Tết Việt


PHAN

Quý vị đang nghe tiếng đàn của cố nhạc sĩ Vô Thường

Tết Nguyên Đán, hay còn gọi là Tết Ta, Tết Âm lịch, Tết Cổ truyền,... cũng chỉ là những tên gọi theo ba miền đất nước nhưng chỉ chung lễ hội quan trọng nhất trong năm của người Việt Nam. Do chịu ảnh hưởng văn hóa Tàu, nên cụm từ “Tết Nguyên Đán” có nguồn gốc từ chữ Hán: "Tết" do chữ "Tiết" mà thành, "Nguyên" là sự khởi đầu và "Đán" là buổi sáng sớm. Nếu đọc đúng phiên âm sẽ là "Tiết Nguyên Đán" nhưng Hán tự thường được (bị) Việt hoá theo thời gian, nên "Tiết Nguyên Đán" dần thành “Tết Nguyên Đán” trong văn hoá Việt. So với người Tàu ngày nay vẫn gọi Tết là Xuân tiết, Tân niên, Nông lịch tân niên.

Trung Hoa và một số nước chịu ảnh hưởng văn hóa Trung Hoa dùng lịch pháp theo chu kỳ vận hành của mặt trăng mà người Việt gọi là lịch Tàu (Âm lịch) để phân biệt với Tây lịch (Dương lịch) của người phương tây. Từ đó, Tết Nguyên Đán muộn hơn Tết Dương lịch (Tết Tây), vì theo Âm lịch, 3 năm nhuận một tháng nên ngày đầu năm của dịp Tết Nguyên Đán sẽ không trước ngày 21 tháng 1 Dương lịch và sau ngày 19 tháng 2 Dương lịch mà thường rơi vào khoảng cuối tháng 1 đến giữa tháng 2 Dương lịch. Tết Nguyên đán thường kéo dài từ 23 tháng Chạp (đưa ông Táo về trời đến hạ nêu, ngày 7 tháng Giêng).

Văn hóa Đông Á hình thành và phát triển theo nền văn minh lúa nước. Từ đó, nhu cầu canh tác nông nghiệp đã phân chia thời gian trong năm thành 24 tiết để tiện việc gieo trồng, thời gian chuyển tiết gọi là giao thời và quan trọng nhất là tiết khởi đầu của một chu kỳ canh tác, gieo trồng là Tết Nguyên Đán. Tiết Nguyên Đán trong lịch sử Trung quốc có từ đời Tam Hoàng Ngũ Đế và thay đổi theo từng thời kỳ. Đời Tam đại, nhà Hạ chuộng màu đen nên chọn tháng giêng, tức tháng Dần. Nhà Thương thích màu trắng nên lấy tháng Sửu, tức tháng Chạp, làm tháng đầu năm. Nhà Chu sính sắc đỏ nên chọn tháng Tý, tức tháng mười một, làm tháng Tết. Các triều đại quan niệm về ngày giờ tạo thiên lập địa như sau: giờ Tý có trời, giờ Sửu có đất, giờ Dần sinh loài người nên đặt ra ngày tết khác nhau. Đến đời Đông Chu, Khổng Tử đổi ngày Tết vào một tháng nhất định là tháng Dần. Đời nhà Tần (thế kỷ 3 trước Công nguyên (TCN), Tần Thủy Hoàng lại đổi qua tháng Hợi, tức tháng mười. Đến thời nhà Hán, Hán Vũ Đế (140 TCN) lại đặt ngày Tết vào tháng Dần, tức tháng giêng. Từ đó về sau, không còn triều đại nào thay đổi về tháng Tết nữa.

Đối với Việt Nam, sau 1954 chia đôi đất nước theo Hiệp địng Genève. Miền Bắc lấy theo giờ Bắc Kinh để thể hiện tính chư hầu, nên ngày 8 tháng 8 năm 1967, Hà nội ban hành đổi lịch theo Bắc Kinh. Vì thế, hai miền nam-bắc Việt Nam đón Tết Mậu Thân (1968) nhằm hai ngày khác nhau (miền bắc: 29 tháng 1 trong khi miền nam: 30 tháng 1). Những thay đổi mang tính chất phá vỡ truyền thống, phong tục tập quán, văn hoá dân tộc để đồng hoá vào chủ nghĩa vô thần thế giới. Nhưng đã không thay đổi được quan niện của người Việt về ngày Tết cổ truyền, ngoài ý nghĩa thời gian tính còn mang tính chất tâm linh được lập đi lập lại thành thói quen, lâu ngày thành phong tục và theo thời gian, truyền đời, đã thành văn hoá dân tộc.

Người Việt quan niệm ngày Tết mọi thứ đều phải đổi mới cho phù hợp, giao hoà giữa con người và thiên nhiên. Nên giàu-nghèo năm cũ - người Việt cũng sơn nhà, sửa cửa; sắm sửa, may mặc quần áo mới trong dịp Tết. Kiêng cữ không nóng giận, tranh chấp, gây bất hoà trong những ngày đầu năm với người thân, láng giềng. Ngược lại, Tết là dịp để mọi người hàn gắn những hiềm khích cũ, chuộc lỗi lầm xưa... Mọi người đi thăm viếng nhau trong tình nhân ái. Trẻ em sau khi chúc Tết người lớn còn được lì xì bằng bao thơ đỏ với chút tiền ttượng trưng, được xem như lộc đầu năm của ông bà ban tặng con cháu sự may mắn để năm mới hanh thông trên đường học vấn và khôn lớn nên người. Tết 3 miền Bắc, Trung, Nam có những khác biệt mang tính chất địa phương nhưng quy về một mối - Tết truyền thống của dân tộc, nên dù khác biệt nào cũng không ngoài ý nghĩa chung là tưởng nhớ tiền nhân qua thể hiện lòng thành của đời sau; giao kết những quan hệ mới và xoá bỏ hiềm khích nếu có trong quan hệ cũ. Với bản chất cầu an và lòng hiếu hoà của người Việt, Tết là nét văn hoá nhân bản của dân tộc có lịch sử lâu đời Việt Nam.

Tết Việt Nam thường bắt đầu bằng những phiên chợ Tết từ 25 tháng Chạp đến 30, vẫn bán đủ thứ, nhưng tập trung vào các mặt hàng Tết như lá dong để gói bánh chưng, lá chuối gói bánh tét, nếp, đậu gói bánh, nấu xôi, gà, heo, bánh mứt, các loại trái cây thờ cúng để mọi người có thể bày mâm ngũ quả cúng tổ tiên trong những ngày đầu năm. Chợ Tết nhộn nhịp vì nhu cầu mua sắm cao theo quan niệm năm mới đổi mới. Đồng thời, lý do cung-cầu quan trọng khác là bạn hàng chợ thường nghỉ buôn bán những ngày đầu năm để có thời gian xum họp với gia đình, cúng kiếng tổ tiên - thể hiện lòng thành. - Một trong những căn bản về quan niệm đạo đức của người Việt, taọ thành tiêu chuẩn đạo đức trong xã hội và được lưu truyền như một nét văn hoá độc đáo và đẹp đẽ của dân tộc. Để ngợi ca tinh thần hiếu để của dân gian, ca dao cũng tô điểm cho văn hoá dân tộc qua truyền miệng: Mồng một tết cha mồng hai tết chú mnồng ba tết thầy, là những bậc sinh thành dưỡng dục nên con người có tri thức và đạo đức trong xã hội.

Với người buôn bán, chiếm tỷ lệ 10% trong xã hội 90% làm nông nghiệp, ca dao cũng nhắc tới lòng thành của giới... trăm người mua cũng thua người bán này; nhưng chỉ là mưu sinh. Con người thì phải hiếu kính, ghi nhớ công ơn sinh thành dưỡng dục của tổ tiên nên không họp chợ những ngày đầu năm để có thời gian thờ cúng ông bà. Qua ca dao còn lại chứng minh cho lòng thành của giới phi thương bất phú: mồng bốn chợ ma, mồng ba chợ người. Kẻ chợ thường họp chợ mồng ba, vì mồng năm, mười bốn, hăm ba - đi chơi cũng thiệt nữa là đi buôn.

Nói tới chợ Tết ở quê xa thì ngàn trang không hết vì theo chiều dài lịch sử và chiều dài đất nước tạo nên sinh thái miền và sắc thái địa phương vô cùng phong phú. Chỉ có thể tóm tắt đôi dòng qua chợ Tết để thương hoài ngàn năm, nhớ về cố thổ... Người đi chợ Tết dù thuộc giới giàu hay nghèo thì tùy túi tiền mà mua cho được mâm ngũ quả để cúng tổ tiên, - trước thể hiện lòng thành, ơn nghĩa sinh thành; sau cầu mong năm mới an khang, thịnh vượng, nên: Cầu vừa đủ xài (mảng cầu, dừa, đu đủ, xoài) là bốn loại trái không thể thiếu trên mâm ngũ quả, trên bàn thờ gia tiên trong những ngày đầu năm mới. Loại trái thứ năm có thể là trái thơm, thường là trái sung, - mang ý nghĩa sung túc, sung mãn trong năm mới.

Chợ Tết dù buôn may bán đắt cách mấy cũng kết thúc trước Giao thừa, để còn về xum họp gia đình, cúng kiếng gia tiên - là một nét văn hoá khó dân tộc nào sánh bằng người Việt xưa. Người Việt nay trong nước với những bài xích từ chủ nghĩa vô thần thống trị, có những khó khăn nhất định của thể chế. Người Việt hải ngoại do đời sống thay đổi, địa dư thay đổi; ngôn ngữ đổi thay... lòng còn nặng bóng hình quê cũ và những nét đẹp trong văn hoá tự hào. Lòng hoài cảm, hoài xuân của người Việt hải ngoại hàng năm vẫn thấy những khu chợ Tết, vui xuân của người Việt trên những vùng địa dư băng giá xa xôi với quê nhà.

Nói là đôi dòng về chợ Tết vì không sao nói hết; nhưng lòng ai không nhớ ngậm ngùi về những chợ Tết ba mươi hoa tàn, cải héo... khi hoàn cảnh trớ trêu và những chợ Tết ba mươi tay trong tay thời mới lớn; chợ Tết ba mươi những năm ăn nên làm ra - người ta tản dạo chợ hoa như tự chiêm ngưỡng thành quả đạt được của mình sau một năm hanh thông, phát đạt... Không từ ngữ nào diễn tả tâm trạng chiều ba mươi hay hơn từ “bânng khuâng”. Cái bâng khuâng kẻ sĩ, tâm trạng kẻ hèn đều chìm sâu, lắng đọng... lòng người mở ra những thứ tha, coi nhẹ hận thù để đón mừng năm mới yêu thương đồng loại, là một nét văn hoá chan hoà nhân ái trong quan hệ con người, đồng loại đã thành văn hoá Việt Nam.

Tết cổ truyền của người Việt thường bắt đầu từ 23 tháng Chạp, nhà nhà cúng đưa ông Táo về trời và dựng nêu trước ngõ bằng cây tre - là thổ sản quê nhà, con người và thực vật chung miềm địa dư, khí hậu... cũng như nhau. - Dẻo dai, thanh cao, bền bỉ trước gió mưa và ngoan cường, kiêu hãnh... những đặc tính nhân tính của cây tre được chọn làm cây nêu không phải ngẫu nhiên. Một chọn lọc nhân hoá ý nghĩa trong những ngày đầu năm mới với sức sống vươn lên bầu trời cao rộng một cách thanh thoát, bất khuất của cây tre, - thể hiện khát vọng tự do, bình an, thịnh vượng... một cách thanh cao nhưng nhưng hiền hoà trong lòng người Việt muôn đời.

Cây nêu thường treo cả địa phương lên ngọn, như vàng mã, bùa trừ tà, cành xương rồng, bầu rượu bằng rơm, cá chép để táo quân về trời, giải điều... những chiếc khánh nhỏ bằng đất nung theo gió thổi, vui tai... Ở Gia Định xưa, sách Gia Định Thành Thông Chí của Trịnh Hoài Đức, Tập Hạ chép rằng: "bữa trừ tịch (tức ngày cuối năm) mọi nhà ở trước cửa lớn đều dựng một cây tre, trên buộc cái giỏ bằng tre, trong giỏ đựng trầu cau vôi, ở bên giỏ có treo giấy vàng bạc, gọi là "lên nêu"... có ý nghĩa tiêu biểu cho năm mới và tảo trừ những xấu xa trong năm cũ". Người Việt xưa tin rằng những vật treo ở cây nêu, tiếng động của những khánh đất làm cho ma quỷ không dám tới quấy nhiễu trong thời gian Táo quân về trời từ 23 tháng Chạp đến đêm Giao thừa.

Vào buổi tối, người xưa treo đèn lồng lên cây nêu để tổ tiên biết đường về nhà ăn Tết với con cháu. Đốt pháo vào đêm trừ tịch ở cây nêu để mừng năm mới đến, xua đuổi ma quỷ hoặc những điều không may... Cũng là một lý do thêm vô kho tàng tín ngưỡng của người Việt nam xưa. Đến ngày 7 tháng Giêng hạ nêu, hết Tết. Mọi người trở về với công việc mưu sinh thường nhật, kết thúc lễ hội quan trọng nhất trong năm. Những giao dịch tái khởi động, người vay kẻ nợ không bị đòi nợ trước hạ nêu là đặc trưng nhân bản trong văn hoá Tết.

Sau bữa cúng đưa ông Táo về trời, người Việt dọn dẹp, trang hoàng nhà cửa để ăn Tết. Tranh dân gian Việt Nam là một phần không thể thiếu trong căn nhà Việt Nam xưa mỗi độ xuân về. Những bức tranh Đông Hồ, Tranh Hàng Trống được trang trọng dán lên tường nhà để đón mừng năm mới. Phía trên bàn thờ thường treo tranh ngũ quả, hay một chữ Nho (Tâm, Phúc, Đức...) tùy lòng gia chủ hướng cầu. Tranh Tết trở thành một tập quán của người Việt Nam trong không gian ngày Tết cổ truyền. Màu sắc rực rỡ khơi gợi tâm linh, ấm cúng, rộn rã sắc xuân trong mỗi gia đình - thượng vàng hạ cám cũng vui xuân. Những nhà khá giả hơn, trí thức hơn trong dân dã còn lên câu đối đỏ để thưởng xuân. Những câu đối được viết bằng chữ Nho trên giấy hồng đào nên được gọi là câu đối đỏ. Tiêu biểu cho câu đối Tết trong dân gian Việt Nam còn mãi với thời gian câu bất hủ: “Thịt mỡ, dưa hành, câu đối đỏ/ Cây nêu, tràng pháo, bánh chưng xanh.”

Sau màu đỏ tượng trưng cho Phúc trong nhà. Người Việt xưa sính hoa ngày Tết. Hoa Tết đặc trưng là đào ở miền Bắc và mai trong miền nam. Hai loài hoa mang đặc tính hai miền đất nước. Về hoa đào có sự tích: Ở phía Đông núi Sóc Sơn, có một cây hoa đào to lớn khác thường. Có hai vị thần tên là Trà và Uất Lũy trú ngụ trên cây hoa đào thiên tuế, uy quyền lẫm liệt, che chở cho dân chúng khắp vùng. Làm khiếp sợ ma quỷ. Nhưng đến cuối năm, hai thần Trà và Uất Lũy cũng phải lên thiên đình chầu Ngọc Hoàng, ma quỷ hoành hành lúc quyền uy vắng bóng, nên dân chúng đi bẻ cành hoa đào về cắm trong nhà, hoặc vẽ hình 2 vị thần linh trên giấy hồng điều dán ở trước nhà, ma quỷ không dám quấy nhiễu.

Trong khi ở miền nam khí hậu nóng hơn miền bắc, không thích hợp cho hoa đào thì hoa Mai đơm bông nẩy lộc mỗi dịp Xuân về Tết đến. Miền Trung và miền Nam dùng cành mai vàng tượng trưng cho sự cao thượng vinh hiển phú quý, màu vàng còn tượng trưng cho vua trong thời phong kiến. Màu vàng thuộc hành Thổ trong Ngũ hành, theo quan điểm người Việt, Thổ nằm ở vị trí trung tâm và màu vàng được tượng trưng cho sự phát triển nòi giống. Đối với người miền Nam, nếu hoa Mai nở đúng vào lúc đón giao thừa hay sáng sớm ngày mùng một Tết thì sự may mắn, thịnh vượng, và hạnh phúc sẽ đến với cả gia đình trong năm mới.

Ngoài ra, nhà nào cũng có thêm những loại hoa để thờ cúng và trang trí. Hoa thờ có vạn thọ, cúc, hoa huệ... hoa trang trí tùy thích sắc màu, mùi hương, có: hoa hồng, thủy tiên, lan, thược dược... lá măng, thạch thảo cắm kèm cho thêm phong phú ý nghĩa sum vầy của ngày Tết dân gian. Cây quất (quýt) cũng là cây được coi trọng trong những ngày Tết vì sự xum xuê, xanh tốt, quả vàng chi chít thể hiện sự trù phú, hứa hẹn năm mới được mùa, ăn nên làm ra, dồi dào sinh lực...

Sau khi an ổn về hình thức để ăn Tết, nhà nhà quay về chuẩn bị thức ăn cho những ngày đầu năm cũng thịnh soạn và sang cả tương đương với hình thức trang trọng lẫn trang nghiêm của không khí đầu năm. Theo phong tục của người Việt thì Tết không thể thiếu bánh chưng - ngoài bắc và bánh tét trong nam. Người xưa thường gói bánh sớm để còn đi thăm mồ mả gia tiên, sửa sang, dọn cỏ, quét vôi và làm mâm cúng mời tổ tiên về ăn Tết với con cháu trước ngày Ba Mươi tháng Chạp. Bánh mứt tùy miền cũng được bàn tay nội trợ của người Việt Nam xưa làm ra trong dịp này để ăn Tết. Gia đình sum họp ăn bữa tất niên. Đón Giao thừa là thời khắc quan trọng của ý nghĩa tống cựu nghinh tân. Trong thời khắc giao thừa mọi người trong gia đình thường dành cho nhau những lời chúc tốt đẹp nhất. Cúng Giao thừa (hay lễ Trừ tịch): là lễ cúng để đem bỏ hết đi những điều xấu của năm cũ sắp qua để đón những điều tốt đẹp của năm mới sắp đến. Tùy tôn giáo sẽ đi nhà thờ để đọc kinh đầu năm hay đi chùa hái lộc đầu năm về nhà cầu an, hưởng phúc.

Sang ngày Mồng Một tháng Giêng: ngày Tân niên quan trọng. Những người tốt phúc, hợp tuổi được mời đi xông đất. Vào sáng sớm ngày này, người Việt xưa thường không ra khỏi nhà, chỉ bày cúng Tân niên, tiệc tùng, chúc tụng trong gia đình. Những gia đình trẻ đã ra riêng thì trở về nhà cha mẹ theo phong tục: Mồng Một Tết cha. Sang Mồng Hai Tết mẹ. Người đã có gia đình thì về bên ngoại; người sắp lập gia đình phải đến nhà cha mẹ vợ tương lai để chúc Tết theo tục Đi sêu. Sang Mồng Ba học trò thường đến chúc Tết thầy dạy học theo tục Mồng Ba Tết thầy. Những sinh hoạt vui chơi trong ba ngày xuân tràn lan xóm làng, hoà quyện vào không gian và lòng người năm mới cát tường.

Với riêng từng cá nhân sẽ xuất hành đầu năm theo hướng, theo giờ tùy tuổi tùy năm trong ba ngày Tết, là những phong tục hầu như không còn tồn tại nhiều trong đời sống hiện đại nhưng luôn ở trong văn hoá dân tộc như một ký ức đẹp đẽ về thuở đất trời chưa lắm bụi hồng gian truân như ngày nay. Mồng Bốn tháng Giêng hoá vàng, tiễn chân ông bà tổ tiên đã về ăn Tết. Hai ngày Mồng Bốn và Mồng Năm, người xưa kiêng xuất hành vì đây là ngày không tốt. Sang Mồng Bảy Khai hạ. Người Việt làm lễ hạ Cây nêu, gọi là lễ Khai hạ, kết thúc dịp Tết Nguyên đán và bắt đầu bước vào việc làm ăn trong năm mới từ ngày Mồng Tám hoặc Mồng Chín tháng Giêng.





© Tác giả giữ bản quyền.
. Cập nhật ngày 29.01.2013 theo nguyên bản của tác giả gởi từ Hoa Kỳ.
. Đăng tải lại vui lòng ghi rõ nguồn Newvietart.com