….
1. Thi phẩm ra đời trong thời buổi loạn li, quốc sử nước Tàu gọi là loạn An Sử (An Sử chi loạn, 安史之亂). Đây là một cuộc nổi dậy có quy mô lớn xảy ra từ năm 755 đến năm 763, trong thời vua Huyền Tông, Túc Tông và Đức Tông, nhà Đường. Cầm đầu cuộc khởi binh này là An Lộc Sơn (vốn là một Tiết độ sứ và thuộc hạ là Sử Tư Minh). Vì vậy các sử gia ghép tên hai người cầm đầu để chỉ sự biến trên. Đây thực chất là một cuộc chiến tranh nồi da nấu thịt, huynh đệ tương tàn của người Trung Hoa thời nhà Đường, mà nguyên nhân cốt lõi là sự suy vi của nhà nước chuyên chế phong kiến đứng đầu là ông vua theo quan niệm Nho giáo là đấng tối cao thiêng liêng bất khả tư nghị. Sử sách còn ghi lại sự kiện Đường Huyền Tông say mê Dương Quí Phi. Ông vua này say đắm tửu sắc từng thề với Quí Phi của mình vốn là thiếp của con trai thứ 16 của ông ta rằng: trên trời làm chim liền cánh, dưới đất làm chim liền cành; nghe lời xiểm nịnh của gian thần, tài năng cỡ như Lí Bạch cũng chỉ được dùng vào việc làm thơ phục vụ cho những cuộc hành lạc của ông ta và người đẹp, khiến thi tiên phải thốt lên những lời phẫn uất: uống cho muôn thuở tan sầu… Hoàn cảnh cảm hứng liên quan tới nỗi lòng Đỗ Thiếu Lăng trước tình cảnh loạn li nước nát nhà tan. Bởi vậy bài thơ mang cảm hứng về thời thế, thân thế và vươn tới tầm nhân thế.
2. Xuân vọng (春望 ) có thể chuyển ngữ thành ngóng xuân, mong xuân, đợi xuân…, nhưng có lẽ sâu xa hơn là mong ước đất nước Trung Hoa không còn cảnh loạn li, mong ước tổ quốc có một thánh đế, một triều đình biết thương yêu muôn dân, để bách tính trăm họ không còn phải chịu cảnh Tam lại Tam biệt, Binh xa hành… để không còn cảnh cửa son rượu thịt ôi, ngoài đường xương chết buốt, không còn cảnh ngoài biên cương máu đỏ chảy thành biển đỏ - mở cõi nhà vua ý chưa bỏ… Có gì đó giống như tâm sự của Đồ Chiểu xứ ta trong bài thơ Ngóng gió đông khi nước ta bị thực dân Pháp xâm lăng, hay tâm sự của Văn Cao trong ca khúc Mùa xuân đầu tiên viết sau ngày 30 tháng 04 năm 1975 vậy. Những nhân cách lớn , tài năng lớn thường gặp nhau trong suy tư về thời thế, nhân thế và thân thế chăng ?
3. Có nhiều bản dịch bài thơ này. Mặc dù có rất nhiều cố gắng nhưng dường như chưa có bản dịch nào chuyển tải hết điều mà Đỗ Phủ muốn nói với người đọc vì bài thơ hàm súc uyên áo của bậc thi thánh với quan niệm Tự bất kinh nhân tử bất hưu. Tôi chỉ mạo muội xin bàn về một chữ trong câu đầu của bài thơ Quốc phá sơn hà tại (國破山河在) mà thôi. Câu thơ này đã có những cách dịch sau:
Nước phá tan, núi sông còn đó, (Trần Trọng Kim)
Nước mất nhà tan còn sông núi (Lãng Nhai Trương Văn Tú)
Nước mất sông núi không (Phí Minh Tâm)
Nước mất nhưng núi sông còn, (Khương Hữu Dụng)
Nước tàn sông núi còn đây (Trần Trọng San)
Mất nước, còn sông núi (Hải Đà)
Nước mất còn sông núi (Tương Như)
Nước mất nhưng núi sông tồn tại, (Phụng Hà)
Nước tan, sông núi còn đây (Bùi Khánh Đản)
Nước mất, còn sông núi (không rõ người dịch)…
Giáo sư Nguyễn Khắc Phi cho biết: thời trẻ Mặc dầu rất yêu Đỗ Phủ nhưng không dám nhận dịch (thơ Đỗ Phủ - chúng tôi thêm). Tôi đem điều này tâm sự với anh Khương Hữu Dụng, nhà thơ - dịch giả lão thành. Anh Dụng cười bảo: “cậu chưa dịch được thơ Đỗ Phủ là đúng thôi, vì muốn dịch được thơ Đỗ Phủ, không chỉ đòi hỏi học vấn uyên thâm, năng lực dịch thuật mà còn phải có vốn sống sâu rộng. Cậu nên nhớ là mình phải trăn trở cả buổi mới tìm ra được chữ “trơ” để dịch chữ “tại” trong câu “Quốc phá sơn hà tại” trong bài Xuân vọng của Đỗ Phủ. Ngay chữ “phá” mà dịch là “mất” cũng chưa đạt. “Vong” mới là “mất”, còn “phá” giàu tính hình tượng hơn, nó làm cho ta nghĩ tới bức “Dư đồ rách” của Tản Đà, song chả lẽ lại dịch là Nước rách trơ sông núi!”(1). Tôi cho rằng tứ của bài thơ Thề non nước của Tản Đà và bài Người đi tìm hình của nước của chế Lan Viên chắc chắn ít nhiều liên quan đến câu thơ ta đang bàn. Hôm nay vào ngày đầu năm tháng Dần xuân Quí Tị (2013), đầu thập kỉ thứ hai của thế kỉ XXI, sau khi dâng mâm cỗ lên bàn thờ thắp nhang cúng gia tiên, tôi ngồi trước bàn phím compute mà gõ những dòng này. Tôi cho rằng chữ phá (破) là chữ mang tâm sự trầm tư u uất của thi thánh, mang dấu ấn của thời cuộc. Chữ này nên chăng dịch là nát. Và câu thơ này tôi dịch là: Nước nát núi sông còn. Đầu xuân xin chép lại những suy tư của mình về sự vĩ đại của Đỗ Phủ chỉ qua một chữ, người mà đại thi hào Nguyễn Du (1765 – 1820), danh nhân văn hóa thế giới tôn là thiên cổ văn chương thiên cổ sư, người mà Từ điển Bách khoa Mĩ nổi tiếng nhất đã nhận định: “Nhà thơ Trung Quốc thường được xem là vĩ đại nhất của mọi thời” (Chinese poet, often considered the greatest of all time” (Britanica CONCISE Encyclopedia 2006, trang 890). (2)
Vân Giang, mồng một, mồng ba 3 Tết Quí Tị
_________________________________________
CHÚ THÍCH:
(1), (2): Hồi ức và kỉ niệm về Đỗ Phủ - Nguyễn Khắc Phi 10.01.2013.trieuxuan.info.