TỪ TU THIỀN ĐẾN TU PHẬT



Quý vị đang nghe Piano Concerto N°3 của L.Beethoven


Kỳ Thứ 15

CHƯƠNG VI
NHỮNG LỜI DẠY CỦA TỔ ĐẠT MA VÀ LỤC TỔ HUỆ NĂNG

Nhà Thiền vẫn xem hai Tổ: ĐẠT MA và Lục Tổ Huệ Năng là sơ Tổ của môn Tu Thiền. Vì vậy chúng ta đọc những lời của hai Tổ dạy về giảng pháp và tu học được trích trong Sáu Cửa vào động Thiếu Thất và Pháp Bảo Đàn Kinh:

Với những người giảng dạy, Tổ Đạt Ma nói:

- “Nếu tự mình sáng tỏ được thì chẳng cần học, khác với kẻ mê trắng đen không phân rõ lại lếu láo tuyên lời Phật dạy, báng Phật, chê Pháp. Các vị ấy nói pháp như mưa! Quả đó là ma nói, chẳng phải Phật nói. Thầy là vua ma, học trò là dân ma.

- Kẻ mê mặc sức múa máy theo người, phút chốc đọa sinh tử. Đó là những người không Thấy Tánh xưng càn là Phật. Hạng người ấy phạm tội lớn: phỉnh gạt tất cả chúng sanh đưa vào vòng ma giới.

- Nếu Không Thấy Tánh dầu giỏi nói 12 bộ Kinh vẫn là ma nói. Đó là hàng bà con của nhà ma, chẳng phải học trò của nhà Phật.

- Đã chẳng phân rõ thắng đen bằng vào đâu mà thoát Sinh tử Luân Hồi”.

Về những người NGỒI THIỀN để cái tâm trống không thì Lục Tổ dạy:

-“Chư Thiện tri Thức, chớ nghe ta nói “không” mà liền chấp “không”. Nếu để tâm trống không mà ngồi yên lặng (ngồi Thiền) tức là chấp cái “Vô ký không”.

- Mỗi sự lý phải hiểu tới tận chỗ chơn, cả thảy sự lý phải hiểu tới tận chỗ chơn. Tâm phải lo lường việc lớn, chẳng nên đi theo con đường nhỏ (ngồi yên lặng). Miệng đừng trọn ngày nói “không” mà trong lòng chẳng tu hạnh ấy. Cũng như người phàm tự xưng mình là quốc vương mà rồi chẳng làm gì được. Hạng người ấy chẳng phải là đệ tử của ta”.

Ngài cũng ngăn ngừa lòng kiêu mạn :

- Người tu công đức thì lòng chẳng nên khinh dể người, mà phải thường cung kỉnh khắp cả nhơn vật. Nếu lòng thường khinh dể người thì bổn ngã của ta chẳng dứt, tức là mình không có CÔNG. Tánh mình giả dối, không chơn thật tức là mình không có ĐỨC. Bổn ngã của ta tự đại nên thường khinh dể cả thảy nhơn vật (60).

Với những người chê Kinh là văn tự, không đọc, Tổ dạy:

-“Chúng ngươi phải biết tự mình mê còn dung được, sao dám chê bai kinh Phật ? Chẳng nên chê Kinh mà phải bị tội chướng vô cùng”

- Trước tướng bên ngoài mà lập ra phép tắc để cầu chơn đạo, hoặc rộng mở Đạo tràng, hoặc nói ra những điều lỗi lầm về chỗ “Có” chỗ “Không”, người như thế ấy dầu tu muôn kiếp cũng không thể Thấy tánh được. Phải nghe và y theo chánh pháp mà tu hành, lại cũng chẳng nên chẳng nghĩ đến mọi việc mà làm cho bít ngăn cái đạo tánh. Nếu nghe pháp mà chẳng tu, ắt khiến người trở lại sanh tà niệm. Phải y theo pháp mà tu hành, còn thí pháp thì đừng trụ vào tướng. Nếu chúng ngươi đều rõ thì y theo đây mà ứng dụng, y theo đây mà hành động, y theo đây mà làm các việc thì chẳng lạc bổn tông”.

Với những người Ngồi Thiền bất động, Tổ dạy:

“Có tình hiểu biết đương nhiên động

Không động là loài chẳng có tình

Học đạo nếu tu hạnh chẳng động

Giống loài chẳng động tức không tình

Muốn tìm cảnh thiệt tâm không động

Trong lúc động mà Tánh chẳng lay

Chẳng động, thiệt ròng tâm chẳng động

Không tình đâu có giống Như Lai !

Biệt phân các tướng đều thông suốt

Ấy nghĩa tột cao chẳng động tu

Hiểu thấy lý mầu như thế ấy

Tức là diệu dụng của Chơn Như

Hỡi người học đạo tìm chơn lý

Hành động gắng dùng ý biệt phân

Vào cửa Đại Thừa đừng cố chấp

Mà theo sanh tử trí phàm trần…”

Truyền Đạo Phật thì Tổ Đạt Ma dạy: “Phật trước Phật sau chỉ nói pháp Truyền Tâm, ngoài ra không pháp nào khác. Nếu thấu rõ pháp ấy thì phàm phu ngu dốt không biết một chữ cũng vẫn là Phật”. Và: “Ta đến xứ này cũng chỉ truyền một Tâm ấy, không luận về Giới thí, tinh tiến, khổ hạnh, cả đến việc vào nước, lửa, lên vòng gươm, chay lạt ngày một lần, ngồi hoài không nằm (Thiền). Thảy thảy chỉ là pháp hữu vi của ngoại đạo”.

Ý Tổ nhấn mạnh là từ bao đời Phật - đến lượt Ngài đến Trung Thổ - cũng chỉ nói Pháp Truyền Tâm. Ngoài ra, những việc làm khác - kể cả Thiền Định – cũng chỉ là pháp hữu vi của ngoại đạo.

Lý do vì sao?

Đạo Phật cho rằng mọi ràng buộc, khổ đau, phiền não, sinh tử... đều do Cái Tâm Mê. Vì vậy mà khi tu hành, muốn Giải Thoát thì phải tu, sửa, chuyển hóa ở đó. Có biết bao điều phải Hiểu, phải Hành - trong đó có Thiền Định - là dừng lắng cái tâm lao xao để tập trung phá Mê cho mình, hướng về Con Đường Giải Thoát. Phải đâu đùng một cái, đọc Kinh, hay nghe ai giảng, thấy cái Lý của Phật là ta hết Mê ngay lập tức! Cho nên, người tu hành nào không biết điều đó, không nhắm vào Cái Tâm mà hành trì, thì đối với Đạo Phật là “Ngoại Đạo”. Có nghĩa là chỉ làm bên ngoài, chưa đi vào ngay mục đích chính mà có vị đã nói là: “gãi ngứa ngoài giày”!

Về đọc tụng Kinh điển, Phật dạy:

* Nếu lại có người thọ trì đọc tụng, giải nói, biên chép Kinh Diệu Pháp Liên Hoa nhẫn đến một bài Kệ, đối kinh điển này cung kính xem như Phật. Các thứ cúng dường… Dược Vương! Nếu có người hỏi những chúng sanh nào ở đời vị lai sẽ đặng làm Phật? Nên chỉ các người trên đó ở đời vị lai ắt đặng làm Phật

* Dược Vương! Có người đọc tụng Kinh Pháp Hoa, phải biết người đó dùng đức trang nghiêm của Phật tự trang nghiêm mình, thời được Như Lai dùng vai mang vác”(291).

“Phổ Hiền! Sau khi Như Lai diệt độ, năm trăm năm sau, nếu có người nào thọ trì đọc tụng Kinh Pháp Hoa phải nghĩ rằng: Người này chẳng bao lâu sẽ đến đạo tràng phá các chúng ma thành vô thượng chánh đằng chánh giác, chuyển pháp luân, đánh pháp cổ, thổi pháp loa, rưới pháp vũ, sẽ ngồi trên pháp tòa sư tử trong đại chúng trời và người”.

THIỀN ĐỊNH chân chính cũng gọi là CHỈ QUÁN SONG TU của Đạo Phật được kinh Viên Giác viết: “Đây là phương tiện tu hành của hành giả, tức ba pháp quán.(CHỈ, QUÁN và CHỈ QUÁN SONG TU). Nếu các chúng sanh tinh tấn siêng tu ba pháp quán này được hoàn toàn tức là Như Lai xuất hiện ở thế gian vậy”.

Kinh Phật được xem là Bản đồ, là La bàn để người tu học theo đó mà hành trì, không sợ lạc hướng, vì trong đó là những lời do chính Đức Phật đã thuyết giảng, được các Đại Đệ tử kết tập lại sau khi Ngài nhập diệt. Bao nhiêu pháp phải học, phải hành. Bao nhiêu lời dặn dò, sợ người sau sẽ hiểu lầm, vì Phật đã dùng rất nhiều phương tiện, hoặc tả cảnh giới Tây Phương, Đông Phương. Hoặc Quả vị lớn nhỏ vv... chỉ để đưa người tu đến một cứu cánh duy nhất là “THOÁT KHỔ”.

Đạo Phật dạy: “Ly Kinh nhất tự đồng ma thuyết” tức là khuyên người tu học không được rời Kinh, dù là một chữ. Thế nhưng đến đời các TỔ của THIỀN TÔNG thì Kinh điển không quan trọng cũng chẳng cần thiết, chẳng thấy dạy nhau Giới cần giữ, Hạnh cần làm của người tu Phật! Quả là Đức không có. Hạnh cũng không, nhưng Thiền Sư nào cũng thấy là mình cao hơn Phật, Tổ. Ngài Pháp Diễn ở Đông Sơn trong CÔNG ÁN Kẻ ấy là ai? còn nói: “Thích Ca, Di Lặc còn là tôi đòi của kẻ ấy”!

“Con nhà tông, không giống lông cũng giống cánh”. Đàng này Thiền Tông chẳng có chút gì giống như lời dạy của Phật hay của hai vị mà họ tự nhận là SƠ TỔ. Với Khẩu, Ý như thế mà tự xưng là nối truyền của Tổ Đạt Ma và Lục Tổ Huệ Năng, thì quả thật là oan cho các Ngài quá !

CHƯƠNG VII
ĐÔI NÉT VỀ PHÁI THIỀN TRÚC LÂM CỦA VIẾT NAM
QUA TAM TỔ THỰC LỤC

Sẽ rất thiếu sót nếu bàn về THIỀN mà không nhắc đến THIỀN TRÚC LÂM YÊN TỬ. Thật vậy, giai đoạn cực thịnh của Phật Giáo nước ta đời Trần nổi bật 3 vị gọi là TRÚC LÂM TAM TỔ gồm có Điều Ngự Giác Hoàng (Vua Trần Thái Tông, là Vua thứ tư đời nhà Trần), Sư Pháp Loa và Sư Huyền Quang. Sau đây là đôi nét về 3 vị.

ĐỆ NHẤT TỔ, ĐỨC ĐIỀU NGỰ GIÁC HOÀNG (1258-1308)

Ngài là Vua Trần Nhân Tông, con của Vua Trần Thánh Tông và Thái Hậu Nguyễn Thánh Thiện Cảm. Năm 16 tuổi được lập Thái tử, xin nhường cho em nhưng không được vua cha chấp nhận. Bản tính thông minh, đọc hết các sách sử thế gian. Về Phật học cũng rất tinh tường, được sự giáo huấn của Tuệ trung Thương Sĩ. Năm 21 tuổi được truyền ngôi, trị vì 14 năm.

Năm 1299, Vua truyền ngôi cho Anh Tông và đi thẳng vào núi Yên Tử để tu hạnh đầu đà, lập ra Chi Đề Tịnh Xá, giảng pháp độ Tăng và mới các danh tăng về Chùa Phổ Minh, Phủ Thiên Trường lập ra trường giảng. Sau đó, Ngài vân du đó đây, đến trại Bố Chính lập Am Trí Kiến để cư trú.

Năm 1308, Đức Điều Ngự kêu Pháp Loa nhận chức trụ trì để nối dòng Chánh Pháp tại Chùa Báo Ân rồi Ngài đi khắp núi non. Đến khi Thiên Thụy công chúa bịnh nặng, cho gia đồng mời Ngài về để gặp mặt. Vài ngày sau, Vua trở về núi, nhưng đến Chùa Tú Lâm núi Ký Đặc ở Yên Sinh, Ngài nói với hai Tỳ Kheo là Ngài muốn lên Đỉnh Ngọa Vân mà không thể đi được nữa, Hai thầy Tỳ kheo giúp đưa Vua về núi. Trước lúc họ về, vua cảm ơn và bảo họ xuống núi gắng lo tu hành.

Hôm sau, vua sai thị giả gọi Bảo Sát về gấp. Trên đường đi, Bảo Sát thấy một đám mây đen từ Ngọa Sơn kéo đến Lỗi Sơn, khi tới Doanh Tuyền, nước suối dâng cao mấy trượng trong giây lát, rồi trở lại bình thường. Bảo Sát lại thấy hai con rồng đầu lớn như đầu ngựa, hai mắt sáng như sao, ngẩng cao hơn một trượng, phút chốc biến mất. Đêm lại thấy điềm chẳng lành. Hôm sau Bảo Sát đến Ngọa Vân gặp Điều Ngự. Ngài bảo với Bảo Sát là Ngài sắp đi, Phật Pháp có gì chưa rõ thì hỏi. Từ đó, 4 ngày liền, trời đất u ám, gió trốt thổi mạnh, tuyết phủ đầy cây, vượn khỉ vây quanh am gào khóc, chim rừng kêu bi thảm. Ngày mồng l tháng ll, lúc nửa đêm, Điều Ngự hỏi Bảo Sát “Bây giờ là giờ gì?” Bảo Sát đáp là giờ Tý. Điều Ngự đưa tay mở cửa sổ, ngắm trời và nói: “Đây là lúc ta đi”. Bảo Sát hỏi: “Tôn đức đi đâu?”, Điều Ngự đáp:

Tất cả pháp không sinh

Tất cả pháp không diệt

Nếu hiểu được như vậy

Chư Phật thường hiện tiền, có chi là đi lại”.

Bảo Sát hỏi: “Nếu như không sanh không diệt thì sao?” Điều Ngự đưa tay bụm miệng Bảo Sát, nói: “Chớ nói mê”, rồi nằm theo thế sư tử, an nhiên viên tịch. Bảo Sát phụng mệnh di chúc hỏa thiêu ngay nơi am. Khi thiêu, hương lạ bay xa, nhạc trời vang hư không, mây năm sắc phủ trên giàn hỏa.

Bốn hôm sau, Tôn Giả Phổ Tuệ từ Yên Tử vội vã trở về, dùng nước thơm rưới lên hỏa đàn. Khi làm lễ xong, Phổ Tuệ thu ngọc cốt, lượm được Xá Lợi năm màu, cỡ lớn hơn 500 viên, cỡ nhỏ như hạt lúa, cải, không kể đến.

Đức Điều Ngự tịch diệt cùng một ngày với Công Chúa Thiên Thụy.

(Trang 33 thì ghi là Bảo Sát phụng di chúc hỏa thiêu Điều Ngự. Trang 34 thì viết là Pháp Loa thiêu Điều Ngự nhặt được hơn 3.000 viên Xá Lợi đem về chúa Tư Phúc tại Kinh Đô)

Vua Anh Tông cùng Quốc phụ Thường Tề thống suất triều đình cùng đi thuyền đến chân núi, gào khóc vang trời rồi rước ngọc cốt và Xá Lợi đưa về kinh thành. Triều đình và thôn dã tiếc thương gào không vang động đất trời.

Vua đem ngọc cốt để vào bảo khám, chia xá lợi làm 2 phần, một phần đựng trong bình vàng bảy báu, tôn trí vào Đức Lăng, tôn miếu hiệu là Nhân Tông. Một phần cất vào Bảo Tháp tại khu đất Đức Lăng ở Hưng Long. Một phần cất vào Kim tháp chùa Vân Yên núi Yên Tử đặt tên là Huệ Quang Kim Tháp, và cho đúc hai tượng Điều Ngự bằng vàng, một thờ ở Chùa Báo Ân tại Siêu Loại, một thờ ở Chùa Vân Yên núi Yên Tử.

Đức Điều Ngự để lại nhiều tác phẩm dạy đạo, gồm có:

1/- Thiền Lâm Thiết Chủy Ngữ Lục

2/- Hậu Lục

3/- Đại Hương Hải Ấn Thi Tập

4.- Tăng già Toái Sự

ĐỆ NHỊ TỔ PHÁP LOA (1284-1331)

Ngài sinh năm 1284 tại Thôn Đồng Hòa, Hương Cửu Loa, bên sông Nam Sách. Trước lúc mang thai, mẹ Ngài là Vũ Thị đêm nằm mộng thấy dị nhân trao cho kiếm thần, bà vui mừng ôm vào lòng, đến khi thức giấc bà biết mình đã có thai. Khi còn trong thai, vì mẹ Ngài đã sinh liên tiếp đến 8 đứa con gái, nên âm thầm tìm thuốc uống để phá thai 4 lần mà vẫn không bị hỏng, nên khi sinh ra Ngài, bà đặt tên là Kiên Cương. Khi Ngài ra đời có mùi hương lạ bay khắp nhà hồi lâu mới hết. Lúc còn bé đã có thiên tư đĩnh ngộ, không nói lời ác, không ăn chất cay nồng.

Năm Ngài được 21 tuổi (1304). Đức Điều Ngự đi khắp nơi khuyên người dân trừ bỏ dâm từ và bố thí pháp dược để trị bịnh cho người nghèo và cũng có ý tìm người để nối pháp. Khi xa giá Điều Ngự đến sông Nam Sách thì cùng lúc Kiên Cương đang đi chơi xa bỗng thấy phiền muộn nên quay về. Thấy Điều Ngự đến thôn mình, bèn đến đảnh lễ xin xuất gia. Đức Điều Ngự vừa thấy tướng mạo Ngài thì bảo: “Đứa bé này có đạo nhãn, sau này hẳn là bậc pháp khí”, lại thấy ngài tự đến xin Xuất Gia nên đặt tên cho là Thiện Lai.

Lúc về đến núi Linh Sơn. Đức Điều Ngự thế phát và trao man y cho Ngài rồi bảo đến Quỳnh Lâm học với Hòa Thượng Tính Giác. Ngài hỏi nhiều câu mà sư chưa thể khai thị cho, nên tìm đọc Kinh Lăng Nghiêm. Đến đoạn 7 lần gạn hỏi Tâm, cuối cùng đến đoạn ví dụ khách trần thì suy nghĩ giây lâu bỗng được thể nhập. Một lần tham vấn Điều Ngự, nghe đọc bài “Thái dương ô kê” liền lĩnh ngộ. Điều Ngự biết Ngài đã thâm nhâp Phật pháp nên bảo Ngài theo hầu bên mình.

Một đêm nọ, Ngài trình 3 bài tụng cốt yếu đều bị Điều Ngự sổ toẹt. Ngài thưa hỏi đến 4 lần mà Điều Ngự vẫn bảo phải tự tham cứu lấy. Ngài trở về phòng, tâm thần rất xao xuyến, nửa đêm nhìn thấy hoa đèn rơi bỗng nhiên đại ngộ, bèn đem những gì đã tỏ ngộ trình lên Đức Điều Ngự, Ngài rất bằng lòng. Từ đó, Ngài thề nguyện theo 12 hạnh đầu đà.

Năm 1305, Đức Điều Ngự đích thân truyền Giới Thanh Văn và Bồ Tát cho Ngài tại chùa Kỳ Lân. Đến đây sự tham học của Ngài đã thành, nên được ban cho hiệu là PHÁP LOA.

Năm 1307, Điều Ngự thấy trong 7, 8 thị giả Sư là người đứng đầu nên ngày rằm, khi bố tát xong, cho tả hữu lui hết rồi lấy Y Bát và viết tâm kệ giao cho Sư phải giữ gìn.

Năm 1308 Điều Ngự giao chùa Siêu Loại của Sơn Môn Yên Tử cho Sư kế thế trụ trì làm Tổ Thứ Hai của Thiền Phái Trúc Lâm Yên Tử và đem 100 hộp kinh sử ngoại điển và 20 hộp Đại tạng cỡ nhỏ viết bằng máu trao cho Sư để mở mang việc học.

Năm 1330, Sư lâm bệnh. Các đệ tử hỏi: Người xưa lúc lâm chung đều có kệ dạy, sao Thầy không có. Sư quở trách họ, giây lâu bèn ngồi dậy, bảo đem giấy bút đến và viết bài Kệ:

Muôn duyên cắt đứt tấm thân nhàn

Hơn 40 năm cõi mộng tàn

Giã biệt! xin đừng theo hỏi nữa

Bên kia trăng gió mặc thênh thang

Rồi quăng bút an nhiên thị tịch đúng vào giờ Tý, thọ 47 tuổi.

ĐỆ TAM TỔ HUYỀN QUANG (1254-1334)

Huyền Quang nhà ở phía Đông Nam chùa Ngọc Hoàng, tại Lang Am, làng Vạn Tải hạ lưu sông Bắc Giang. Chùa Ngọc Hoàng rất linh. Mẹ là bà Lê Thị, năm 30 tuổi mà chưa có con trai nối dõi nên thường đến cầu nguyện tại chùa này. Một lần bà đi núi Khu Sơn hái thuốc, tới chùa Ma Cô Tiên gặp trời hè nắng gắt nên đến nghỉ dưới bóng chùa. Trong mơ màng bà thấy một con khỉ lớn, đầu đội mũ triều thiên, mình mặc áo hoàng bào, ôm mặt trời hồng ném vào lòng bà. Bà kinh hãi thức giấc, thấy lòng rung động. Về thuật lại cho một vị tôn túc, vị này suy đoán là bà sẽ có thai.

Bà Lê Thị mang thai đến 12 tháng mà bụng không chuyển động nên bà nghi bệnh, uống thuốc phá thai mà thai không bị hư. Năm 1254 Tổ sinh ra. Khi sinh ra có tia sáng mờ ảo, mùi hương thơm phức. Mọi người gọi đó là đứa trẻ có mùi hương thanh tịnh. Thuở nhỏ là đưa bé cứng cáp, đến tuổi đồng ấu thì có tướng mạo dị thường, có chí của bậc trác việt vĩ nhân, học một hiểu mười, có tài nên được gọi là Tải đạo.

Năm 20 tuổi đỗ kỳ thi Hương. Năm sau đậu Thủ khoa thi Hội. Vua muốn gả công chúa cho, nhưng Ngài khước từ. Ngài được bổ vào chức quan Hàn Lâm, phụng mệnh tiếp sứ giả phương Bắc, văn chương lưu loát hơn cả Trung quốc và các lân bang.

Lúc Ngài theo vua đến chùa Vĩnh Nghiêm huyện Phụng Nhãn, thấy quốc sư Pháp Loa đang hành đạo, liền nhớ lại duyên xưa, nên dâng biểu ba lần xin từ chức để xuất gia học đạo tu hành. Lúc đó Vua rất tôn sùng Phật giáo nên chấp nhận. Ngài thọ giáo với Pháp Loa, được pháp hiệu là Huyền Quang (trong phần chú thích có nói là theo tiểu sử của Pháp Loa thì Huyền Quang là đệ tử của Bảo Phúc ở chùa Vũ Ninh).

Ngài phụng mệnh vua trụ trì Chùa Vân Yên, núi Yên Tử. (Vân Yên là tên trước kia. Khi vua đến viếng cảnh chùa thấy sắc hoa tươi đẹp bèn đổi tên thành Chùa Hoa Yên).

Ngài đọc nhiều, tinh thông Phật Pháp, tăng ni theo học đến cả ngàn người. Kể từ đó, Điều Ngự Giác Hoàng, Pháp Loa và Huyền Quang, Ba Tổ đi khắp các chùa danh tiếng trong nước để giảng Kinh cho đồ chúng. Ngài soạn Chư Phẩm Kinh và Công Văn tập, được Điều Ngự bút phê vào Thích Khoa Giáo: “Phàm sách đã qua tay Huyền Quang biên soạn thì không thể thêm hay bớt một chữ nào nữa”.

Ngày rằm tháng giêng năm Quý Sửu (1313), Sư về Kinh thăm vua rồi về Chùa Báo Ân giảng Kinh lăng Nghiêm, buổi chiếu bỗng có một đôi chim khách trắng bay đến lượn qua lượn lại vừa kêu như có điềm vui, Ngài nói với đệ tử là ở Chùa này Ngài thường thấy những điềm lành như thế, phù hợp với lời sấm về ảnh hưởng của trời đất. Ngài nghĩ đến cha mẹ ông bà, dâng biểu xin phép về làng thăm viếng. Nhân đó lập một ngôi chùa ở phía tây nhà, nằm ở phía Đông chùa Ngọc Hoàng đặt tên Chùa là Đại Bi, lấy ý từ câu “Đại Từ Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát cứu độ cha mẹ quay về Đạo Phật”, nên có tên là Chùa Thầy.

Năm 1313, Ngài trở về Chùa Vân Yên, lúc đó Ngài được 60 tuổi.

Một hôm, vua bảo với các quan hầu cận, Tăng quan và đạo sĩ là: Mọi người sinh ra đều thích ăn ngon, mặc đẹp. Những người gác bỏ lòng ham muốn để phụng sự đạo, là để lo một mặt mà thôi. Sao chỉ mỗi Thầy Huyền Quang từ khi sinh đến giờ vẫn sắc sắc không không, như nước không sóng, như gương không bụi, phải chăng Sư đè nén lòng dục, hay là không có lòng dục?”

Lúc đó viên quan bên cạnh ứng tiếng đọc:

“Họa Hổ, họa bì, nan họa cốt

Tri nhân, tri diện, bất tri tâm”

Xin hãy xem thử vì sao được như thế. Lời đó là của Học sĩ lừng danh, Trạng Nguyên của hai nước: Mạc Đỉnh Chi.

Vua nghe tâu bèn sắp đặt để thử thách Sư. Vua chọn một cung nữ chưa tới 20 tuổi, rất xinh đẹp lại giỏi văn thơ, có tài ăn nói, tên là Điểm Bích và dặn dò rằng Vị Tăng ấy vốn không ưa sắc dục, tính rất cương trực, giới hạnh lại cao nghiêm, ngươi hãy đến thử Thầy ấy, nếu lòng Thầy còn quyến luyến tình dục thì hãy dụ lấy cho được kim tử làm bằng chứng. Còn nếu ngươi gian trá sẽ có tội.

Thị Bích mang theo một tỳ nữ đến chùa Vân Yên xin xuất gia học đạo tu hành, nhờ bà sư già tiến dẫn với Quốc Sư. Bà Tỳ Kheo già thường sai Thị Bích dâng trà nước cho Sư. Sư thấy nàng ta cử chỉ lẳng lơ không giống người cầu đạo nên ra lịnh cho Tỳ Kheo ni già bảo thị Bích về nhà, đợi tới tuổi già sẽ cho đến học đạo.

Nàng ta thấy Sư giới hạnh tinh nghiêm không cám dỗ được thì nghĩ kế khóc lóc với vị tỳ Kheo ni già là cha làm quan Huyện, đi thu thuế được một số vàng lớn, cho vào túi, mang về Kinh để nạp, nửa đường bị cướp sạch. Xin được gia hạn đến cuối năm sẽ mang nạp đủ, nếu quá kỳ hạn thì sẽ sung công điền sản, vợ con. Giờ nàng xin mọi người giúp đỡ, góp vào với điền sản đã bán để đủ số.

Các Tăng ai nghe cũng cảm động xin Sư góp vàng bạc để cứu gia đình nàng. Sư định về triều tâu xin Hoàng đế giùm cho gia đình nàng ta, nhưng có một vị Tăng bảo là chúng ta nên giúp, thay vì nhờ triều đình, vì đó là việc riêng, không phải việc công. Sư nghe nói vậy lấy một số vàng cho nàng để về chuộc tội cho cha.

Nhận được vàng, Thị Bích bèn về triều, tâu với vua là đã đến xin học đạo với sư và được cử dâng trà nước cho Sư hơn l tháng, Sư chưa từng hỏi han hay nhìn nàng. Nhưng một đêm, nàng lẻn đến tăng phòng, thấy Sư ngâm đi ngâm lại đến 3 lần, bài kệ:

Vằng vặc trăng mai ánh nước

Hiu hiu gió trúc ngâm sênh

Người hòa tươi tốt cảnh hòa lạ

Máu Thích ca nào thử hữu tình

Vua nghe nói lòng buồn, than rằng nếu việc này có thật thì đó là Sư trúng kế ngang qua cửa mà giăng lưới bắt chim của vua, còn nếu không cũng không tránh khỏi mối ngờ “ngồi xỏ giày nơi đám ruộng dưa”. Vua bèn mở hội phía Tây thành và cho sứ giả đi mời Sư, bí mật bày trên bàn cùng cà sa, y bát, pháp khí xen lẫn với vàng bạc, châu ngọc, đồi mồi. Sư nghe vua triệu nên hôm sau về Kinh, vào triều.

Sáng hôm sau vào đàn tràng, thấy bốn bên bọc lụa vàng, trên bàn bày các tạp vật cùng hương đăng. Sư biết là do cung nữ thử mình ngày trước, liền ngửa mặt lên trời than thầm rồi lên đàn ba lần, xuống đàn ba lần. Đứng ngay giữa đàn, vọng bái Thánh hiền mười phương. Tay trái cầm bình bạch ngọc, tay phải cầm nhánh dương xanh, mật niệm và tẩy tịnh trên dưới, trong ngoài đàn tràng. Bỗng có một đám mây đen hiện lên từ hướng Đông Nam, bụi bay mù mịt ngất trời. Khi dứt thì các thứ tạp vật bị cuốn bay đi hết, chỉ còn hương đăng lục cúng. Cả đàn tràng và những người xem hội đều thất sắc kinh hoàng. Vua thấy hạnh của Sư thấu đến trời đất liền bỏ chỗ ngồi lạy sư để tạ lỗi, và phạt thị Bích làm tỳ nữ quét tước một ngôi chùa trong điện cung Cảnh Linh. Từ đó, vua thêm tôn kính, gọi Sư là Tự Pháp.

Sư cư trú ở Thanh Mai 6 năm, sau về trụ trì chùa Côn Sơn đọc tụng kinh điển và lập ra đài Cửu Phẩm Liên Hoa để lại cho kẻ hậu học.

Ngày 23 tháng giêng năm Giáp Tuất (l334), Sư viên tịch tại chùa Côn Sơn, thọ 80 tuổi (1254-1334).

PHÁP CỦA THIỀN PHÁI TRÚC LÂM

Đệ Nhị Tổ là PHÁP LOA cũng có để lại THIỀN ĐẠO YẾU HỌC mà những lời trong đó cũng không khác gì lời của Chính kinh và chư Tổ đi trước. Xin sơ lược vài điểm:

Ngài nói về người xuất gia cần phải học Ba Thứ Pháp: Đó là hiểu rõ Tông Sư, thứ đến phân biệt chân ngụy, sau hết biết thiện ác.

Ngài dạy phải biết Tổ Sư thuyết pháp gồm những ai? Có bao nhiêu người đắc đạo nối pháp, truyền tông? Thầy nào tăng chúng có thể theo học.

Ngài dạy phân biệt chân, ngụy: Nếu là pháp chân chính thì thường giữ Giới Luật, y theo giáo pháp mà tiến tu. Dạy nên gần gũi bạn tốt để được khuyên bảo sám hối, diệt trừ tội lỗi, siêng năng tìm thiện tri thức, tu hành tinh tấn.

Ngài dạy người học đạo phải Thấy Tánh. Sau khi Thấy Tánh phải giữ gìn Tịnh Giới kiên cố. Đó là ngoài dứt các duyên, trong tâm không loạn. Vì Tâm không loạn nên cảnh đến vẫn an nhàn.

Với Thiền Định thì Ngài dạy Quán Thân. Quán Tâm. Quán pháp. Ngài dạy những điều cốt yếu của Đại thừa là VĂN, TƯ, TU, GIỚI, ĐỊNH, TUÊ. Dạy phải nương theo Kinh sách để tu hành và chỉ rõ cách học đạo, từ cách chọn bạn cho đến những hạng Thầy nên gần gũi để được lời lạc.

Tóm lại qua những bài giảng của hai Tổ PHÁP LOA, THIỀN PHÁI TRÚC LÂM YÊN TỬ, ta thấy hoàn toàn phù hợi với tinh thần TU TÂM theo Đại Thừa, dạy người tu quay vào tìm Tâm vì Tâm tức là Phật.

Phần kết luận của Thiền Đạo Yếu Lược rất đáng cho người tu suy nghĩ:

“Nay thấy có kẻ học đạo, chưa nghe đạo đã xưng là tu đạo. Tu đạo gì vậy? Cổ Đức nói: “Ăn được vài cọng rau đã tự xưng là ăn chay theo Tổ Sư”. Lại nói: Như con trâu kia suốt đời ăn cỏ mà có thành Phật bao giờ?” Cho nên Tuệ Trung nói:

“Ăn thịt hay ăn cỏ

Chúng sinh từng loài đó

Xuân về trăm cỏ sinh

Tội phước làm gì có!

Đó là Ngài theo gương Tổ Đạt Ma, phá chấp cho những người ăn chay rồi lấy đó làm công năng tu hành. Điều đó không có nghĩa là Ngài khuyến khích ăn mặn. Nhưng ăn chay mà không Văn, Tư, Tu thì cũng không sinh được Trí Huệ, nên cũng chẳng có lợi ích gì, chỉ dứt được Nghiệp Sát mà thôi.

Phần cuối là lời ghi của người in sách.

Theo đó thì Đức Điều Ngự cũng thuộc dòng Thiền Dương Kỳ, thuộc dòng Lâm Tế với Ngài Vô Môn. Chính vì vậy mà ta thường thấy những câu hỏi đáp giữa Thầy trò với nhau, như thường diễn ra trong các dòng Thiền. Nhưng ở đây điều chúng ta quan tâm là tuy cùng dòng Dương Kỳ, nhưng người đắc pháp thật sự và người chưa đắc thì ngôn ngữ, cách diễn tả hoàn toàn khác nhau: Ngài Vô Môn thì ngôn ngữ kiêu mạn, sưu tầm nhiều Công Án ngoại soi. Những lời bàn của Ngài cũng làm cho người đọc tưởng lầm chứng đắc là điều gì đó ghê gớm, còn cao hơn cả Phật, Tổ. Trong khi đó, các Tổ Thiền Phái Trúc Lâm Yên Tử ngôn ngữ hết sức bình dị, chỉ nhắc nhở mọi người quay về tìm Tâm, tìm Tánh, Giữ Giới, Định, Huệ, Văn, Tư, Tu, Quán Thân, Quán Tâm. Không hề đao to, búa lớn, chỉ dạy cặn kẽ từ việc nên đọc Kinh để thấu hiểu Phật Pháp, nên phân biệt pháp đúng, sai. Nên chọn bạn, chọn Thầy như thế nào? Là những căn bản mà người tu chân chính nào cũng phải xem như Kim Chỉ Nam nếu muốn tu hành thành công.

... CÒN TIẾP ...






© Tác giả giữ bản quyền.
. Đăng ngày 15.01.2013 theo nguyên bản của tác giả từ SàiGòn.
. TRÍCH ĐĂNG LẠI VUI LÒNG GHI RÕ NGUỒN NEWVIETART.COM .