Chung Quanh Hiệp Định Paris
về
Đình Chiến và Lập Lại Hòa Bình
ở Việt Nam


Quý vị đang nghe Piano Trio Archduke của Beethoven

Ngày 27/01/1973, trải qua 4 năm 9 tháng với 202 phiên họp công khai và 24 cuộc họp riêng, hội nghị Paris giữa hai đoàn đại biểu của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chính phủ Hoa Kỳ đã được chính thức ký kết tại Trung tâm các hội nghị quốc tế ở Paris (nước Pháp).

Hồi 11 giờ 30 (giờ Paris) ông Nguyễn Duy Trinh Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, thay mặt Chính phủ nước VNDCCH, bà Nguyễn Thị Bình thay mặt Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và thay mặt cho Chính phủ Hoa Kỳ ông William Roger và Chính phủ VNCH ông Trần Văn Lắm, bốn bên đã ký chính thức vào các bản tiếng Anh và bản tiếng Việt của Hiệp định về châm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam và ba nghị định kèm theo, gồm có :

1-Nghị định thư ngừng bắn tại miền Nam Việt Nam và các Ban liên hợp quân sự.

2-Nghị định thư về Ủy ban quốc kiểm soát và giám sát.

3-Nghị định thư về trao trả các nhân viên quân sự bị bắt và nhân viên nhân sự Việt Nam bị bắt và giam giữ.

Ngoài ba Nghị định thư nói trên, bản “Hiệp định về châm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam”, bốn bên còn ký bản Nghị định thư về Hoa Kỳ tháo gỡ mìn ở vùng biển, các cảng, sông ngòi nước Việt Nam DCCH.

Theo nội dung bản hiệp định nói trên, kể từ ngày ký kết, Hoa Kỳ chấm dứt chiến tranh xâm lược, chấm dứt sự dính líu về quân sự và can thiệp vào công việc của miền Nam Việt Nam, tôn trọng chủ quyền dân tộc tự quyết và bảo đảm các quyền tự do dân chủ của nhân dân miền Nam Việt Nam, nhân dân miền Nam tự quyết định tương lai chính trị của mình thông qua Tổng tuyển cử thật tự do và dân chủ. Việc thống nhất Việt Nam sẽ được thực hiện từng bước bằng phương pháp hòa bình.

Theo quy định, đến ngày 01/02/1973 mới công bố tin Hiệp định Paris đã ký kết và tù binh sẽ được trao trả. Ngày 02/02/1973 phiên họp đầu tiên của Trưởng đoàn quân sự bốn bên trong Ban Liên hợp quân sự Trung ương. Hội nghị đã thảo luận các vấn đề thực hiện ngừng bắn tại chỗ, rút quân đội nước ngoài ra khỏi miền Nam Việt Nam, tháo gở mìn.

Trước ngày trao trả tù binh, các phi công Mỹ bị bắt khi máy bay bị bắn rơi được giam giữ ở khách sạn Hilton (trại giam Hỏa Lò, Hà Nội) đều được may đo mỗi người một bộ quần áo màu xanh. Tất cả những đồ tư trang bị giữ khi bị bắt đều được trả lại, gồm có : gần 200 đồng hồ đeo tay, hơn 100 nhẫn vàng và đô-la. Việc trao trả tù binh này thực hiện làm bốn lần bằng đường hàng không tại sân bay Gia Lâm, Hà Nội.

-Trưa ngày 12/02/1973 : toán trao trả đầu tiên có 115 tù binh phi công, trong đó vào giờ chót có thiếu tá Browwanser bị bắt ở Nghệ An ngày 18/9/1968 được về sớm vì mẹ ốm nặng ở Hoa Kỳ…

-Chiều ngày 29/03/1973, toán tù binh phi công Mỹ cuối cùng gồm 107 người đã kết thúc việc trao trả tại sân bay Gia Lâm, Hà Nội. Trong số 472 tù binh phi công Mỹ được trao trả hồi hương có 4 đại tá, 38 trung tá, 177 đại úy, 126 trung úy, 7 hạ sĩ quan và 01 nhân viên dân sự.

Trước đó, vào buổi trưa cùng ngày, Bộ chỉ huy quân sự Mỹ ở miền Nam Việt Nam đã cuốn cờ tại căn cứ Tân Sơn Nhất. Tới 16 giờ 25 phút cùng ngày, tướng Wewand Tư lệnh quân sự Mỹ tại miền Nam Việt Nam làm lễ cuốn cờ rút quân về nước và cùng với 2.501 lính viễn chinh Mỹ cuối cùng với lính chư hầu Nam Triều Tiên (Hàn Quốc), Philippines đã rút khỏi nước ta, dưới sự kiểm soát của các sĩ quan quân đội nhân dân Việt Nam do Thiếu tướng Lê Quang Hòa trong ban Liên hợp quân sự bốn bên chỉ đạo.

Như vậy, trong 21 năm (1954-1975), nước Mỹ đã đưa 543.000 con em trực tiếp tham chiến ở Việt Nam. bao gồm 70% lục quân, 60% lính thủy đánh bộ, 50% hải quân, 60% không quân, động viên hơn 3 triệu thanh niên Mỹ vào quân dịch. Có 58.022 người Mỹ nằm xuống, 2.118 người Mỹ bị mất tích (toàn Đông Dương), 300.000 người bị thương, 4.181 máy bay rơi ở Bắc Việt Nam, 7,7 triệu tấn bom ném xuống Bắc Việt Nam, sức công phá tương đương 385 quả bom nguyên tử mà đế quốc Mỹ đã ném xuống hai thành phố của nước Nhật năm 1945.

Tuy rút khỏi miền Nam Việt Nam nhưng đế quốc Mỹ vẫn tiếp tục viện trợ cho chính quyền Nguyễn Văn Thiệu ở Sài Gòn nhiều vũ khí và phương tiện chiến tranh, để lại nhiều nhân viên quân sự trá hình để tiếp tục điều khiển quân đội của chính quyền Sài Gòn. Do đó, dân quân Việt Nam bắt buộc phải tiếp tục cuộc kháng chiến ở miền Nam sau khi hiệp định Paris được ký kết cho đến ngày thắng lợi cuối cùng để thống nhất đất nước 30/4/1975.

Thắng lợi của nhân dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước khởi đầu từ Hiệp định Paris được ký kết, mối quan hệ hai nước Việt Nam-Trung Quốc bắt đầu có vấn đề. Tháng 6/1973 tại Bắc Kinh (thủ đô Trung Quốc) đã diễn ra cuộc hội đàm giữa lãnh đạo Đảng và Chính phủ Trung Quốc với lãnh đạo Đảng và Chính phủ nước VNDCCH. Tại cuộc hội đàm, Trung Quốc muốn công cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ của ta tiếp tục kéo dài thêm 5 hoặc 10 năm nữa. Thế nhưng, dân và quân Việt Nam luôn có ý chí tự lực tự cường, dũng cảm chiến đấu không khoan nhượng với bất kỳ kẻ thù nào nuôi mộng xâm lược Việt Nam. Ngoài việc gây khó khăn và cản trở cuộc kháng chiến của nhân dân ta, Trung Quốc còn tiến hành xâm lược lãnh thổ nước ta gây căng thẳng ở vùng biên giới Việt Nam, hải phận Bắc Bộ và quần đảo Hòang Sa, Trường Sa, như tạo ra cuộc chiến tranh đẫm máu ở biên giới Việt – Trung, tấn công các tỉnh biên giới phía Bắc năm 1979, chiếm đóng Hoàng Sa từ năm 1974 và hiện nay gây sóng gió ở biển Đông như vẽ “đường lưỡi bò” bao biển đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam từ lâu đời, kể cả trong thời kỳ bị chia cắt tạm thời bởi hiệp định Geneve. Ngày 06/09/1973, chính quyền Sài Gòn ở miền Nam Việt Nam sáp nhập quần đảo Trường Sa vào xã Phước Hải, quận Đất Đỏ tỉnh Phước Tuy (nay là Bà Rịa-Vũng Tàu). Thế nhưng ngày 11/07/1974 Trung Quốc phản đối việc này. Ngày 26/12/1973, chính phủ Việt Nam DCCH đề nghị chính phủ Trung Quốc mở cuộc đàm phán để xác định đường biên giới giữa hai nước trong vịnh Bắc Bộ để Việt Nam sử dụng phần biền của mình phục vụ công cuộc xây dựng đất nước. Ngày 18/01/1974, Trung Quốc trả lời chấp nhận đề nghị của Việt Nam là mở cuộc đàm phán để xác định đường biên giới nói trên nhưng lại yêu cầu Việt nam không được tiến hành việc thăm dò trong một khu vực rộng 20.000 km2 vịnh Bắc Bộ, và không được cho nước thứ ba thăm dò vịnh Bắc Bộ, một hành động vô cùng phi lý và phi pháp. Chính vì lý do này mà trong cuộc đàm phán giữa hai nước từ tháng 8 đến tháng 11/1974 đã không đi đến kết quả.

Ngày 19/01/1974, Trung quốc cho hải quân tiến đánh ngụy quân Sài Gòn rồi chiếm quần đảo Hoàng Sa. Ngày 20/01/1974, Trung Quốc lại cho máy bay ném bom xuống ba đảo Hữu Nhật, Quang Anh và Hoàng Sa, sau đó lại cho hải quân đánh chiếm phần phía Tây của đảo Hoàng Sa, đồng thời Bộ ngoại giao Trung Quốc ra tuyên bố về quần đảo Hoàng Sa là của họ nên họ đòi quyền làm chủ ở quần đảo này. Tiếp theo là chính quyền Đài Loan (Tưởng Giới Thạch) gởi công hàm cho chính quyền Sài Gòn đòi chủ quyền 4 đảo ở biển Đông gần Hoàng Sa. Ngày 29/01/1974, Bộ Ngoại giao chính quyền Sài Gòn trả lời Đài Loan, khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa. Cùng ngày, chính quyền Sài Gòn cho quân tăng cường đến quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa. Trung Quốc cho hành động này là khiêu khích đối với Trung Quốc.

Ngày 01/02/1974, Phó Trưởng đoàn đại biểu của Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và chính quyền Sài Gòn tại Liên Hợp Quốc gởi công hàm thông báo hành động xâm lược chủ quyền Việt Nam của Trung Quốc tại Hoàng Sa cho Hội đồng Bảo an và Tổng Thư ký LHQ. Ngày 30/03/1074, tại Hội đồng Kinh tế Viễn Đông họp tại Colombo, một lần nữa đại biểu chính quyền Sài Gòn lại khẳng định chủ quyền của Việt Nam tại hai quần đảo Hoàng Sa,Trường Sa. Ngày 14/04/1975 quân đội ta giải phóng đảo Song Tử Tây (Trường Sa). Và hiện nay, Việt Nam đang đòi lại Hoàng Sa bằng đường lối ngoại giao và hòa bình, tuyên truyền, vận động thế giới ủng hộ chủ quyền Việt Nam ở Hòang Sa bằng trưng bày nhiều chứng cớ, tư liệu, hiện vật có liên quan.

Kỷ niệm 40 năm ngày ký kết hiệp định Paris thắng lợi nhắc nhở chúng ta nhớ về Hòang Sa – mảnh đất ngoài khơi biển Đông là máu xương, da thịt của dân tộc Việt Nam từ nhiều thế kỷ không thể bị mất. Bác Hồ từng khẳng định với nhà báo phương Tây năm 1946 khi thực dân Pháp trở lại xâm chiếm miền Nam :”C’est la chair de notre chair. C’est le sang de notre sang”. (Chính là thịt của thịt chúng tôi. Chính là máu của máu chúng tôi).

_____________________________________________________



© Tác giả giữ bản quyền.
. Đăng ngày 12.02.2013 theo nguyên bản của tác giả chuyển từ Sài Gòn.
. TRÍCH ĐĂNG LẠI VUI LÒNG GHI RÕ NGUỒN NEWVIETART.COM .