Thành Phố Đà Nẵng Ngày Nay
Với Góc Nhìn
Văn – Sử - Địa Ngày Xưa


Quý vị đang nghe Piano Trio Archduke của Beethoven

Đà Nẵng ngày nay đã nhanh chóng trở thành một thành phố du lịch sáng giá, mỗi ngày có cả ngàn lượt khách du lịch trong và ngoài nước vãng lai để viếng thăm nhiều di tích, thắng cảnh ngay trong nội thành và ngoại thành rồi khắp cả tỉnh Quảng Nam. Thành phố Đà Nẵng đang trở thành một đô thị kiểu mới với nhiều kiến trúc và cơ sở hạ tầng hiện đại xây dựng từ vài năm trở lại đây, khi nó trở thành một thành phố trực thuộc trung ương.

Thành phố có 6 quận, 2 huyện trong đó có các quận huyện nổi tiếng như Hoàng Sa (quần đảo Hoàng Sa nằm ở biền Đông đang bị Trung Quốc chiếm giữ trái phép và Việt Nam đang đòi lại), Sơn Trà (bán đảo nằm bên kia sông Hàn được nối liền bởi cầu quay và cầu dây giăng Nguyễn Văn Trỗi đang trở thành khu công nghiệp sản xuất và du lịch), Ngũ Hành Sơn (có núi, hang động và chùa Ngũ Hành Sơn)… Diện tích toàn thành phố có trên 1.283 km2 với số dân chưa đầy một triệu người.

Các cơ quan thông tấn đang ca ngợi thành phố Đà Nẵng với các cuộc vận động phong trào mang tên “7 không, 3 có”, trong đó có : không sì ke ma túy, không trộm cắp, không người ăn xin…và “3 có” là dân nghèo có nhà ở, có việc làm, có thu nhập cao.

1-Đà Nẵng với tiến trình khai phá đất phương Nam :

Việt Nam là dải đất dọc theo chiều Bắc - Nam dài trên 2.600 Km nhưng lại hẹp ở khúc giữa miền Trung, phình rộng ở hai đầu Bắc và Nam, có hình dáng chữ S nằm ôm lấy bờ biển Đông dài trên 1.600 Km hình thành ba miền :Bắc, Trung, Nam, trở thành cửa ngõ nhìn ra biển Đông tiếp giáp với Thái Bình Dương và là hành lang rộng thoáng từ Đông sang Tây địa cầu, nối liền miền Cận Đông với miền Viễn Đông. Ngay từ khi loài người xuất hiện, dải đất và biển này đã là bàn đạp cho nhiều chủng tộc từ miền Nam chuyển cư lên miền Bắc châu lục, từ Đông sang Tây và ngược lại. Với vị trí địa lý đẹp này, lịch sử phát triển đất nước và dân tộc Việt Nam cũng được tiến hành theo từng thời kỳ, từng giai đoạn khác nhau nhưng chung cục, Việt Nam vẫn là một đất nước – dân tộc thống nhất vững chắc (có tới 54 dân tộc sinh tụ khắp mọi nơi từ sau kỷ nguyên đồ đá), gắn kết với nhau chặt chẽ và có tinh thần đoàn kết, thương yêu, đùm bọc lẫn nhau rất bền vững, thông qua ý nghĩa các câu tục ngữ, ca dao mang tính nhân văn, dân tộc rất cao, vô cùng quý giá có từ ngàn xưa :

-Máu chảy ruột mềm
-Chị ngã em nâng.
-Một con ngựa đau, cả tàu không ăn cỏ.

-Bầu ơi, thương lấy bí cùng
Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn !

-Nhiễu điều phủ lấy giá gương
Người trong một nước phải thương nhau cùng...

và còn cả một kho tàng văn học dân gian chứa đựng hàng hà sa số những câu ca dao, tục ngữ tương tự như thế. Chính tinh thần dân tộc mang tính truyền thống đoàn kết này đã cho thấy rất rõ nét câu nói của một danh nhân về sự thống nhất keo sơn :”Đất nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một. Sông có thể cạn, núi có thể mòn. Song chân lý ấy không bao giờ thay đổi”.

Nếu chỉ tính từ thời kỳ lập quốc ở thời đại Hùng Vương với đất nước Văn Lang, thời ấy nước ta chỉ nằm vỏn vẹn ở khu vực gọi là miền Bắc Việt Nam ngày nay, tiếp giáp với Trung Quốc với các tỉnh mà xưa kia là địa bàn sinh tụ ban đầu của Bách Việt như Quảng Đông, Quảng Tây, Vân Nam đã bị các triều đại phong kiến cực đoan, bá quyền, hung hãn lấn chiếm xâm lược theo kiểu “Lưỡi bò”…bao gồm đồng bằng Bắc Bộ kéo dài vào tới tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh ứng với ba quận thời Bắc thuộc lần thứ nhất (111 trước Công nguyên – 39 sau Công nguyên) dưới chế độ cai trị của nhà Tây Hán. Đó là Giao Chỉ, Cửu Chân và Nhật Nam. Như vậy từ dãy Hoành Sơn (có đèo Ngang) nằm giữa ranh giới tỉnh Hà Tĩnh với tỉnh Quảng Bình trở vào phía Nam thuộc về miền đất khác do dân tộc khác cư ngụ.

Theo sử sách ghi lại và tài liệu khảo cổ học, trong thời kỳ đó, đất Giao Châu (chỉ chung ba quận vừa nói) “lúc bấy giờ trong thì có quan lại nhũng nhiễu, ngoài thì có nước Lâm Ấp vào đánh phá”. (Việt Nam sử lược, NXB Văn hóa Thông tin 1999, trang 57).

Tác giả VNSL là học giả Trần Trọng Kim còn chép thêm, nước Lâm Ấp (sau gọi là Chiêm Thành) ở từ quận Nhật Nam vào đến Chân Lạp, nghĩa là ở vào quãng từ Quảng Bình, Quảng Trị cho đến đất Nam Việt bây giờ. Người Lâm Ấp có lẽ là nòi giống Mã Lai, theo tôn giáo và chính trị Ấn Độ. Nước ấy cũng là một nước văn minh và cường thịnh ở phía nam lúc bấy giờ. Sách Khâm định Việt sử chép rằng :”Năm Nhâm dần (102 sau CN) đời vua Hòa Đế nhà Đông Hán, ở phía Nam quận Nhật Nam có huyện Tượng Lâm, người huyện ấy cứ hay sang cướp phá ở quận Nhật Nam, bởi vậy vua nhà Hán mới đặt quan cai trị ở huyện ấy, để phòng giữ sự rối loạn.

Theo Lịch sử Việt Nam tập I (NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội 1983), năm 111 trước CN, nhà Hán thay nhà Triệu (Triệu Đà –VL) và thống trị nước Âu Lạc (thời vua An Dương Vương – VL). Ngoài hai quận Giao Chỉ, Cửu Chân, nhà Hán lập thêm quận Nhật Nam là miền đất từ Hoành Sơn đến Quảng Nam, chia làm 5 huyện, trong đó có Tượng Lâm ở tận cùng phía Nam. Sách này còn cho biết, huyện Tượng Lâm là Quảng Nam – Nghĩa Bình ngày nay. (trang 288), tức địa bàn của bộ tộc Dừa và cũng là nơi tập trung các di tích khảo cổ thuộc văn hóa Sa Huỳnh. Cũng theo Lịch sử Việt Nam, từ Khánh Hòa vào tới Bình Thuận là địa bàn cũ của bộ tộc Cau mà về sau được gọi là dân tộc Chăm, có Bắc Chăm (dân tộc Dừa) và Nam Chăm (dân tộc Cau). Hai vùng đất của hai dân tộc này về sau hợp nhất thành một dân tộc và một đất nước Champa thống nhất.

Thời khởi nghĩa Hai Bà Trưng (năm 40-42), nhà Hán cử tướng Mã Viện sang đánh và chiếm lại Giao Châu, thực thi chính sách cai trị tàn ác nên dân Tượng Lâm nổi dậy qua các năm 136, năm 144 và năm 157. Đến năm 190-193, cuộc khởi nghĩa của dân Tượng Lâm thắng lợi lập ra một vương quốc dưới sự lãnh đạo của Khu Liên (Sri Mara) theo văn bia Võ Cạnh đào được ở gần Nha Trang trước năm 1945. Sau đó, sử nhà Lương (Trung Quốc ngày nay) gọi đất nước này là Lâm Ấp. Vương triều này được thành lập từ thế kỷ thứ II và kéo dài tới 9 đời gọi là vương triều Gangaraja do những người cháu của Khu Liên tiếp tục nối nghiệp, từ thế kỷ thứ VI đến thứ VIII.

Như vậy, vùng đất Ngũ Quảng (Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Thừa Thiên – Huế, được coi như một Quảng) là khu vực phía cực Nam của nước Văn Lang, Âu Lạc ở vào các thế kỷ trước công nguyên và sau công nguyên, trong hơn 1.000 năm bị đô hộ bởi các chế độ phong kiến phương Bắc (111 tr CN – 931 sau CN). Sau khi Đại Việt giành được độc lập (Ngô Quyền 939-944), thoát khỏi sự đô hộ của phương Bắc thì lại trực tiếp chịu sự khuấy phá hay xâm lăng của chế độ đang được thành lập ở phía nam và các triều đại phong kiến nước ta phải chinh phạt đánh trả liên miên từ triều đại nhà Đinh, Lê, Lý, Tiền Lê, Trần…từ thế kỷ thứ 10 tới thế kỷ 15. Chính qua những cuộc chinh phạt đáp trả như thế mà Đại Việt nhận được sự chia đất lần lượt từ Quảng Binh trở vào như dưới thời nhà Lý, vua Chăm là Chế Củ (Rudravarman) bị bắt do đánh phá biên giới phía Nam Đại Việt nhưng được tha về nên đem dâng các châu Địa Lý, Ma Linh và Bố Chính tức Quảng Bình, Quảng Trị ngày nay (năm 1069-1074).

Dưới đời nhà Trần, năm 1305, vua Chăm là Chế Mân (Jaya Simhavarman III) cưới công chúa Huyền Trân đã dâng thêm đất châu Ô, châu Lý (Rí), ta đổi tên là châu Thuận và châu Hóa tức Thừa Thiên – Huế ngày nay. Trong quá trình phát triển vương quốc Champa, các vua Chăm vẫn tiếp tục đánh phá các tỉnh biên giới giáp ranh phía Nam nhưng luôn bị thất bại, như năm 1389, Chế bồng Nga đem quân vào tới kinh đô Thăng Long đánh phá nhưng bị tử trận. Năm 1402, Hồ Quý Ly chiếm ngôi nhà Trần, đưa quân vào đánh Champa và nhận được thêm đất vùng Chiêm Động và Cổ Lũy (theo thư tịch cổ và bí ký của Chăm có tên Amaravati với thành phố Indrapura – Đồng Dương) được đặt tên mới là châu Thăng, Hoa, Tư, Nghĩa mà ngày nay là Quảng Nam, Quảng Ngãi.

Rõ ràng vùng này là trung tâm chính trị, văn hóa, nghệ thuật nổi tiếng của Champa thời trước mà ngày nay có nhiều di tích quan trọng thuộc di sản thế giới như khu đền tháp Mỹ Sơn theo kiến trúc nghệ thuật đạo Hindu, di tích Phật giáo Trà Kiệu (kinh đô cổ Sinhapura – thành phố sư tử) và những cụm tháp còn khá nguyên vẹn như Bằng An, Chiên Đàn, Khương Mỹ…nằm rải rác quanh khu vực. Trước khi dân quân Đại Việt tiến vào các tỉnh từ Quảng Bình tới Thừa Thiên – Huế thì kinh thành Inrapura rồi Sinhapura đã được di dời vào Bình Định có tên mới là Đồ Bàn (Vijaya). Sau đó, kinh đô lại dời lần vào Nam, tới Khánh Hòa (Kauthara) và Ninh Thuận, Bình Thuận (Panduranga). Vương quốc Champa từ đối đầu với Đại Việt chuyển sang hòa thuận và lệ thuộc đến tiêu vong khi tới Bình Thuận trước áp lực của các chúa Nguyễn bắt đầu từ chúa Nguyễn Hoàng được vua Hậu Lê cho vào trấn thủ đất Thuận Hóa năm 1558 rồi mở ra cuộc Nam tiến vào đất Chân Lạp từ Sài Côn (Sài Gòn) khi lập trạm thuế năm 1632 và lập phủ Gia Định năm 1689 do Kinh lược Thống suất Nguyễn Hữu Cảnh thực hiện theo kiểu quy dân lập ấp rồi đặt định bộ máy quản lý hành chính. Lúc ấy, một nhóm dân tộc Chăm đã di cư sang ở khu vực nằm cạnh dòng Mékong nên có tên Kompong Cham (thuộc vương quốc Campuchia ngày nay) và theo chân người Việt ở Trung và Bắc lần lượt vào sinh sống ở Sài Gòn, Châu Đốc cho tới ngày nay trở thành người Việt gốc Chăm theo Hồi giáo và Phật giáo.

2-Đà Nẵng – điểm xuất phát đường xâm lược của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ vào Việt Nam:

Lý do nào Đà Nẵng trở thành địa điểm thuận lợi cho đội quân viễn chinh Pháp và Tây Ban Nha đổ bộ ngay từ buổi đầu xâm chiếm Việt Nam ? và sau khi hiệp định Genève ra đời tạm thời chia cắt đất nước làm hai miền Nam – Bắc, chính phủ Hoa Kỳ đổ quân vào miền Nam để dựng lên chính quyền thân Mỹ lập tiền đồn chống lại chính phủ VNDCCH miền Bắc, ngăn chặn cuộc tổng tuyển cử thống nhất Việt Nam kéo dài cuộc chiến thêm 20 năm nữa, sau khi Pháp chấm dứt công cuộc bảo hộ và cai trị trên đất nước này trên 80 năm (1959-1954) ?

Theo tiến trình lịch sử phát triển của dân tộc và đất nước Việt Nam, sự có mặt của quân đội Pháp và quân đội Mỹ được chia làm hai thời kỳ rõ rệt mà lịch sử đấu tranh chống ngoại xâm của nước ta thể hiện qua những cột mốc đáng nhớ. Đầu tiên, đội hải quân viễn chinh Pháp thời Napoléon III tới Việt Nam năm 1857 và đội thủy quân lục chiến Mỹ tới Việt Nam năm 1956, nói chung đều bắt đầu ở Đà Nẵng. Hải quân Pháp do Trung tướng Phó Đô Đốc Rigault de Renouilly đem 15 tàu chiến với 850 lính Philippines (nước này đã bị Tây Ban Nha chiếm đóng) do Đại tá Lanzarote của Tây Ban Nha đưa từ Philippines tới cùng quân đội Pháp bắn phá cửa biển Đà Nẵng và các đồn lũy ven biển vào ngày 1/9/1858 dưới triều Tự Đức thứ 11.

Đúng 98 năm sau, quân đội Mỹ đổ bộ vào miền Nam Việt Nam cũng từ Đà Nẵng nhưng không vào vịnh Đà Nẵng mà lên bán đảo Sơn Trà nằm bên kia vinh, một địa điểm có vị trí quân sự rất tốt vì vừa cách ly với đất liền (do sợ sự phản kháng của nhân dân Việt Nam ở nội thành Đà Nẵng) bằng sông Hàn vừa tiếp giáp với biển Đông nơi có các hạm đội Mỹ (Đệ thất hạm đội) thường xuyên lai vãng có thể yểm trợ nhanh chóng và dễ dàng. Bán đảo Sơn Trà là một căn cứ quân sự có tầm chiến lược lớn và lâu dài, nhất là kiểm soát được đường biển từ Bắc vào Nam. Hơn nữa, nơi đây không xa với cửa Tùng của sông Bến Hải – đúng đường vĩ tuyến 17 mà hiệp định Genève quy định tạm thời chia đôi hai miền Nam Bắc mà căn cứ quân sự nơi đây sẽ là tiền đồn của Mỹ có thể áp sát miền Bắc Việt Nam của chính phủ VNDCCH.

Nói chung, cả Pháp lẫn Mỹ dù cách nhau gần một thế kỷ, việc chọn địa điểm Đà Nẵng có một vị trí chiến lược quân sự - kinh tế thuận lợi cho hải quân với nhiều ưu thế (địa lợi) để xâm lược Việt Nam nhất là đối với chiến thuật xâm lăng bằng đường biển, cả cho thời kỳ các nước châu Ân đổ xô đi tìm thuộc địa bằng đường hàng hải và tới đánh chiếm các nước châu Á bằng tàu chiến thời hiện đại là hàng không mẫu hạm. Bờ biển hình chữ S ở biển Đông ngay từ đầu công nguyên đã là một ngã tư quốc tế như mô tả ở phần trên, lúc ấy trên dải đất này đã có ba vương quốc hình thành và phát triển, đó là Đại Việt ở miền Bắc, Champa ở miền Trung và ở miền Nam thuộc đồng bằng sông Cửu Long còn ngập nước chưa có chủ hẳn hoi nhưng ở vùng cao từ Hà Tiên tới Châu Đốc trở lên phía Tây Bắc thì có vương quốc Phù Nam rồi bị Chân Lạp thôn tính lập ra Thủy và Lục Chân Lạp (nay là Campuchia).

Vào đầu công nguyên, cả ba đất nước trên bán đảo Đông Dương đều có mối quan hệ với các triều đình phong kiến phương Bắc (Trung Hoa), nhất la từ thời nhà Lương (502-556). Trên thực tế, Việt Nam là nơi găp gỡ của nhiều dân tộc và nhiều nền văn minh như một số nhà nghiên cứu phương Tây nhận định. Cũng có ý kiến khác đánh giá rằng Việt Nam là ngã tư đường của giao lưu quốc tế với Đông Nam Á và châu Á. Từ lâu rồi, trước công nguyên, Việt Nam từng là vùng đất dừng chân hoặc là trạm trung chuyển cho các thương nhân ở vùng biển Địa Trung Hải, Trung Cận Đông, Ấn Độ tới hoặc họ có thương điếm ở đây, hoặc họ dừng chân nghỉ ngơi, mua thêm hàng rồi lại đi tiếp tới Trung Quốc hoặc Nhật Bản. (Lịch sử bang giao Việt Nam – Đông Nam Á, trước công nguyên tới thế kỷ XIX, Viện Đào tạo mở rộng thuộc Bộ GD-ĐT, 1993, trang 13)

Trung Quốc – từ các triều đại phong kiến ban sơ - có chủ trương gây thế lực xuống vùng Đông Nam Á nên liên tục quan hệ ngoại giao với Phù Nam, Lâm Ấp và những nước này cũng phải gởi liên tiếp những sứ bộ sang triều cống triều đình Trung Quốc (Sđd trang 19).

Từ thế kỷ thứ 16-17, Việt Nam phân chia thành hai miền Bắc, Nam tạo nên vương quyền của chúa Trịnh ở miền Bắc và vương quyền của chúa Nguyễn ở miền Nam, còn có tên là Đàng Ngoài và Đàng Trong theo cách gọi của các đoàn truyền đạo Thiên chúa giáo tới Việt Nam lúc đó. “Người Bồ Đào Nha đã thành lập Giáo hội công giáo ở Ấn Độ, Trung Quốc rồi Việt Nam. Ở Việt Nam, lúc đó chúa Nguyễn và chúa Trịnh giao tiếp với các thương gia người Bồ và các giáo sĩ thường theo người Bồ tới giảng đạo. Alexandre de Rhodes được coi như người sáng lập Giáo hội Đàng Trong” (Hành trình và truyền giáo của A.De Rhodes, UB Đoàn kết công giáo TP HCM – 1994, trang XII).

Trong thời kỳ có cuộc phân tranh giữa hai vương quyền của hai chúa Trịnh, Nguyễn thì xảy ra thêm cuộc tranh giành ngôi vua Lê của họ Mạc ở miền Bắc (1527-1592) và cuộc khởi nghĩa của nhà Tây Sơn ở miền Trung. Sau đó, cuộc chiến giữa nhà Tây Sơn (1788-1802) với chúa Nguyễn ở phía Nam từ miền Trung vào tới miền Nam, trong đó lại có cuộc chiến tranh chống ngoại xâm của Tây Sơn với quân Xiêm ở Mỹ Tho - Tiền Giang (trận Rạch Gầm – Xoài Mút năm 1785) và chiến thắng quân xâm lược nhà Thanh năm 1789 (trận Đống Đa ở kinh thành Thăng Long). Chính các cuộc chiến nội bộ và chống ngoại xâm ở hai đầu đất nước đã làm gián đoạn các hoạt động ngoại thương và truyền giáo của người nước ngoài ở Việt Nam một thời gian dài, cụ thể là ở Đà Nẵng, Hội An (miền Trung), Phố Hiến (miền Bắc) và Sài Gòn (miền Nam) là những đô thị mới nổi tiếng có nền thương mại trong và ngòai nước rất phồn thịnh.. Chính cuộc nội chiến hay kháng chiến chống ngoại xâm thời kỳ đó đã làm gián đoạn các cuộc giao thương giữa Việt Nam với các nước qua lại các phố cảng hưng thịnh một thời là Phố Hiến, Đà Nẵng, Hội An và Sài Côn. Và các phố cảng này lần hồi bị lãng quên, tàn tạ đi trong một, hai thế kỷ.

Tới năm 1802, sau khi tiêu diệt vương quyền Quang Trung (nhà Tây Sơn) tồn tại từ năm 1788, Nguyễn Phúc Ánh lên ngôi vua lấy niên hiệu Gia Long mở đầu cho triều đình phong kiến của dòng họ Nguyễn cho tới năm 1945 thì kết thúc. Thời kỳ này, Đà Nẵng chỉ là một căn cứ thủy quân thông thường với vài đồn binh có nhiệm vụ trấn giữ cửa khẩu của trấn Quảng Nam. Lịch sử cho thấy những vua đầu triều Nguyễn đã phạm hai sai lầm trong chính sách đối ngoại với các nước phương Tây nên đã dẫn đến cuộc xâm lược của thực dân Pháp gây nên tình trạng mất nước gần 80 năm và cũng chính do vua cuối cùng đã mang tội phản quốc khi quay lại đầu hàng thực dân Pháp để kéo dài nền cai trị của ngoại bang thêm 9 năm nữa (1945-1954). Trong dân gian truyền tụng câu ca dao độc ác :

Bảo Đại là cháu Gia Long
Là con Khải Định là dòng Việt gian !

Đáng lý, hiệp định Genève là cơ sở để cho Việt Nam thống nhất đất nước sạch bóng quân ngoại xâm nhưng do Pháp quay lại xâm chiếm lần thứ hai (tiếp tục dựng lên Hoàng triều Bảo Đại) trong 9 năm. Trong mối quan hệ phân chia thế lực Pháp-Mỹ trong Thế chiến thứ II khiến cho đế quốc Mỹ lợi dụng cơ hội để nhảy vào miền Nam gây nên cuộc chiến tranh giữa Việt Nam với Hoa Kỳ gần 20 năm tiếp theo. Như đã trình bày ở phần trên, Đà Nẵng là nơi đã diễn ra hai cuộc đổ bộ của quân ngoại xâm là Pháp và Mỹ cách nhau gần một thế kỷ.(1859-1956).

3-Nguyên nhân xảy ra cuộc xâm lược Việt Nam của thực dân Pháp :

-Nguyễn Phúc Ánh (tức Gia Long sau này) đã liên hệ với thực dân Pháp dưới triều đại Napoléon III để xin viện binh đánh Tây Sơn thông qua giám mục Bá Đa Lộc (Pierre Pigneau de Béhaine – Evêque d’Adran) với Hoàng tử Cảnh làm con tin, mở đường cho nước Pháp thấy rõ nội tình của đất nước và tài nguyên giàu có của Việt Nam mà động lòng tham, tìm cách đánh chiếm làm thuộc địa.

-Từ Minh Mạng đến Tự Đức, do các triều đình này thực thi chính sách “bài đạo” dẫn đến sự cầu cứu của các đoàn truyền giáo mà nước Pháp dòm ngó tới Việt Nam và có cớ can thiệp để đưa quân tới đánh chiếm một đất nước ở miền viễn đông xa xôi. Ban đầu chính phủ Pháp còn lưỡng lự chưa muốn can thiệp vào một nơi ở quá xa với đất nước mình nên các cố đạo phải tự mình thuê người, mua vũ khí giúp Nguyễn Vương đánh Tây Sơn tiêu diệt triều đình Quang Trung chỉ vì muốn có một đất nước yên ổn thuận lợi cho hoạt động truyền giáo. Nhờ yếu tố nước ngoài này mà Nguyễn Vương thành công. Nhưng về sau, các vua sau Gia Long đã quay ra đàn áp các đoàn truyền giáo và sát hại giáo dân đã tạo ra lý do để cho các cố đạo thúc giục triều đình vua Louis XVIII gởi quân sang đánh chiếm Việt Nam để cứu giáo dân và giáo hội sau khi quân viễn chinh của Pháp đã có mặt ở Trung Quốc và Ấn Độ.

Từ khi vua Minh Mạng lên ngôi, việc đối xử với các quan trong triều là người Pháp như Chaingeau và Vannier (từng giúp Gia Long đánh Tây Sơn giành lại giang sơn) bắt đầu lạt lẽo nên hai ông này bỏ triều đình nhà Nguyễn trở về Pháp. Cũng từ đây, việc sát hại đạo của triều đình nhà Nguyễn ngày càng tăng nên chính quyền Anh và Pháp đang có mặt ở Trung Quốc lấy cớ đó và nghe theo lời cầu cứu của các cố đạo đã bắt đầu tới cảng Đà Nẵng. Lúc đó, Đà Nẵng nằm cận kề với Hội An, cửa khẩu giao thương quốc tế cũ và là nơi thuận tiện để tiếp cận với kinh đô. Năm Nhâm Ngọ 1822 có hai chiếc tàu chiến của Pháp tên là Cléopâtre vào cửa Đà Nẵng xin yết kiến vua Minh Mạng nhưng không được. Rồi tàu Anh Quốc vào Đà Nẵng xin thông thương, nhà vua cũng không cho.

Tháng giêng năm Ất Dậu 1825, Đại tá Thủy quân Pháp là Bougainville đem hai tàu chiến là Thétis và Espérance vào cửa Đà Nẵng đem phẩm vật và quốc thư xin vào yết kiến vua Minh Mạng nhưng triều đình lấy cớ không có người thông dịch nên từ chối. Năm 1826 chính phủ Pháp cử cháu của ông Chaigneau (quan đầu triều cũ) sang làm lãnh sự nhưng triều đình cũng không nhận. Nhưng trên tàu có một giáo sĩ tên Rogerot lén ở lại đi giảng đạo các nơi càng làm cho triều đình Minh Mạng ra dụ cấm đạo. Thấy việc cấm đạo và sát hại giáo sĩ, giáo dân ngày càng khó thực hiện nên vua Minh Mạng sai sứ sang Pháp để xin điều đình. Hội ngoại quốc truyền đạo xin Pháp hoàng là vua Louis Philippe đừng tiếp (theo sách Histoire de la Cochinchine Francaise của Cultru). Khi sứ thần trở về nước thì vua Minh Mạng qua đời. (Việt nam sử lược, trang 493).

Năm Đinh Tỵ (1847), dưới triều Thiệu Trị, nước Pháp được tin ở Huế không còn giáo sĩ bị giam nữa mới sai Đại tá De Lapierre và Trung tá Rigault de Genouilly đem hai chiếc chiến thuyền vào Đà Nẵng, xin bãi bỏ những chỉ vụ cấm đạo và để cho người trong nước được tự do theo đạo mới. Lúc hai bên còn đang thương nghị về việc ấy thì quan nước Pháp thấy có quân ta sắp sửa đồn lũy, neo đậu thuyền bè bèn nổ súng bắn đắm cả những thuyền bè với đồn lũy rồi nhổ neo kéo buồm ra biển (Sđd trang 497).

Tháng 8 năm Bính Thìn (1856), nghe tin có thêm giáo sĩ bị sát hại tiếp tục nên Chính phủ nước Pháp cử Leheur de Ville-sur-Arc đem hai chiếc chiến thuyền “Catinat” vào cửa Đà Nẵng rồi cho người đem thư lên trách triều đình Việt Nam về việc giết đạo. Triều đình lúng túng nên chưa có quyết định. Sau khi thấy quan ta lôi thôi không trả lời quân Pháp bèn bắn phá các đồn lũy ở Đà Nẵng rồi bỏ đi. (Sđd trang 516). Lúc ấy, Giám mục Pellerin trốn được xuống tàu rồi về bệ kiến Pháp hoàng, kể rõ tình cảnh những người giảng đạo ở Việt Nam. Trong triều có nhiều người ủng hộ việc đưa quân sang đánh chiếm Việt Nam. Kết quả tháng 7 năm Mậu Ngọ (1858) năm Tự Đức thứ 11, Hải quân Trung tướng nước Pháp là Rigault de Renouilly đem tàu Pháp và tàu I-pha-nho (Tây Ban Nha) cả thảy 14 chiếc chở hơn 3.000 quân của hai nước vào cửa Đà nẵng, bắn phá các đồn lũy, rồi lên hạ thành An Hải và thành Tôn Hải (có thể nay thuộc quận Hải Châu nằm bên cạnh vịnh Đà Nẵng và bờ sông Hàn).

Như vậy, thực dân Pháp đã bắt đầu nổ súng với mưu đồ đánh chiếm Việt Nam từ Đà Nẵng. Nhưng chưa thành công do triều đình Tự Đức cử tướng Nguyễn Tri Phương đưa quân tới lập đồn Liên Trì dọc theo sông Thu Bồn để ngăn chặn quân Pháp tiến công thêm và triều đình lại đưa thêm 10.000 quân tới chi viện cho Đà Nẵng. Thấy việc đánh chiếm Đà Nẵng không thuận lợi nên hải quân Pháp nghe theo tình báo mà chuyển hướng hành quân, đưa tàu chiến vào đánh chiếm Sài Gòn năm 1859 mở đầu cho nước Pháp đặt ách đô hộ Việt Nam kéo dài hơn 80 năm.

4-Nguyên nhân đế quốc Mỹ can thiệp vào Việt Nam :

Hiệp định Genève năm 1954 được thực thi trong hai năm sau khi quân Pháp rút về nước trả lại độc lập cho Việt Nam để tổ chức tổng tuyên cử thống nhất đất nước. Nhưng Chính phủ Hoa Kỳ đã thay chân Pháp nhanh chóng dựng lên chính quyền miền Nam đối đầu với miền Bắc và đổ quân vào Đà Nẵng khởi sự can thiệp bằng quân sự vào Việt Nam, cụ thể ở bán đảo Sơn Trà vào năm 1956 bắt đầu cuộc chiến chống Chính phủ Việt Nam DCCH suốt gần 20 năm mới kết thúc khi hiệp định Paris năm 1972 được ký kết dẫn đến quân đội Mỹ với bộ máy chiến tranh từ tâm lý chiến đến quân sự rút hết về nước. Trong thời gian chiếm đóng miền Nam, quân đội Mỹ đã xây dựng Đà Nẵng thành một cửa khẩu và một sân bay quốc tế thứ nhì sau Sài Gòn.

Trong 9 năm quân đội Pháp quay lại chiếm đóng Việt Nam với sự hỗ trợ của Anh và Mỹ, bắt đầu ở Sài Gòn từ Nam Bộ kháng chiến 23/11/1945, đặc biệt quân đội Anh tới Sài Gòn bằng đường hàng không. Sau đó, Mỹ thực hiện nhiều đợt viện trợ cho quân đội Pháp ở Đông Dương :

-Ngày 8/5/1950, Tổng thống Mỹ Harry Truman chính thức ký quyết định viện trợ cho Pháp và ủng hộ Bảo Đại về nước sau mấy năm trốn khỏi chính phủ VNDCCH (Cố vấn tối cao của chính phủ).

-Ngày 8/7/1950, Tổng thống Truman lại ký quyết định tăng viện trợ chiến tranh cho Đông Dương là 33 triệu USD trong tài khóa 1950-1951.

-Ngày 30/7/1950 Quốc hội Mỹ thông qua quyết định viện trợ thêm 400 triệu USD cho Pháp trong cuộc chiến tranh xâm lược Đông Dương trong tài khóa 1953-1954.

-Ngày 4/11/1953 Phó Tổng thống Mỹ R.Nixon tới thăm mặt trận Hòa Bình khu Tây Bắc cùng với tướng De Castrie của Pháp để có kế hoạch viện trợ.

-Năm 1957, từ kho dự trữ vũ khí ở Nhật Bản và Nam Triều Tiên, Mỹ đã đưa sang Việt Nam giúp Pháp : máy bay B.26, Helicat Speed Fire, đại bác 155 ly và nhiều tàu chiến, xe tải quân sự…

Kết quả cho thấy trong 9 năm tham gia chiến tranh xâm lược Việt Nam với Pháp, Mỹ đã viện trợ 120.000 tấn phương tiện chiến tranh, trong đó có 178 máy bay, 170 tàu các loại và nhiều chiến xa, đạn, bom và phương tiện truyền tin. (Diễn tiến lịch sử 1.000 năm-Nguyễn Thu Cờ, Hội đồng hương Hà Nội 2008, trang 969).

Sau hiệp định Genève (20/7/1954), ngày 8/8/1954, Hội đồng An ninh quốc gia Mỹ ủng hộ Tổng thống Eisenhower chính thức quyết định chủ trương thay Pháp xâm lược Việt Nam với 4 điểm : 1/Mỹ viện trợ trực tiếp cho chính quyền Sài Gòn (Ngô Đình Diệm) không qua Pháp, 2/Pháp phải rút quân ra khỏi Miền Nam Việt Nam, 3/Mỹ trực tiếp huấn luyện quân đội Sài Gòn và 4/Loại bỏ Bảo Đại, thay thế bằng Ngô Đình Diệm. Trên cơ sở này, Mỹ đã đưa quân sang Việt Nam qua cửa khẩu Đà Nẵng từ năm 1956 từ vài ngàn quân ban đầu tới kêt thúc chiến tranh đã lên tới 543.000 quân trực tiếp tham chiến gồm có 70% lục quân, 60% lính thủy đánh bộ, 40% hải quân, 60% không quân và động viên hơn 3 triệu thanh niên Mỹ đi quân dịch. (Sđd trang 1109).

5-Đà Nẵng với chủ quyền quần đảo Hoàng Sa :

Bản đồ trong sách Đại Nam thống nhất toàn đồ năm 1838 dưới triều đầu nhà Nguyễn lưu hành chính thức tới nay có ghi vị trí quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa ngoài biển Đông nằm ngang cùng vĩ tuyến với Đà Nẵng thuộc tỉnh Quảng Nam và Khánh Hòa, Bình Thuận.

Bản đồ của TS sử học Nguyễn Nhã đăng trên báo Thanh Niên phát hành ngày 04/02/2004 có ghi đường biển đi từ Đà Năng ra đảo Hoàng Sa dài 390 Km và từ Đà Nẵng tới Quy Nhơn 300 Km.

Vào thế kỷ XVII đền đầu thế kỷ XX, Đại Việt dưới các triều đại nhà Lê, trong các thời chúa Nguyễn và thời Tây Sơn và sau đó thời Việt Nam thống nhất năm Gia Long lên ngôi 1802, chủ quyền quần đảo Hoàng Sa (cả Trường Sa) đều thuộc nước ta, không có gì phải bàn cãi, tranh luận.

Thời chúa Nguyễn làm chủ Đàng Trong có đội Hoàng Sa, một tổ chức bán quân sự đã được giao nhiệm vụ kiểm soát với chức năng quản đội Bắc Hải khai thác định kỳ liên tục các hải sản quý cùng các sản vật kể cả súng đạn của các tàu bị đắm tại các đảo thuộc Hoàng Sa.

Từ năm 1802 đến năm 1816, dưới triều đại nhà Nguyễn, đội Hoàng Sa có trách nhiệm phối hợp với thủy quân hàng năm hoạt động 6 tháng từ tháng 3 đến tháng 8 âm lịch (tháng 4 đến tháng 9 dương lịch) cho phù hợp với thời tiết vùng biển đảo Hoàng Sa. Thủy quân triều Nguyễn thường xuyên ra vào vùng biển Đông có các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa để kiểm soát và bảo vệ nghiêm nhặt. Suốt thời đại triều Nguyễn, thủy quân Việt Nam được giao trọng trách thường xuyên xác lập chủ quyền, kiểm soát bào vệ quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Về mặt hành chính, liên tục suố 4 thế kỷ từ thế kỷ XVII đến 1974, quần đảo Hoàng Sa được các chính quyền qua các thời đại ở Việt Nam được đặt dưới sự quản lý hành chính của tỉnh Quảng Ngãi (khi là Phủ, Thị trấn, Tỉnh) hay tỉnh Thừa Thiên (dưới thời Pháp thuộc), hoặc tỉnh Quảng Nam, Đà Nẵng (sau 1954 thời chia cắt Nam Bắc) và sau năm 1975 tới nay là thành phố Đà Nẵng, Quảng Nam.

Các bộ sách sử học nước Đại Việt, nhà sử học Lê Quý Đôn đề cập đến Hoàng Sa trong bộ sách Phú biên tạp lục (1776), nhà sử học Phan Huy Chú (1821) trong Lịch triều hiến chương loại chí, Dư địa chí, nhà địa dư Nguyễn Thông đề cập trong bộ Việt sử cương giám khảo đã xác nhận chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa. Đặc biệt, ông Thích Đại Sán là người Hoa trong các chuyến đi thực tế ở vung biền Đông và Nam Á đã viết bộ Hải ngoại ký sự (1696) đều nói đến Hòang Sa thuộc Đại Việt).

Từ năm 1816 dưới triều Gia Long, có bộ Đại Nam thực lục tiền biên, Đại Nam thực lục chính biên, Đại Nam hội điểm sự lệ của Nội các, các châu bản triều Nguyễn đã ghi chép rất rõ, Việt Nam tiếp tục tổ chức các đoàn thám sát, đo đạc, vẽ bản đồ, xây dựng bia chủ quyền từng hòn đảo. Dưới triều Minh Mạng (1820-1840) đã cho dựng miếu thờ làm bằng nàh đá (loại đá san hô), đào giếng lấy nước ngọt. Riêng tại đảo Phú Lâm, tài liệu Trung Quốc ghi có miếu thờ, ghi rõ Hoàng Sa Tự của Việt Nam. Vua Minh Mạng còn cho trồng cây tại các đảo, để cho thuyền bè đi lại từ đàng xa nhìn thấy để tránh khỏi vị nạn va chạm.

Dưới thời Thiệu Trị (1841-1847) theo tài liệu của nhà sử địa Gutzlafe viết trong The Journal of the Geographical Society of London (1849) trang 97 đã cho biết Việt Nam đã thiết lập trại binh nhỏ và một điểm thu thuế ở Hoàng Sa. Đến thời kỳ năm 1909, chính quyền Trung Hoa bắt đầu có mưu đồ xâm phạm chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa mà đặt tên Tây Sa bằng hành động giám sát đầu tiên vì cho là Hoàng Sa vô chủ. Cũng chính từ năm 1909, chính quyền Việt Nam là chính quyền sớm nhất đã tổ chức các trại lính đồn trú ở Hoàng Sa. Chính quyền Việt Nam đã cho xây trạm khí tượng đầu tiên ở đảo Hoàng Sa từ năm 1938, hoạt động thời gian dài tới năm 1974.

Các tác giả viết hồi ký như Le Poivre (1749), J.Chaigneau (1816-1819), Taberd (1833) đều khẳng định rõ ràng quần đảo Hoàng Sa thuộc chủ quyền nước Việt Nam. Đặc biệt bản đồ An Nam Đại quốc họa đồ của Giám mục Taberd trogn cuốn tự điển Latino –Anamiticum (Việt – La) chỉ vẽ có Paracel Seu Cát Vàng (tức Hoàng Sa) mà không vẽ đảo Hải Nam của Trung Hoa trong biển Đông.

Nếu cần nói chứng cớ thì các tài liệu trên đủ minh định Hoàng Sa ở biền Đông thuộc chủ quyền của Việt Nam. Nếu có người nói khác đi hay chính Trung Quốc đưa quân đội tới chiếm đóng Hoàng Sa trước ngày 30/4/1975 là âm mưu cướp chủ quyền Việt Nam dù lúc đó đang thuộc miền Nam và lợi dụng tình hữu nghị hai nước cộng sản Việt Nam – Trung Quốc mà chiếm đoạt quần đảo này. Dù cho tới nay, phía Trung Quốc có tổ chức hay xây dựng gì gì trên quần đảo Hoàng Sa lâu đời nằm trong khu vực của Đà Nẵng – Quảng Nam hay Quảng Ngãi đều vi phạm chủ quyền của Việt Nam, nhất định dân tộc Việt Nam không thể tha thứ. Gương xưa 1.000 năm Bắc thuộc vẫn được dân tộc Việt Nam nhỏ bé ít người vùng lên đòi lại chủ quyền của mình.

Nói đến thành phố Đà Nẵng hôm nay tức phải nói tới một bộ phận đất cát và san hô không thể tách rời là quần đảo Hoàng Sa từ cổ chí kim đều thuộc chủ quyền Việt Nam. Đà Nẵng tiếp tục đổi mới và phát triển lớn mạnh như ngày nay thì không thể để mất quần đảo Hoàng Sa. Đà Nẵng - Hoàng Sa là một, đây là một chân lý bất di bất dịch, như xương và máu, da và thịt của con người Việt Nam. Đã qua đi một thời Đà Nẵng là con đường xâm nhập của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ vào Việt Nam dù kéo dài 80 năm hay 20 năm. Thì ngày nay, không có một đế quốc thứ ba nào có thề chiếm đóng lâu dài Hoàng Sa thuộc Đà Nẵng. Cái gì của Cesar phải trả lại cho Cesar !

Ngày nay, Đà Nẵng còn là một cửa khẩu quan trọng về kinh tế và ngoại thương ở biển Đông cho Lào và Thái Lan thông qua cửa khẩu Bờ Y và đường 9 Nam Lào./.


_____________________________________________________



© Tác giả giữ bản quyền.
. Đăng ngày 15.01.2013 theo nguyên bản của tác giả chuyển từ Sài Gòn.
. TRÍCH ĐĂNG LẠI VUI LÒNG GHI RÕ NGUỒN NEWVIETART.COM .