Khỏa Thân tranh của P.O.Daunis NHỮNG GƯƠNG MẶT TIÊU BIỂU THI CA VIỆT NAM
KỲ THỨ 7 BẢN CHẤT THƠ HỒ XUÂN HƯƠNG
Đề tài “Con người và sự nghiệp văn chương của kì nữ họ Hồ” thật hấp dẫn nhưng cũng thật… hóc búa. Vì vậy tất cả những công trình nghiên cứu về nữ sĩ trước đây đều bộc lộ những bất cập. Thậm chí có những quan niệm hết sức sai lầm, sách vở, tối tăm, như cắt nghĩa hiện tượng thơ Hồ Xuân Hương là “tín ngưỡng phồn thực đi vào vô thức tập thể” hoặc “tính nhất nguyên của cái thiêng và cái tục”… Trong khi đó, cái chìa khoá (phương tiện tuyệt hảo) để giải mã bản chất con người và thơ Hồ Xuân Hương chính là nguyên lí nhân bản. Sự nghiệp thơ Hồ Xuân Hương được xây dựng trên cơ sở quán triệt nguyên lí nhân bản ấy, và đó chính là sự minh triết đáng thán phục của người nữ sĩ lỗi lạc. Nguyên lí nhân bản được “chiết xuất” từ nguyên lí căn bản của càn khôn vũ trụ: sự tương tác và hoà hợp âm – dương để tạo ra vạn vật. Ở loài người, đó là “ái lực” dẫn đến sự kết hợp của người nam và người nữ, từ đó sản sinh ra lạc thú không gì sánh nổi của thể xác và tinh thần (Hồ Xuân Hương gọi là “cái vui”), kích thích lòng ham muốn sống và sinh sản ra nhiều “hậu duệ” (như Lạc Long Quân và Âu Cơ sinh ra đến 100 người con)… Ở thời cổ (trước và trong khoảng thời đại Hùng Vương), khi tinh thần con người còn ở trạng thái “thơ ngây”, thô sơ, chất phác… thì phồn thực (sự sinh sản mạnh mẽ) và sinh thực khí (cơ quan sinh dục), hoàn toàn không bị coi là “dâm”, “tục” (mang nghĩa xấu). Đó là hiện tượng quần hôn, đa thê trong đời sống, là hành động tính giao công khai (được khắc hoạ trên các trống đồng). Ở nhiều nơi trên đất nước ta thời xưa còn tồn tại tín ngưỡng phồn thực, thờ sinh thực khí, linga – những “linh vật” tuyệt nhiên không mang tính chất dâm tục. Về cái “dâm” (sự ham muốn tình dục), xét theo quan điểm khoa học, chỉ là một thuộc tính thiên nhiên của con người, nằm trong phạm trù “dục” của “thất tình” (hỉ, nộ, ai, lạc, ái, ố, dục), là nhân tố hưng phấn cần thiết trong việc duy trì nòi giống. Vì vậy nó là một nhân tố tích cực cho sự phát triển của sự sống chứ không phải là cái xấu. Nó chỉ trở thành xấu do sự thái quá và sự hư đốn của một số người nào đó, nhất là những con người của những “xã hội văn minh” đã vứt bỏ những yếu tố thuần phác và lành mạnh của con người thời cổ. Marx và Engels từng có nhận xét rất đau xót rằng: “Trong xã hội văn minh, việc coi phụ nữ là đối tượng để thoả mãn tính dâm dục đã chứng tỏ sự thoái hóa cực độ của bản chất con người”. Hồ Xuân Hương do giữ được bản tính thiên chân nên bà cũng giống như những con người thời cổ, đã nhận thức một cách đúng đắn về bản chất tự nhiên lành mạnh của cái dâm, của hành vi tính giao, của sinh thực khí. Vì vậy trong thơ bà hoàn toàn không có sự “dâm loạn” mà chỉ hiện diện cái dâm, sự tính giao, sinh thực khí trong khuôn khổ tự nhiên, tạo nên những khúc hoan ca của cuộc sống nồng say, của hạnh phúc trần gian, của hạnh phúc lứa đôi, của sự sinh sôi nảy nở. Những cuộc tính giao trong thơ Hồ Xuân Hương không phải là của những hạng người đê tiện, tà dâm, mà là của những con người được bà gọi bằng những danh từ và nhân đại từ rất tốt đẹp như: chàng, thiếp (Nỗi niềm chàng có biết chăng chàng?/…Cái nghĩa trăm năm chàng nhớ chửa?/ Mảnh tình một khối thiếp xin mang; Ngọt bùi thiếp nhớ mùi cam thảo...); cô, cô mình, chị (Cô nào muốn tốt ngâm cho kĩ; Hỏi bao nhiêu tuổi hỡi cô mình?/ Chị cũng xinh mà em cũng xinh.); em (Thân em vừa trắng lại vừa tròn; Duyên em dính dáng tự bao giờ; Của em bưng bít những bùi ngùi); chị em (Rủ chị em ra tát nước khe; Hỡi chị em ơi có biết không?/ Một bên con khóc, một bên chồng); thiếu nữ (Thiếu nữ nằm chơi quá giấc nồng.); hiền nhân, quân tử, tài tử, văn nhân (Hiền nhân quân tử ai là chẳng/ Mỏi gối chồn chân vẫn muốn trèo; Quân tử có thương thì bóc yếm; Tài tử văn nhân ai đó tá?); trai, gái (Trai du gối hạc khom khom cật,/ Gái uốn lưng ong ngửa ngửa lòng.). Tuy nhiên, để ngăn ngừa sự thái quá và những tác dụng xấu của cái đề tài nhạy cảm ấy, Hồ Xuân Hương luôn miêu tả cái “dâm”, tính giao và sinh thực khí một cách hài hước, vui vẻ, bỡn cợt, đúng như cách làm của nhân dân khi sáng tác truyện tiếu lâm. Thời cổ đại (nước Văn Lang và Âu Lạc) chấm dứt, xã hội Việt Nam tồn tại và phát triển trong khuôn khổ của chế độ phong kiến. Từ một bản năng, một “thói xấu” của cộng đồng, trong ý thức của người Việt đã xảy ra một sự thay đổi tiêu cực: những linh vật thời cổ dần dần bị khoác cho ý nghĩa tục tĩu, xấu xa! Họ dùng chúng trong khi chửi rủa hoặc biểu thị sự căm ghét, tức giận, khinh bỉ. Mặt khác, vai trò thống trị về tư tưởng của Phật Giáo và Nho Giáo (những tôn giáo chính thống, thường không coi trọng, thậm chí hạ thấp sự luyến ái nam nữ, tính giao và sinh thực khí) cũng góp phần tác động vào quá trình biến đổi “từ thiêng đến tục” nói trên trong ý thức của người Việt. Tuy nhiên, trên thực tế của đời sống con người, bất chấp những quan niệm tiêu cực đó, bất kì ở đâu, bất kì thời đại nào, nguyên lí nhân bản (quyết định sự tồn tại theo tự nhiên của con người, của sự luyến ái nam nữ, của tính giao và sinh thực khí) vẫn tuyệt đối chi phối, điều hành sinh hoạt, lí trí và tình cảm của con người. Nhờ vậy, dòng giống Lạc Hồng từ chỗ chỉ có chừng một vài chục vạn người ở thời Hùng Vương, đến đầu thế kỉ XXI đã lên tới 80 triệu. Trong dân tộc ta vẫn luôn có một dòng chảy của ý thức đúng đắn về sự luyến ái nam nữ, về tính giao và sinh thực khí. Ca dao đã phơi bày những sự thật hiển nhiên, bất khả kháng: Ba cô đội gạo lên chùa, Một cô yếm thắm bỏ bùa cho sư. Sư về sư ốm tương tư, Ốm lăn ốm lóc cho sư trọc đầu (!) Trước Hồ Xuân Hương 300 năm, trong Hồng đức quốc âm thi tập thời Lê Thánh Tông, có 3 bài thơ thuộc dạng “tiền thân của thơ Hồ Xuân Hương” đã diễn tả tính giao và sinh thực khí một cách khoái chá: Gò nổi xương trâu rêu lún phún, Bãi lè lưỡi bạng (trai) bọt lăm tăm… Có kẻ kéo khan năm bảy lúc, Chờ cho thấy nước bõ đêm nằm.
(Kênh Trầm)
Cắm nhổ đầu ghềnh sào mấy cỗi, Nhấp nhô mặt nước đá hai hòn. Ngư ông đưa đẩy khoan thì nhặt…
(Vụng Bàn Than) Người ta cũng còn nhớ câu đối nổi tiếng của Nguyễn Giản Thanh thời Lê – Trịnh “Sắc bất ba đào dị nịch nhân” (Nữ sắc không phải sóng cả mà làm chết đuối được người ta) và câu thơ “tự thú” của Tú Xương Một trà một rượu một đàn bà Ba cái lăng nhăng nó quấy ta Chừa được thứ nào hay thứ ấy, Có chăng chừa rượu với chừa trà. Hồ Xuân Hương không may “sinh lầm” vào một thời đại phong kiến hủ bại, cách xa cái thời mà phồn thực là một tín ngưỡng, tính giao và sinh thực khí được toàn thể cộng đồng tôn trọng; nói cách khác, cách xa cái thời mà con người được tự do sống theo bản tính tự nhiên của mình. Là “con người thiên nhiên”, nghĩa là con người dù phải sống trong những xiềng xích của cuộc đời nhưng không bao giờ thừa nhận chúng, nữ sĩ nhìn thấu những nỗi đau khổ của những con người thời đại mình, nhất là “chị em phụ nữ”. Chắc chắn nữ sĩ cũng có cùng một nhận định như thi hào Nguyễn Du: “Đau đớn thay phận đàn bà/ Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung” . Thật vậy, phụ nữ thời phong kiến không được tự do sống với nhân bản của mình về tình cảm, tình yêu, hôn nhân, tình dục… do sự cấm đoán khắt khe của lễ giáo phong kiến, do tình trạng mông muội của một xã hội mà con người chưa có nhân quyền, hoặc do những bất hạnh cá nhân… Tấn bi kịch của giới phụ nữ, trong đó có Hồ Xuân Hương, đã được mô tả sâu sắc, ví dụ những câu thơ sau: Trước nghe những tiếng thêm rầu rĩ, Sau giận vì duyên để mõm mòm. Tài tử văn nhân ai đó tá? Thân này đâu đã chịu già tom?
(Tự tình)
Kẻ đắp chăn bông kẻ lạnh lùng, Chém cha cái kiếp lấy chồng chung. Năm thì mười hoạ, chăng hay chớ, Một tháng đôi lần có cũng không. Cố đấm ăn xôi, xôi lại hẩm, Cầm bằng làm mướn, mướn không công. Thân này ví biết dường này nhỉ Thà trước thôi đành ở vậy xong!
(Làm lẽ) Là chiến sĩ hăng hái đấu tranh cho hạnh phúc nhân bản của con người, Hồ Xuân Hương đã khẳng định và ca ngợi hạnh phúc của sự giao hoà âm dương lành mạnh, đẹp đẽ, đầy sinh thú: Hai chân đạp xuống năng năng nhắc, Một suốt đâm ngang thích thích mau.
(Dệt cửi)
Của em bưng bít vẫn bùi ngùi, Nó thủng vì chưng kẻ nặng dùi. Ngày vắng đập tung dăm bảy chiếc, Đêm thanh đánh lộn một đôi hồi. Khi giang thẳng cánh bù khi cúi, Chiến đứng không thôi lại chiến ngồi…
(Trống thủng) Thậm chí bà còn tỏ ra cảm thông và “khích lệ” con người tận hưởng cái “hạnh phúc trần gian” ấy: Quản bao miệng thế lời chênh lệch, Không có nhưng mà có mới ngoan!
(Không chồng mà chửa)
Gan nghĩa dãi ra cùng chị nguyệt, Khối tình cọ mãi với non sông. Đá kia còn biết xuân già giặn, Chả trách người ta lúc trẻ trung.
(Đá ông chồng bà chồng)
Hiền nhân quân tử ai là chẳng Mỏi gối chồn chân vẫn muốn trèo.
(Đèo Ba Dội) Hồ Xuân Hương đã làm một hành động cách mạng: xoá bỏ quan niệm coi tính giao và sinh thực khí là “tục”, khôi phục lại chân giá trị nguyên thuỷ của chúng, chứng minh rằng chúng chính là “cái vui”, là cái đẹp kì thú, đáng yêu: Cầu trắng phau phau đôi ván ghép, Nước trong leo lẻo một dòng thông. Cỏ gà lún phún leo quanh mép, Cá giếc le te lách giữa dòng…
(Giếng thơi) Sự minh triết tự nhiên đã khiến Hồ Xuân Hương nhận thức được một cách thấu triệt để rồi bà trở thành một vị tướng tiên khu lên tiếng khẳng định cái đẹp thiên chân của người phụ nữ, cái đẹp khoả thân Á Đông, đối lập với những quan niệm phong kiến và quan niệm cổ hủ của số đông dân chúng thời bấy giờ. Quan điểm tiến bộ của Hồ Xuân Hương đồng nhất với quan điểm của thi hào Nguyễn Du (Rõ màu trong ngọc trắng ngà/ Dày dày sẵn đúc một toà thiên nhiên) và quan điểm của các nhà văn hoá Phục Hưng và Ánh Sáng ở châu Âu, gặp gỡ quan điểm của nhà danh hoạ Goya: “Thân thể trần truồng của đàn bà là kiệt tác của thiên nhiên, còn ý nghĩ về sự dâm dục là sản phẩm của bản chất gian manh”. Những bức tranh khoả thân trong thơ Hồ Xuân Hương thật muôn phần đáng bái phục: Thiếu nữ nằm chơi quá giấc nồng. Lược trúc chải cài trên mái bướm, Yếm đào trễ xuống dưới lưng ong. Đôi gò Bồng Đảo sương còn ngậm, Một lạch Đào Nguyên suối chửa thông…
(Thiếu nữ ngủ ngày)
Cầu trắng phau phau đôi ván ghép, Nước trong leo lẻo một dòng thông.
(Giếng thơi) Trong đời sống riêng tư, dù gặp rất nhiều bất hạnh, Hồ Xuân Hương luôn luôn can đảm vươn lên để sống theo nhân bản của mình. Bà là người phụ nữ không chấp nhận cuộc sống hư sinh, không chấp nhận bị huỷ diệt, vì vậy bà đã dám làm những việc mình cần làm, dám tìm cái mình cần tìm, và do đó, ở một chừng mức, bà đã làm được và tìm được. Về bản chất, bà tuyệt đối không phải con người khuất phục số phận: bà đã giành lại từ tay số phận nhiều thứ vô giá thuộc về bà mà nó định cướp của bà. Trong địa hạt tình yêu, mặc dù có bao trở trăn, buồn khổ, bà là người phụ nữ đã được nếm hương vị kì diệu của nó trong quan hệ với những người tình của mình - đều là những con người “đáng mặt đàn ông” trong đó có cả thi hào Nguyễn Du. Đây là bài thơ ra đời từ một trong những mối tình đó: Này đoạn chung tình biết mấy (với) nhau, Tiễn đưa ba bước cũng nên câu. Trên tay khép mở tanh chiều nhạn, Trước mặt đi về gấp bóng câu. Nước mắt trên hoa là lối cũ, Mùi hương trong nệm cả đêm thâu. Vắng nhau mới biết tình nhau lắm, Này đoạn chung tình biết mấy nhau.
(Hoạ thơ Mai Sơn Phủ) Cái vĩ đại của Hồ Xuân Hương là ở chỗ bà không chỉ là một nữ thi sĩ mà còn là một “cân quắc anh hùng”. Bà đã dám một mình đứng lên giữa cuộc đời để sống cho mình theo bản chất của mình, và để chống lại những giáo điều phong kiến, chống lại tất cả những gì phi nhân bản. Bà đả kích chế giễu những kẻ sống trái với qui luật tự nhiên, như bọn hoạn quan, các ông sư, bà vãi hoặc những hạng người vô cảm, chỉ đứng “lượm tay” trước cái đẹp của tình yêu, của thiên nhiên. Mười hai bà mụ ghét chi nhau, Đem cái xuân tình vứt bỏ đâu? Rúc rích thây cha con chuột nhắt, Vo ve mặc mẹ cái ong bầu…
(Quan thị)
Chẳng phải Ngô, chẳng phải ta, Đầu thì trọc lốc, áo không tà. Oản dâng trước mặt dăm ba phẩm, Vãi nấp sau lưng sáu bảy bà…
(Sư hổ mang) Thơ Hồ Xuân Hương là tiếng nói mạnh mẽ đòi lại quyền làm người chính đáng, cảm thông, thương xót, an ủi những người bất hạnh vì phải sống trong cảnh cô đơn, “mất cân bằng âm dương”, như những phụ nữ goá chồng, những người vợ lẽ, những kẻ tình duyên lỡ dở hoặc muộn duyên, trong đó có bản thân bà: Chiếc bách buồn về phận nổi nênh, Giữa dòng ngao ngán nỗi lênh đênh… Ấy ai thăm ván cam lòng vậy, Ngán nỗi ôm đàn những tấp tênh.
(Tự tình I)
Văng vẳng tai nghe tiếng khóc chồng, Nín đi kẻo thẹn với non sông…
(Dỗ người đàn bà khóc chồng)
Văng vẳng tai nghe tiếng khóc gì, Thương chồng nên khóc tỉ tì ti. Ngọt bùi thiếp nhớ mùi cam thảo, Cay đắng chàng ơi vị quế chi.
(Bỡn bà lang khóc chồng) Hồ Xuân Hương thuộc hàng ngũ đạo quân những nhà nhân đạo chủ nghĩa của Việt Nam trong giai đoạn thế kỉ XVIII – đầu thế kỉ XIX như Nguyễn Gia Thiều (người bênh vực quyền sống của phụ nữ), Đặng Trần Côn (người nêu lên khát vọng hoà bình để đảm bảo hạnh phúc lứa đôi), Nguyễn Du (người nêu cao giá trị con người và tố cáo những thế lực vùi dập con người về vật chất và tinh thần). Không chỉ thế, ở Hồ Xuân Hương còn có sự thâm thuý phi thường của một nhà hiền triết thiên phú. Thấu hiểu được nguyên lí vĩ đại nhất của nhân loại là nguyên lí nhân bản, bà đã dùng nguyên lí đó làm hạt nhân cho toàn bộ trước tác của mình. Sự nghiệp thơ ca của bà là một cống hiến lớn lao và vô giá vào kho tư tưởng mang nội dung nhân bản của dân tộc ta, thống nhất với chủ nghĩa nhân văn Phương Tây và thế giới. Để thực hiện cuộc “cách mạng về quan niệm” nhằm giúp con người thoát khỏi những giáo điều, những nếp nghĩ lầm lạc, những thành kiến phi lí, tiến lên sống một đời sống “văn hoá nhân bản” đích thực, Hồ Xuân Hương đã huy động thi tài lỗi lạc, có một không hai của mình. Với nghệ thuật hài hước đặc sắc, cách miêu tả tài tình, ngôn ngữ tuyệt chiêu, với thủ thuật gãi đúng vào những sợi dây nhân bản, vào tính hiếu kì của con người, thơ bà đã khiến tất cả mọi người thuộc mọi tầng lớp, mọi thời đại thán phục, say mê, khoái chá, thậm chí “nghiện”, và không một ai không hoan hỉ chấp nhận những chân lí bà nêu ra. Khả năng chinh phục lòng người của thơ Hồ Xuân Hương đạt đến mức thần diệu. Hồ Xuân Hương là một nữ kiệt văn hoá của Việt Nam, đồng thời được thế giới đánh giá là một “kì nữ” trong làng thơ nhân loại. © Tác giả giữ bản quyền. . Cập nhật theo nguyên bản của tác giả gởi từ SaìGòn ngày 17.02.2013. . Trích đăng lại vui lòng ghi rõ nguồn newvietart.com
|