGƯỜI THẦY LÀ NGHỆ SĨ

NgườI Thấy có “cái roi uy quyền” là cho điểm. Đó là cái Lý của nghề dạy học. Con người ngoài Lý còn có Tình. Người Thầy phải có cả hai. Trò “cá biệt” – có năng khiếu thì Thầy phải “ra tay “ ươm sao cho hạt giống nảy mầm vươn lên.Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương vào những năm cuối, do sơn dầu thiếu nên giáo sư Joseph Inguimbenty rất khắt khe trong việc cấp sơn dầu cho sinh viên sáng tác. Riêng Nguyễn Tư Nghiêm thì ngoại lệ: luôn được thầy cấp cho nhiều sơn dầu để vẽ. Họa sĩ Nguyễn Sáng thắc mắc thì được giáo sư Joseph Inguimberty trả lời: “Nghiêm vẽ sơn dầu tôi cho 20 điểm, còn các anh thì tôi cho Deux zéros (hai điểm 0!)”. Do nhiều điều khách quan và chủ quan ta không thấy mấy Thầy ngày nay có cả hai - Tình và Lý.

CÁI GÀN ÔNG ĐỒ XỨ NGHỆ TRONG HỘI HỌA

Người nghệ sĩ luôn tìm tòi, suy gẫm, luôn khám phá, đào sâu thể nghiệm và không bao giờ cho phép bằng lòng với chính mình. Cùng một chủ đề, có thể làm đi làm lại để chắt lọc, tìm kiếm ngôn ngữ riêng, đặc trưng cho vấn đề cần thể hiện. Con người nghệ sĩ phải sống trong bầu không khí thời đại, nên phải đưa được nét này vào trong tác phẩm của mình. Nghệ sĩ Nguyễn Tư Nghiêm sống và vẽ theo tinh thần trên nên cũng đề tài Thánh Gióng, điệu Múa cổ nhưng nét vẽ, cách thể hiện mỗi lúc mỗi khác: bức điệu múa cổ năm 1983 ở Bảo tang mỹ thuật Việt Nam cách điệu hoàn toàn với đường nét thẳng, khỏe khoắn, nhưng vẫn dùng gam mầu trầm – màu vàng trầm (gam mầu trầm là rất riêng của Nguyễn Tư Nghiêm), trong khi ở bức kia chỉ có cảnh được vẽ cách điệu, cũng gam mầu trầm, nhưng nét vẽ các vũ nữ lại mềm mại với màu nóng (đỏ trầm) mang chất hiện thực. Về đề tài Thánh Gióng, Nguyễn Tư Nghiêm có bức sơn mài Thánh Gióng mang âm hưởng nghệ thuật dân gian, cường điệu nhưng rất hiện thực, màu sáng khí thế, không là gam trầm quen thuộc của Nguyễn Tư Nghiêm. Trong khi đó Gióng,sơn mài, 90x120,3 cm,1990 vẽ cách điệu, đường nét thẳng, khỏe khoắn, ngựa màu vàng trầm trên nền màu mận tươi. Cha mẹ sinh con, trời sinh tính. Sẵn có năng khiếu bẩm sinh, lại được nuôi dưỡng trong một gia đình có truyền thống hiếu học huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Cái gàn ông đồ xứ Nghệ rất nổi tiếng (cực đoan), nhờ “cái gàn” ấy mà Nguyễn Tư Nghiêm giữ được phong cách, đi đến thành công trong cuộc đời đấy bất trắc, xáo trộn. . Lặng lẽ, kín đáo, Nguyễn Tư Nghiêm bỏ qua tất cả những ồn ào, bon chen của cuộc sống để sống trọn vẹn với đam mê hội họa của mình.Ông ẩn mình trong căn phòng 12 mét vuông – thế giới riêng của ông - mãi đến năm 1984 ông mới có được một cuộc triễn lãm của riêng mình tại thủ đô Hà Nội. Ở tuổi bảy mươi ông mới chọn nửa kia của cuộc đời. Ông muốn giữ ma lực hội họa nơi mình, đồng thời giữ mình hòa đồng nơi trần thế. Bản thân họa sĩ Nguyễn Thu Giang vợ ông cũng là họa sĩ, nên kiềm chế (hy sinh) chất tự do, bay bổng của họa sĩ. Từ khi ở cùng ông, bà tự nguyện là chiếc bóng chăm sóc, nâng giấc cho ông. Ông hiểu hơn ai hết những hy sinh của vợ mình. Ông nói với bà: "Tôi biết mình hy sinh nhiều vì tôi. Tôi không có con nên những bức tranh như những đứa con của mình. Và từ ngày có mình, tôi vẽ được nhiều hơn. Đó cũng là những đứa con chung của chúng ta. Mình hãy giữ gìn và chăm sóc chúng". Và ông tâm nguyện sẽ xây dựng một bảo tàng Thu Giang về tranh Nguyễn Tư Nghiêm. Sống thu mình như một vị đạo sĩ giữa nơi phồn hoa đô hội... người đời vẫn nhận ra phong cách Nguyễn Tư Nghiêm qua tranh và qua cách sống và cống hiến hết mình cho hội họa.





© Tác giả giữ bản quyền .
. Cập nhật trên Newvietart.com ngày 28.02.2013 theo bản gởi của tác giả từ Sài Gòn.
. Đăng tải lại vui lòng ghi rõ nguồn Newvietart.com