CÓ MỘT CUỐN SÁCH NHƯ THẾ ĐÓ

 

Lm. Giuse
NGUYỄN HỮU TRIẾT

Quý vị đang nghe Concerto N°4 của L.Beethoven

QUYỂN HẠ


9.Trách nhiệm cá nhân.

"Có lời Đức Chúa phán với tôi rằng: Sao các ngươi cứ truyền cho nhau câu ngạn ngữ này trong khắp đất Israel: 'Đời cha ăn nho xanh, đời con ê răng'. Ta lấy mạng sống Ta mà thề - sấm ngôn của Đức Chúa là Chúa Thượng. Này, mạng sống nào cũng thuộc về Ta, mạng sống của cha cũng như mạng sống của con đều thuộc về Ta. Ai phạm tội, kẻ ấy phải chết. Người nào ăn ở công chính chắc chắn sẽ được sống. Nhưng nếu nó sinh ra một đứa con hung dữ, khát máu, phạm trọng tội… hỏi đứa con đó có được sống không? Không, chắc chắn nó phải chết (cha nó thì không chết). Và này có người sinh ra một đứa con, đứa con thấy các tội lỗi của cha mình, nó đã thấy mà không làm như thế… nó sẽ không chết vì tội của cha nó, chắc chắn nó sẽ sống, còn cha nó vì đã bóc lột người khác, lại cướp giật của người anh em và làm điều không tốt trong đêm nên sẽ phải chết vì tội lỗi của mình. Nhưng các ngươi nói: Tại sao con không mang lấy tội của cha? Đứa con một khi đã thi hành điều chính trực công minh, đã tuân giữ cùng thi hành mọi quy tắc của Ta, chắc chắn nó sẽ sống. Ai phạm tội, kẻ ấy phải chết. Con không mang lấy tội của cha, cha cũng không mang lấy tội của con. Sự công chính của người công chính ở với người công chính; còn điều dữ của kẻ gian ác ở với kẻ gian ác" (Ed 18,1-20).

NHẬN ĐỊNH

1. Cách đây gần 3000 năm mà đã có luật phân định trách nhiệm cá nhân rõ ràng như vậy thì quả là lạ lùng, vì thời đó cả nhân loại đều xử theo kiểu "trách nhiệm tập thể", nhất là giữa những người có liên hệ máu mủ với nhau. Có lẽ các vua chúa muốn nhắm 2 mục tiêu: một là để răn đe cho mọi người khiếp sợ; hai là để khử trừ mầm mống phản loạn về sau theo kiểu "nhổ cỏ phải nhổ tận rễ"! Chẳng nói đâu xa, ngay tại Việt Nam dưới thời phong kiến cách nay mấy trăm năm vẫn còn những vụ án "tru di tam tộc", "tru di cửu tộc", cả những người có họ hàng xa với kẻ bị kết tội, muốn sống cũng phải trốn đi nơi khác và thay tên đổi họ may ra mới thoát!

2. Vụ án Lệ Chi Viên: chuyện xảy ra thời vua Lê Thái Tông (1423-1442), là vị hoàng đế thứ hai của nhà Hậu Lê, ở ngôi từ năm 1433-1442, ông tên thật là Lê Nguyên Long.

Ngày 27/7 năm Nhâm Tuất (1442), nhà vua đi kinh lý miền đông, tới Chí Linh (Hải Dương) xem duyệt binh. Nguyễn Trãi rước vua về nghỉ ở Lệ Chi Viên (nơi trồng nhiều vải: Lệ Chi Viên). nay là Đại Lai - Gia Bình thuộc Bắc Ninh. Ngày 4/8 nhà vua tới nơi, nghỉ ngơi; tháp tùng đức vua có Nguyễn Thị Lộ - người thiếp yêu quý của Nguyễn Trãi, bà đã 40 tuổi nhưng nhan sắc còn mặn mà, lại thêm tài văn chương, thơ phú nên rất được vua yêu quý, lúc nào cũng kề cận hầu vua (lúc này nhà vua mới 20 tuổi). Đêm ấy nhà vua thức suốt đêm đối ẩm với Thị Lộ… tới sáng, bị đột quỵ và băng hà. Các quan đưa xác vua về kinh, đến ngày 6/8 thì tới nơi, triều đình làm lễ phát tang và an táng nhà vua, đồng thời quy cho Thị Lộ tội giết vua. Nguyễn Trãi và gia đình bị tru di tam tộc vào ngày 16/8 năm ấy. Thật oan cho vị lão công thần cả đời trung tín "phò vua giúp nước", cùng với mọi người trong gia tộc. Mãi tới năm Giáp Thân 1464, vua Lê Thánh Tông mới giải oan cho ông, ban tặng tước Tán Trù, bổ dụng một người cháu của dòng họ còn sót lại là Nguyễn Anh Vũ.

3. Vụ án Nguyễn Văn Thành: chuyện xảy ra vào thời vua Gia Long. Nguyễn Văn Thành (1758-1817), là một vị tướng tài, theo giúp vua Gia Long từ khi còn là thanh niên, nằm gai nếm mật cùng đức vua, lúc bôn ba, đào tẩu khắp miền Tây Nam bộ. Khi vua Gia Long đã toàn thắng nhà Tây Sơn, Nguyễn Văn Thành cũng được vinh thăng.

Năm Tân Dậu 1800 được lãnh ấn: Khâm Sai Chưởng Tiền Quân, Bình Tây Đại Tướng Quân, với tước Quận Công. Năm 1802 được phong Tổng Trấn Bắc Thành (Hà Nội). Năm Canh Ngọ (1810) được triệu về kinh giao chức Tổng Tài trong việc biên soạn bộ Hoàng Việt Luật Lệ.

Năm 1813 được cử ra trấn Đà Nẵng. Năm Ất Hợi 1815, con trai Nguyễn Văn Thành là Nguyễn Văn Thuyên, cũng là phò mã của vua Gia Long thi đỗ Hương Cống, nghe tin tại Thanh Hóa có hai nhà thơ nổi tiếng: Nguyễn Văn Khuê và Nguyễn Đức Nhuận, ông làm một bài thơ để tặng, nội dung gồm những lời tâm giao, bàn luận về văn chương, phong cảnh… nhưng cuối bài có hai câu:

"Sơn tễ phen này dù gặp gỡ,

Giúp nhau xoay đổi hội cơ này"

Bài thơ không tới tay hai người bạn mà lọt vào tay các quan chức triều đình, được "nâng quan điểm" quy kết tội phản loạn, và được tâu lên vua Gia Long. Nguyễn Văn Thành đã giải thích hết đường, đã năn nỉ "gãy lưỡi" cũng không lay chuyển được án vua ra, ông bị bức tử vào năm Đinh Sửu 1817, còn Nguyễn Văn Thuyên thì bị chém đầu (cha đã chịu chết với con, còn họ hàng có ai phải chết nữa không thì sử sách không ghi).

Mãi tới năm 1868, lật lại vụ án Nguyễn Văn Thuyên, vua Tự Đức chạnh thương vị tướng tài ba và trung tín của cụ nội mình là vua Gia Long, đã giải oan cho ông bằng bút phê: "Nhân vì con có tội mà để lụy cho cha", bằng cách phong chức tước cho con cháu của ông, còn Nguyễn Văn Thành được lên chức Vọng Các Công Thần, tước Quận Công.

4. Vụ án Cao Bá Quát (1809-1855), quốc sư cuộc nổi dạy chống triều đình ở Mỹ Lương.

Ông người Phú Thi huyện Gia Lâm, Bắc Ninh (nay thuộc Hà Nội), vốn "văn hay chữ tốt", nhưng tính khí khảng khái, chẳng biết sợ ai, nhà vua kia mà ông còn chẳng nể:

"Một chiếc cùm lim chân có đế,

Ba vòng xích sắt bước thì vương"

Năm Tân Mão 1831 đời vua Minh Mệnh, ông dự kỳ thi Hương tại trường thi Hà Nội và đậu Á nguyên, nhưng khi "duyệt quyển" (có khi vì ác cảm), các quan xếp ông hàng cuối cùng trong 20 người đỗ Cử nhân.

Năm Mậu Thìn 1832 ông vào kinh thi Hội không đỗ, và mấy lần sau cũng "trượt vỏ chuối" (có lẽ vì ngông). Năm 1841 ông được tiến cử vào kinh đô Thuận Hóa (Huế) làm Hành Tẩu ở bộ Lễ, tháng 8 năm ấy ông được làm sơ khảo trường thi Thừa Thiên, thấy một số bài thi hay nhưng có chỗ phạm quy, ông cùng với Phan Nhạ dùng bút thấm muội đèn sửa chữa 24 quyển, việc bại lộ, ông bị quan giám sát trường thi Hồ Trọng Tuấn tra hỏi và báo cáo thượng quan. Triều đình sai bắt ông, ngày 7/9 âm lịch ông bị tống ngục, bị tra khảo bằng roi song. Ngày 17/10 lại bị bộ Lễ tra tấn, lần này ông mê man bất tỉnh – triều đình ghép ông vào tội chết, nhưng đến cuối năm, án dâng lên, vua Thiệu Trị cho ông chỉ là ngông cuồng thôi nên giảm xuống tội "giảo giam hậu", nghĩa là được "giam lại đợi lệnh". Không bao lâu triều đình cần những hàng xa xỉ của ngoại quốc nên cho các quan lại bị cách chức đi theo các đoàn giao dịch với nước ngoài để lập công chuộc tội. Cao Bá Quát được ra khỏi ngục, sau mấy năm bôn ba buôn bán cho triều đình, cuối năm 1844 ông bị sa thải, về sống với vợ con ở Thăng Long. Năm 1847 ông được lệnh triệu vào Huế làm ở Viện Hàn Lâm. Năm 1850 do không được lòng một số quan lớn, ông bị đẩy đi làm giáo thụ ở Quốc Oai (Sơn Tây), trường là 3 gian nhà tranh vách đất tuềnh toàng, "một thầy, một cô, một chó cái" – học trò dăm bảy đứa "nửa người, nửa ngợm, nửa đười ươi" (Cao Bá Quát).

Khoảng tháng 7/1854, miền Bắc hạn hán, châu chấu phá mùa màng, dân đói khổ. Ông vận động tôn Lê Duy Cự làm minh chủ, ông làm quốc sư dựng cờ nổi dậy chống triều đình ở Mỹ Lương, bị triều đình đánh bại, Cao Bá Quát chết tại trận địa, vua truyền bêu đầu ở Thăng Long, sau đó băm nhỏ vứt xuống sông. Ngoài ra triều đình còn bắt giết hết gia tộc nội ngoại của ông, Cao Bá Đạt – anh của ông lúc đó đang làm quan ở Nông Cống (Thanh Hóa) cũng bị bắt, dọc đường ông đã tự vẫn. (Cao Bá Quát – Con người và tư tưởng của Nguyễn Tài Thư, NXB Khoa Học Xã Hội 1980, trang 56)

NHẬN ĐỊNH

Mới cách đây hơn 100 năm, án tru di còn thường xuyên áp dụng như vậy, những năm chiến tranh gần đây hơn nữa, chuyện thủ tiêu địch thù kèm theo cả những người thân của họ cũng chẳng hiếm. Thế mà cách nay hơn 2000 năm, giữa một xã hội "đại phong kiến" ở Trung Đông – Thánh Kinh đã có lời dạy: "Ai phạm tội nấy phải chết: con không mang lấy tội của cha; cha cũng không mang lấy tội của con" (Ed 18,20). Không biết bạn đọc có cho là một điều lạ không?

10. Lời giảng đầu tiên của các Tông Đồ:

"Một Đức Giêsu đã chịu đóng đinh trên thập giá và đã sống lại".

Sống lại ư! Chuyện không tưởng?

a. Chính các Tông Đồ, môn đệ của Chúa Giêsu khi nghe về việc sống lại cũng ngơ ngác không hiểu: "Khi Chúa Giêsu báo trước rằng Ngài sẽ bị giết nhưng ngày thứ ba sẽ sống lại, các môn đệ ngỡ ngàng hỏi nhau: Từ cõi chết sống lại nghĩa là gì?" (Mc 9,10).

Cho nên nếu không thực sự chứng kiến cuộc tử nạn và Phục Sinh của Chúa Giêsu thì không ai có thể mở miệng nói về sự sống lại được.

Ngày nay nếu có ai ra đường, ra chợ, ra ngã năm ngã sáu nơi đô thị phồn hoa, hay một chỗ đông người ở tỉnh lẻ hoặc ở miền quê hẻo lánh mà loan tin: "Một tử tội tên A mới bị thi hành án, chỉ sau chưa đầy 3 ngày đã sống lại… Ai muốn sống mãi mãi thì hãy tin theo ông ta và nhập bọn với chúng tôi…" – Liệu người đó có thuyết phục được ai không? Hay người ta bảo anh ta là "gàn, mát", và nếu còn cứ bô bô loan báo như vậy, người ta sẽ tống vào nhà thương điên Biên Hòa.

b. Ông Phêrô bị người Do Thái phản ứng:

- Ông Phêrô nói với người Do Thái: "Đức Giêsu đã bị các ông treo trên cây gỗ mà giết đi, nhưng Thiên Chúa của cha ông chúng tôi đã làm cho Người chỗi dậy (sống lại)… Sự kiện đó chúng tôi xin làm chứng cùng với Thánh Thần… Nghe vậy, họ giận điên lên và muốn giết các ông" (Cv 5,30-33).

- Thánh Phaolô ở Athena (thủ đô Hy Lạp) cũng đã lâm vào hoàn cảnh này. Sách Tông Đồ Công vụ kể: (Tại Athena) có mấy triết gia thuộc nhóm Khoái Lạc và phái Khắc Kỷ cũng trao đổi với ông Phaolô. Kẻ thì nói: "Con 'vẹt' đó muốn nói gì vậy?". Người khác lại bảo: "Hình như ông ta rao giảng về những thần xa lạ", vì ông Phaolô loan báo Tin Mừng về Đức Giêsu và về sự sống lại. Họ mời ông đi với họ đến hội đồng Arêôpagô và nói: "Chúng tôi có thể biết thứ đạo lý mới ông dạy là gì không? Quả ông đem đến cho chúng tôi một điều lạ tai. Vậy chúng tôi muốn biết điều đó là gì?"…

Đứng giữa Hội đồng Arêôpagô, ông Phaolô nói: "Thưa quý vị người Athêna, tôi thấy rằng, về mọi mặt, quý vị là người sùng đạo hơn ai hết. Thật vậy, khi rảo qua thành phố và nhìn lên những nơi thờ phượng của quý vị, tôi đã thấy có cả một bàn thờ, trên đó khắc chữ: Kính thần vô danh. Vậy Đấng quý vị không biết mà vẫn tôn thờ, thì tôi xin rao giảng cho quý vị:

Thiên Chúa, Đấng tạo thành vũ trụ và muôn loài trong đó, Đấng làm Chúa Tể trời đất, không ngự trong những đền do tay con người làm nên. Người cũng không cần được bàn tay con người phục vụ, như thể Người thiếu thốn cái gì, vì Người ban cho mọi loài sự sống, hơi thở và mọi sự. Từ một người duy nhất, Thiên Chúa đã tạo thành toàn thể nhân loại, để họ ở trên khắp mặt đất; Người đã vạch ra những thời kỳ nhất định và những ranh giới cho nơi ở của họ. Như vậy là để họ tìm kiếm Thiên Chúa; may ra họ dò dẫm mà tìm thấy Người, tuy rằng thực sự Người không ở xa mỗi người chúng ta. Thật vậy, chính ở nơi Người mà chúng ta sống, cử động, và hiện hữu, như một số thi sĩ của quý vị đã nói: Chúng ta cũng thuộc dòng giống của Người.

Vậy, vì là dòng giống Thiên Chúa, chúng ta không được nghĩ rằng thần linh giống như hình tượng do nghệ thuật và tài trí con người chạm trổ trên vàng, bạc hay đá.

Vậy mà Thiên Chúa nhắm mắt bỏ qua những thời người ta không nhận biết Người. Bây giờ Người truyền cho người ta rằng mọi người ở mọi nơi phải sám hối, vì Người đã ấn định một ngày để xét xử thiên hạ theo công lý, nhờ một người mà Người đã chỉ định. Để bảo đảm điều ấy với mọi người, Thiên Chúa đã làm cho vị này sống lại từ cõi chết".

Vừa nghe nói đến người chết sống lại, kẻ thì nhạo cười, kẻ thì nói: "Để khi khác chúng tôi sẽ nghe ông nói về vấn đề ấy". Thế là ông Phaolô bỏ họ mà đi. Nhưng có mấy người đã theo ông và tin Chúa, trong số đó có ông Điônyxiô, thành viên Hội đồng Arêôpagô và một phụ nữ tên là Đamari cùng những người khác nữa (Cv 17,16-34).

- Không chỉ thánh Phaolô mà tất cả các Tông Đồ khi loan báo về một đạo mới đều lấy việc Chúa Giêsu chịu nạn chịu chết và sống lại làm nền tảng đạo lý, và mời gọi mọi người chấp nhận, tin theo.

- Bài giảng đầu tiên của ông Phêrô: "Thưa đồng bào Israel xin nghe những lời sau đây. Đức Giêsu Nadarét, là người đã được Thiên Chúa phái đến với anh em. Và để chứng thực sứ mệnh của Người, Thiên Chúa đã cho Người làm những phép mầu, điềm thiêng và dấu lạ giữa anh em. Chính anh em biết điều đó. Theo kế hoạch Thiên Chúa đã định và biết trước, Đức Giêsu ấy đã bị nộp, và anh em đã dùng bàn tay kẻ dữ đóng đinh Người vào thập giá mà giết đi. Nhưng Thiên Chúa đã làm cho Người sống lại, giải thoát Người khỏi những đau khổ của cái chết. Vì lẽ cái chết không tài nào khống chế được Người mãi. Quả vậy, vua Đavít đã nói về Người rằng: Tôi luôn nhìn thấy Đức Chúa trước mặt tôi, vì Người ở bên hữu, để tôi chẳng nao lòng… Chính Đức Giêsu đó, Thiên Chúa đã làm cho sống lại; về điều này, tất cả chúng tôi xin làm chứng. Thiên Chúa Cha đã ra tay uy quyền nâng Người lên, trao cho Người Thánh Thần đã hứa, để Người đổ xuống: đó là điều anh em đang thấy, đang nghe" (Cv 2,22-25 ; 32-33).

c. Ông Phêrô và ông Gioan ra trước thượng hội đồng:

(Sau khi làm cho một người què từ thuở mới sinh được khỏi ngay tức khắc nhờ Danh Đức Giêsu).

“Hai ông còn đang nói với dân, thì có các tư tế, viên lãnh binh Đền Thờ, và các người thuộc nhóm Xađốc kéo đến. Họ bực tức vì các ông giảng dạy cho dân và dựa vào trường hợp Đức Giêsu mà loan báo kẻ chết sẽ sống lại. Họ bắt hai ông và tống ngục cho đến ngày hôm sau, vì trời đã về chiều. Nhưng trong đám người nghe lời giảng, có nhiều kẻ đã tin theo, chỉ riêng số đàn ông đã lên đến chừng năm ngàn.

Hôm sau, các thủ lãnh Do Thái, các kỳ mục và kinh sư họp nhau tại Giêrusalem. Có cả thượng tế Khanan, các ông Caipha, Gioan, Alêxanđê và mọi người trong dòng tộc thượng tế. Họ cho điệu hai Tông Đồ ra giữa hội đồng và tra hỏi: "Nhờ quyền năng nào hay nhân danh ai mà các ông làm điều ấy?". Bấy giờ, ông Phêrô được đầy Thánh Thần, liền nói với họ: "Thưa quý vị thủ lãnh trong dân và quý vị kỳ mục, hôm nay chúng tôi bị thẩm vấn về việc lành chúng tôi đã làm cho một người tàn tật, về cách thức người ấy đã được cứu chữa. Vậy xin tất cả quý vị và toàn dân Israel biết cho rằng: nhân danh chính Đức Giêsu Kitô, người Nadarét, Đấng mà quý vị đã đóng đinh vào thập giá, và Thiên Chúa đã làm cho trỗi dậy từ cõi chết, chính nhờ Đấng ấy mà người này được lành mạnh ra đứng trước mặt quý vị. Đấng ấy là tảng đá mà quý vị là thợ xây loại bỏ, chính tảng đá ấy lại trở nên đá tảng góc tường. Ngoài Người ra, không ai đem lại ơn cứu độ; vì dưới gầm trời này, không có một danh nào khác đã được ban cho nhân loại, để chúng ta phải nhờ vào danh đó mà được cứu độ".

Họ ngạc nhiên khi thấy ông Phêrô và ông Gioan mạnh dạn, và biết rằng hai ông là những người không có chữ nghĩa, lại thuộc giới bình dân. Họ nhận ra hai ông là những người đã từng theo Đức Giêsu; đồng thời họ lại thấy người đã được chữa lành đứng đó với hai ông, nên họ không biết đối đáp thế nào. Họ mới truyền cho hai ông ra khỏi Thượng Hội Đồng, và bàn tính với nhau. Họ nói: "Ta phải xử làm sao với những người này? Họ đã làm một dấu lạ rành rành: điều đó hiển nhiên đối với mọi người cư ngụ tại Giêrusalem, và ta không thể chối được. Nhưng để cho việc đó khỏi lan rộng thêm trong dân, ta hãy ngăm đe, nghiêm cấm họ từ nay không được nói đến danh ấy với ai nữa".

Họ cho gọi hai ông vào và tuyệt đối cấm hai ông không được lên tiếng hay giảng dạy về danh Đức Giêsu nữa. Hai ông Phêrô và Gioan đáp lại: "Nghe lời các ông hơn là nghe lời Thiên Chúa, xin hỏi: trước mặt Thiên Chúa, điều ấy có phải lẽ không? Các ông thử xét xem! Phần chúng tôi, những gì tai đã nghe, mắt đã thấy, chúng tôi không thể không nói ra". Sau khi ngăm đe lần nữa, họ thả hai ông về, vì không tìm được cách trừng trị hai ông. Lý do là vì họ sợ dân: ai nấy đều tôn vinh Thiên Chúa vì việc đã xảy ra. Thật vậy, người được phép lạ ấy chữa lành đã ngoài bốn mươi tuổi” (Cv 4,1-22)

d. Ông Phaolô nói về con đường Cứu độ cho người Philípphê: "Vấn đề là được biết chính Đức Kitô, nhất là biết Người quyền năng thế nào nhờ đã phục sinh, cùng được thông phần những đau khổ của Người, nhờ nên đồng hình đồng dạng với Người trong cái chết của Người" (Pl 3,10).

Ông Phaolô đến Thessalônica thảo luận với dân chúng. Dựa vào Thánh Kinh, ông giải thích và xác định rằng Đấng Kitô phải chịu khổ hình và sống lại từ cõi chết. Ông nói: "Đấng Kitô ấy chính là Đức Giêsu mà tôi rao giảng cho anh em" (Cv 17,1-4).

Không chỉ ông Phêrô và ông Phaolô, những vị Tông Đồ cột trụ, rao giảng về Đức Giêsu chịu chết và sống lại, các vị khác cũng rao giảng như vậy. Thầy phó tế Stêphanô bị bắt, ông đã nói với cấp lãnh đạo và dân Do Thái: "Cha ông các ngươi đã giết các tiên tri là những người đã tiên báo Đấng Cứu Thế sẽ đến, còn các ông nay trở thành những kẻ phản bội và sát hại Đấng ấy (Chúa Giêsu)… họ giận điên lên, lôi ông ra ngoài ném đá… Ông Stêphanô nói: "Kìa tôi thấy trời mở ra và Con Người (Chúa Giêsu) đứng bên hữu Thiên Chúa". Họ liền kêu lớn tiếng, bịt tai lại và nhất tề xông vào ông và lôi ra ngoài thành mà ném đá" (Cv 7 – 8).

- "Ông Philípphê xuống một thành miền Samari và rao giảng Đức Giêsu (đã sống, đã chết và sống lại) cho dân ở đó" (Cv 8,4-8).

- Ông Philípphê rửa tội cho quan thái giám:

“Và bấy giờ đang trên đường về, ngồi trên xe nhà, ông đọc sách ngôn sứ Isaia. Thần Khí nói với ông Philípphê: "Tiến lên, đuổi kịp xe đó". Ông Philípphê chạy lại, nghe thấy ông kia đọc sách ngôn sứ Isaia, thì hỏi: "Ngài có hiểu điều ngài đọc không?". Ông quan đáp: "Mà làm sao tôi hiểu được, nếu không có người dẫn giải?". Rồi ông mời ông Philípphê lên ngồi với mình. Đoạn Kinh Thánh ông đang đọc là đoạn này: "Như chiên bị đem đi làm thịt, như cừu câm nín khi bị xén lông, Người chẳng mở miệng kêu ca. Bởi Người bị hạ xuống, nên bản án của Người đã được hủy bỏ. Dòng dõi Người, ai sẽ kể lại, vì cuộc sống của Người trên trần gian đã bị chấm dứt".

Viên thái giám ngỏ lời với ông Philípphê: "Xin ông cho biết: vị ngôn sứ nói thế về ai? Về chính mình hay về một ai khác?". Ông Philípphê lên tiếng, và khởi từ đoạn Kinh Thánh ấy mà loan báo Tin Mừng Đức Giêsu (Đức Giêsu chịu chết và sống lại) cho ông.

Dọc đường, các ông tới một chỗ có nước, viên thái giám mới nói: "Sẵn nước đây, có gì ngăn trở tôi chịu phép rửa không?" Ông Philípphê đáp: "Nếu ngài tin hết lòng, thì được". Viên thái giám thưa: "Tôi tin Đức Giêsu Kitô là Con Thiên Chúa". Ông truyền dừng xe lại. Ông Philípphê và viên thái giám, cả hai cùng xuống chỗ có nước, và ông Philípphê làm phép rửa cho ông quan. Khi hai ông lên khỏi nước, Thần Khí Chúa đem ông Philípphê đi mất, và viên thái giám không còn thấy ông nữa. Nhưng ông tiếp tục cuộc hành trình, lòng đầy hoan hỷ. Còn ông Philípphê thì người ta gặp thấy ở Átđốt. Ông loan báo Tin Mừng cho mọi thành thị ông đi qua, cho tới khi đến Xêdarê” (Cv 8,28-40).

NHẬN ĐỊNH

Thánh Gioan Chrisôtômô đã thay cho cả nhân loại nêu một thắc mắc: Chúa Giêsu khi sống còn không che chở được các môn đệ, chết rồi còn che chở được ai? Thế mà các ông lại giảng về một Chúa Giêsu đã chết.

(Trích bài giảng của thánh Gioan Kim Khẩu , giám mục, về thư thứ nhất gửi tín hữu Corintô) Cái yếu đuối của Thiên Chúa còn hơn cái mạnh mẽ của loài người:

"Thập giá do những người dốt nát rao truyền đã thuyết phục đượ c nhiều người , đúng hơn, đã thuyết phục được toàn thể địa cầu. Thập giá không bàn về những chuyện tầm thường, nhưng bàn về Thiên Chúa, về đạo thật, về đời sống theo Tin Mừng, cũng như về cuộc phán xét mai sau, đồng thời làm c ho mọi người quê mùa thất học thành những người khôn ngoan thông thái. Thế mới hay điều điên dại của Thiên Chúa còn khôn ngoan hơn con người, và cái yếu đuối của Thiên Chúa còn mạnh mẽ hơn con người.

Nhưng mạnh mẽ hơn như thế nào? Thưa, thập giá đã lan tràn khắp địa cầu và đã chinh phục được mọi người. Nhiều người cố tìm cách bôi tên Đấng bị đóng đinh, nhưng kết quả ngược hẳn lại: danh Người lừng lẫy, và ngày càng vang xa, còn những kẻ chống đối Người thì tiêu vong tàn lụi; những người sống gây chiến chống lại một người chết, nhưng chẳng đi đến đâu hết. Vì thế, khi người Hy Lạp bảo tôi đã chết, thì chính là lúc tỏ ra họ khờ dại hơn cả. Còn tôi, khi bị họ coi là khờ dại thì rõ ràng tôi còn khôn ngoan hơn kẻ khôn ngoan. Khi gọi tôi là kẻ yếu đuối, họ cho thấy chính họ còn yếu đuối hơn. Những điều mà nhờ ơn Thiên Chúa, những kẻ thu thuế, những anh thuyền chài làm được, thì các bậc triết gia, các vị vua chúa, và dám nói là cả thế gian vẫn theo đuổi không biết bao nhiêu chuyện này, ngay việc hình dung ra những điều đó thôi cũng chưa hình dung nổi.

Đó cũng chính là điều thánh Phaolô để tâm suy nghĩ. Người nói: Cái yếu đuối của Thiên Chúa còn hơn cái mạnh mẽ của loài người. Quả vậy, rao giảng là việc của Thiên Chúa, điều ấy cũng hiển nhiên thôi. Làm sao mà mười hai anh đàn ông dốt nát, sống trên ao hồ, sông lạch, hay trong vùng hoang địa lại dám nghĩ đến chuyện toan tính những việc đại sự ấy? Làm sao những kẻ có lẽ chưa khi nào đặt chân tới một vùng phố thị, chưa khi nào xuất hiện trước công chúng, lại dám tung ra một trận chiến chống lại cả thế gian? Chính người viết về họ cũng nói rõ là họ nhát đảm, hay sợ sệt. Ông không phủ nhận điều đó, không muốn che giấu khuyết điểm cho họ. Và đây là chứng cứ mạnh mẽ nhất chứng tỏ rằng ông viết sự thật. Vậy ông kể gì về họ? Ông kể rằng khi Đức Kitô bị bắt, dầu trước đó Người đã làm vô số phép lạ, mấy anh kia cũng trốn hết, còn lại có anh đứng đầu thì lại chối Người.

Vậy, khi Đức Kitô còn sống, họ đã không chịu nổi sức tấn công của người Do Thái, thì khi Đức Kitô đã chết, mà nếu Người không Phục Sinh - nhiều người vẫn nói là đâu có chuyện Người Phục Sinh - nếu Người không nói chi với họ, không ban sức can đảm cho họ, làm sao họ dám tung ra một trận chiến chống lại cả địa cầu rộng lớn đến thế? Làm gì lúc đó họ lại chẳng bảo nhau: "Chuyện chi lạ vậy? Ông ấy không cứu nổi chính mình mà lại bảo vệ được chúng ta ư ? Lúc sống, ông ấy không tự giúp gì được cho mình, mà khi chết lại đưa tay trợ giúp chúng ta được ư ? Lúc sống, ông ấy không khuất phục được một dân tộc nào, thì chúng ta sẽ nhờ rao tên ông ấy mà chinh phục được cả thế giới ư? Nghĩ đến những điều đó mà thôi đã là phi lý lắm rồi, huống chi là thực hiện, làm sao hợp lý được?".

Chính vì vậy mà nếu họ không thấy Chúa đã sống lại, nếu họ không có bằng chứng rõ ràng về quyền năng của Người, thì họ đã không dám liều đến thế" (Các Bài đọc Kinh Sách tập 4 – CGKPV, trang 583-585).

Ghi chú: Thánh Gioan Kim Khẩu – Giám mục, Tiến sĩ Hội Thánh, sinh năm 349 tại Antiochia, học cao hiểu rộng, sống khắc khổ. Làm Linh mục, đi giảng Tin Mừng khắp các vùng. Năm 397 được chọn làm Giám mục thành Constantinople, người tận tụy chấn chỉnh phong hóa trong Giáo Hội và xã hội. Vì bênh vực Tin Mừng và người nghèo trước cảnh xa hoa và vô tâm của những người giàu, người bị hoàng đế ghét, bắt đi đày và chết ở Comana Ponto ngày 14/9/407.

11. Vấn đề Độc Thần.

Trong các dân tộc trên thế giới chỉ có dân Israel theo tôn giáo Độc thần.

11.1 Kinh Thánh Cựu Ước:

- "Nghe đây hỡi Israel! Đức Chúa, Thiên Chúa của chúng ta là Đức Chúa duy nhất, hãy yêu mến Đức Chúa của anh em hết lòng, hết sức anh em" (Đnl 6,4-6).

- "Ta là Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, Ta đã đưa ngươi ra khỏi Ai Cập, khỏi cảnh nô lệ. Người không được có thần nào khác ngoài Ta. Ngươi không được tạc tượng, vẽ hình vật gì trên trời cao cũng như dưới đất thấp hoặc ở trong nước, dưới mặt đất để mà thờ. Ngươi không được phủ phục trước những thứ đó mà thờ phụng. Vì Ta là Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, là một vị thần ghen tuông" (Đnl 5,6-10).

- "Ta là Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi từ khi ngươi còn ở đất Ai Cập. Ngoài Ta ra ngươi không được biết vị thần nào khác, chẳng có vị cứu tinh nào khác ngoại trừ Ta" (Hs 13,4).

- "Há chẳng phải Ta và cũng là Đức Chúa, ngoài Ta ra không có thần nào khác nữa. Chẳng có thần công minh cứu độ ngoại trừ Ta – Ta là Thiên Chúa, chẳng còn Chúa nào khác" (Is 45.22).

11.2 Kinh Thánh Tân Ước:

- "…Mà sự sống đời đời đó là họ nhận biết Cha, Thiên Chúa duy nhất và chân thật, và nhận biết Đấng Cha sai đến là Đức Giêsu Kitô" (Ga 17,3).

- Thánh Phaolô dạy: "Thiên Chúa muốn cho mọi người được cứu độ và nhận biết chân lý. Thật vậy chỉ có một Thiên Chúa, chỉ có một Đấng trung gian giữa Thiên Chúa và loài người, đó là Đức Giêsu Kitô" (1Tm 2,4-5).

- "Chỉ một Chúa, một đức tin, một phép rửa, một Thiên Chúa là Cha" (1Cr 3,11).

11.3 Giáo Hội: Kinh tin kính, lời tuyên xưng cửa miệng của mọi tín hữu trong Giáo Hội: "Tôi tin kính một Thiên Chúa là Cha toàn năng, Đấng tạo thành trời đất muôn vật hữu hình và vô hình".

Ghi chú: kiểu nói "thờ cha, kính mẹ" là kiểu nói dân gian, người Công giáo cũng dùng, ví dụ: chuộc tượng Đức Mẹ, các Thánh về thờ, chụp hình ông bà để thờ. Thực ra người Công giáo chỉ thờ một Thiên Chúa mà thôi. Với Đức Mẹ là biệt kính (không tôn thờ như Chúa), với các Thánh, ông bà, tổ tiên thì tôn kính.

NHẬN ĐỊNH

Những nhà nhân chủng học và tôn giáo học đều cho rằng tín ngưỡng tâm linh hay tôn giáo là thành phần không thể thiếu trong đời sống xã hội: xã hội nào cũng có tín ngưỡng, tôn giáo. Tín ngưỡng tôn giáo tạo nên những nền văn hóa đặc thù: văn hóa Phật giáo, văn hóa Khổng giáo, văn hóa Đạo giáo, văn hóa Ấn giáo, văn hóa Thiên Chúa giáo hay Kitô giáo…

Qua những nghiên cứu khoa học, người ta còn cho rằng chính con người đã tạo ra tôn giáo. Riêng đối với những người Thiên Chúa giáo thì Đạo là do Thiên Chúa trực tiếp ban truyền, dạy bảo. Thánh Phaolô đã quả quyết: "Tin Mừng tôi loan báo không phải do loài người vì không ai trong loài người đã truyền lại hay dạy cho tôi Tin Mừng ấy, nhưng chính là Đức Giêsu Kitô đã mặc khải" (Gl 1,11-12).

Quả vậy, trong xã hội loài người nguyên thủy, loài người luôn bị đe dọa bởi nhiều thế lực, lại chưa có hiểu biết về khoa học, không đủ phương tiện chống đỡ nên lúc nào cũng sống trong sự sợ hãi. Để trấn an phần nào, loài người chỉ còn cách vái lạy, thờ cúng những thế lực đó, họ tự sáng tạo ra đồ thờ: tạc vẽ ảnh tượng; xây dựng nơi thờ phượng: gò, miếu…; lễ nghi: vái, lạy…; sắm lễ vật: hoa quả, cơm cháo, thịt thà. Có nhiều nơi sát tế cả người nữa… Vì có quá nhiều nỗi sợ hãi nên cũng phát sinh nhiều thần:

- Sấm sét ghê hồn, chết người, đổ nhà… nên người ta thờ thần Sấm, thần Sét, họ còn rỉ tai nhau về một lưỡi búa nào đó: "Lưỡi Tầm Sét".

- Sông trào nước lũ làm ngập lụt, cuốn trôi nhà cửa, ruộng vườn… nên người ta thờ thần "Hà Bá".

- Đất lạ, có thể sinh bệnh tật, chết người (do ăn ở mất vệ sinh), người ta sợ nên thờ thần "Thổ Công".

- Câu tục ngữ nơi cửa miệng mọi người: "Đất có Thổ Công, sông có Hà Bá".

- Rắn độc cắn chết người, quá sợ hãi nên người ta thờ thần Rắn (Chằn tinh trong câu chuyện Thạch Sanh Lý Thông, không một đứa trẻ nào không nghe).

- Núi non vĩ đại, huyền bí… nên có Sơn Tinh… (câu chuyện Sơn Tinh – Thủy Tinh).

Thần trong Ấn giáo thì không thể đếm nổi. Thần thoại Hy Lạp cũng muôn màu muôn vẻ, các thần đều có hình tượng: thần Biển, thần Gió, thần Mặt trời, thần Chiến tranh, có cả thần sắc đẹp "Vệ Nữ" nữa… Không nói đâu xa, ngay tại số 394 đường Lê Văn Sỹ, quận 3, tp.HCM hiện nay có đình Ông Súng, thờ một khẩu súng đại bác bằng gang, khoảng 200kg, nhưng đã vỡ nòng tới 2/3.

Ngoài ra dân còn thờ :

- Ông Ba Mươi (con hổ)

- Ông Bình Vôi

- Cá Ông (cá voi)

- Cẩu Nhi (đền thờ ở Hà Nội)

- Linh Cẩu và tượng Khỉ ở Cầu Chùa (Hội An)

- Suối Cá Thần ở huyện Cẩm Thủy, gần Thành Hồ Thanh Hóa – có rất nhiều cá lạ giống cá trôi mà không phải cá trôi, có con tới 30kg, dân địa phương gọi là Cá Thần vì tương truyền ngày xưa có người ăn cá này bị chết, thế là cả 100 năm nay không ai dám ăn.

Dân mình như thế thì độc thần làm sao nổi?

Có thể nói tóm lại tất cả các dân tộc (trừ dân Israel) đều nằm trong hệ đa thần. Ngay cả dân Israel, mặc dù được Chúa dạy bảo, răn đe, sửa phạt, họ cũng luôn hướng về đa thần giáo của các dân chung quanh.

- Dân Israel đã gom góp trang sức bằng vàng và yêu cầu Aharon đúc cho họ con bò vàng để họ cúng bái rồi bày trò lễ hội, khiến Môsê phải nổi giận đập bể bia đá rồi phạt tội toàn dân… (Xh 32,1-30).

- Bóng mây đen trên vương quốc: Vua Salômôn cuối đời cũng theo Đa thần giáo, đem tai họa đến toàn cõi Israel (xem trang 20-22).

- Vua Akháp lấy vợ ngoại đạo, bà Ideven, toàn dân theo thần Baan – bấy giờ ông Êlia đến bên dân và nói: "Các ngươi khập khễnh hai chân cho đến bao giờ? Nếu Đức Chúa là Thiên Chúa, hãy theo Người. Còn nếu là Baan thì cứ theo nó!". Nhưng dân chúng không đáp lại lời nào… Ông Êlia lại nói với dân: "Chỉ còn sót lại mình tôi là ngôn sứ của Đức Chúa…" (1V 18,20-40).

Tuy vô cùng khó khăn để giữ tôn giáo độc thần, nhưng chung cuộc Israel (ngày xưa) và Thiên Chúa giáo (ngày nay) vẫn giữ được tôn giáo độc thần. Những lệch lạc chỉ là những "phá cách" nhanh chóng bị loại bỏ.

- "Nếu Baan là thần của các ngươi thì hãy theo nó!" – Đây là lời thách thức của tiên tri Êlia.

- "Nếu các thần ngoại là thần của anh em thì hãy thờ chúng, nhưng tôi và gia đình tôi chỉ thờ một Thiên Chúa mà thôi" (Gs 24,15) – Đó là lời thách đố của thủ lãnh Giosuê, kẻ kế vị ông Môsê.

Quả thật tôn giáo độc thần mà tồn tại suốt 4000 năm nay thì phải kể là một phép mầu. Ngoài ra không có thể lý giải cách khác được.

12. Vấn đề đơn hôn và vĩnh hôn.

Hai bản năng hay khuynh hướng mạnh mẽ nhất của muôn loài sinh vật là bản năng bảo tồn, phát huy sự sống và bản năng duy trì nòi giống.

Bản năng duy trì nòi giống nơi thú vật được thể hiện qua việc giao phối tự nhiên giữa con vật đực và con vật cái. Nơi loài người vì là loài "linh ư vạn vật" nên không thể ăn ở giống như cầm thú, mà phải ăn ở theo quy luật, định chế hẳn hoi, đó chính là giao ước và định chế hôn nhân do Thiên Chúa thiết lập ngay từ khi tạo dựng loài người. Chúa phán: "Con người ở một mình thì không tốt, Ta sẽ làm cho nó một trợ tá tương xứng với nó"… Thiên Chúa rút một cái xương sườn của con người ra và lắp thịt thế vào… Thiên Chúa làm ra người đàn bà và dẫn đến với con người. Con người nói: "Đây là xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi"… nàng sẽ được gọi là đàn bà… bởi thế đàn ông sẽ lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình và cả hai làm nên một xương một thịt (St 2,18-25). Kể từ đó loài người phát triển và xã hội nào, thời đại nào cũng có hôn nhân, tuy có khác nhau về hình thức, lễ nghi, thủ tục… nhưng nội dung tức là mục đích vẫn giống nhau, đó là sự kết hợp giữa người nam và người nữ để yêu thương, giúp đỡ nhau và sinh con đẻ cái "nối dõi tông đường".

Các nhà nghiên cứu nhân chủng học, xã hội học, và các chuyên gia đều nhận thấy rằng xã hội loài người từ những bộ lạc nguyên thủy, trải qua chế độ nông nô, rồi phong kiến, người ta đều có khuynh hướng đa thê (một số dân như Lào, đồng bào thiểu số Tây nguyên theo mẫu hệ, nhưng không có đa phu, nghĩa là một người con gái lấy 2, 3 chồng một lúc).

Sở dĩ hôn nhân đa thê phát triển và tồn tại tới ngày nay là vì dường như có những điều kiện thuận lợi về tâm sinh lý và xã hội ủng hộ nó.

a/. Tâm lý: Đàn ông thân dài vai rộng, được Thượng Đế phân công làm cột trụ, làm chỗ dựa cho vợ con. Đàn ông thể hiện sức mạnh của mình qua hành động chinh phục, chở che phái yếu và dĩ nhiên không phải chỉ chở che cho một cá thể phụ nữ mà còn dư sức lực chở che cho nhiều phụ nữ nữa, chính vì vậy mà dễ nảy sinh tình trạng đa thê.

b/. Sinh lý: Về khả năng sinh con thì đàn ông quá dư dật. Một ngày "nhà máy" của họ sản xuất hàng triệu "chiến binh". Xài hết lại có và có trong khoảng thời gian rất dài – có cụ trên 70 vẫn còn khả năng sinh con. HTV7 – chương trình thế giới 24 giờ tối 17/10/2012: Một cụ ông Ấn Độ 92 tuối, sinh con với một bà vợ 52 tuổi. Đây là ông cụ già nhất còn sinh con! (BTV Bửu Điền). Trong khi đàn bà ở tuổi sinh đẻ, mỗi tháng chỉ có một lần rụng trứng, thường chỉ một trứng chín, ít khi có hai hay ba (trường hợp sinh đôi hoặc sinh ba) – Tuổi sinh đẻ của phụ nữ cũng ngắn, qua 45 đã ngưng sinh đẻ, bước vào thời mãn kinh.

c/. Xã hội: Càng về xa xưa, dân số nhân loại càng ít, vấn đề làm ăn để bảo đảm cuộc sống (hái lượm, chăn nuôi, săn bắt…) cần nhiều lao động, nhất là lao động nam. Rồi vấn đề an ninh, bành trướng đòi hỏi phải có nhiều chiến binh, bộ lạc nào ít người, lập tức bị chinh phục, bị cướp bóc và thường bị sát nhập, xóa sổ. Có những cuộc chiến mà bên chiến thắng giết sạch đàn ông con trai của bên chiến bại, đàn bà con gái thì trở thành hầu thiếp hoặc nô lệ cho quan quân chiến thắng.

Do sức ép của động cơ bành trướng thế lực và bảo vệ an ninh, cần phải đẻ nhiều và thật nhiều: "Đa tử đa tôn đa phú quý". Để đáp ứng yêu cầu phải giải quyết theo hướng đa thê.

Lưu ý một điểm là có không ít nơi theo mẫu hệ, con gái cưới chồng, đàn bà nắm quyền lực trong gia đình và thôn bản nhưng vẫn không có tình trạng đa phu, lý do đàn ông vốn có sức mạnh dù theo tục lệ phải ở dưới sự điều hành của phụ nữ, nhưng tình trạng 3, 4 ông chồng chung nhau một bà vợ thì không thể có hòa khí được, phải "một mất một còn", "ăn thua đủ", "được ăn cả, ngã về không". Cứ quan sát nơi súc vật "nhân sao vật vậy". Có khi cả bầy chỉ một con đực chủ quản, con đực lạ léo hánh tới là bị "xực" liền, trừ khi kẻ đến sau lại khỏe hơn.

Còn một lý do nữa khiến tình trạng đa phu không xảy ra, đó là vấn đề liên hệ máu mủ của cha con. Đây là trách nhiệm của người cha và cũng là quyền lợi của đứa con. Hôn nhân đa thê thì dù bà nào có bầu sinh con, theo nguyên tắc cũng rõ ràng liên hệ cha + mẹ + con. Còn hôn nhân đa phu thì hoàn toàn không rõ ràng, đứa con không thể biết chắc ai là bố thật của mình (trừ ra phải thử ADN, mà ngày xưa thì làm gì đã có kỹ thuật này, ngay cả bây giờ cũng rất tốn kém mỗi khi yêu cầu thử). Tình trạng "cha chung không ai khóc" thì "con chung cũng chẳng ai lo". Có lẽ chính vì thế mà không thấy xảy ra tình trạng đa phu nơi các dân tộc theo mẫu hệ (đa phu mà nối tiếp thì lúc nào cũng có thể có: chồng chết, vợ tái giá, chồng ly dị, vợ lấy chồng khác…).

Người ta vẫn nói với nhau "hàng ngoại" thì thứ thiệt chắc như bắp, còn "hàng nội" thì chỉ có trời mới biết đích xác. Chế độ hôn nhân đa thê kéo dài mãi tới bây giờ, và sẽ còn dài dài cách hợp pháp hoặc bất hợp pháp (lén lút). Người viết có lần sưu tầm được tờ hôn thú năm 1936 dưới triều vua Bảo Đại, ông vua cuối cùng của triều Nguyễn. Tờ hôn thú dùng 3 thứ tiếng: Hán, Pháp, Việt – có những câu hỏi đại ý như sau: là vợ cả hay vợ lẽ? Nếu là vợ lẽ thì vợ cả có thuận ý không?… Thậm chí ngay xã hội Việt Nam hiện nay, mặc dù luật hôn nhân gia đình là "một vợ, một chồng", thế nhưng vẫn còn tình trạng đa thê công khai đây đó: Báo Câu Chuyện Pháp Luật ngày 12/10/2012, trang 20 có bài của biên tập viên Trịnh Thành – Ý Nhi: "Đừng ai học theo người đàn ông có nhiều vợ nhất xứ Nghệ":

Tại huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An, có một người đàn ông tên Tiến có tới 6 vợ, mà cả 6 bà đều được cưới xin hoành tráng, được chồng đối xử công bằng nên các bà vợ rất đoàn kết, hòa thuận, chưa bao giờ xảy ra ghen tuông, xô xát, bất hòa…

Đây là câu chuyện ở Việt Nam, còn hiện nay tại các nước theo Hồi giáo, luật vẫn cho phép đàn ông được lấy 4 vợ (chả trách gì dân số Hồi giáo phát triển cực nhanh). Còn tại Mỹ? Holyfield phá sản vì "5 thê 7 thiếp": "Võ sĩ quyền anh huyền thoại Evander Holyfield đã phải trả giá cho cảnh '5 thê 7 thiếp' khi đang đèo bồng 11 đứa con với 6 người phụ nữ. Tình cảnh này khiến tay đấm 4 lần vô địch WBA hạng nặng thế giới lâm cảnh nợ nần chồng chất…" (T.Nguyên, báo Thanh Niên 4/11/2012).

Trong khi đà phát triển của nhân loại theo chiều đa thê như vậy thì lại có một dân tộc được lệnh truyền phải giữ đời sống hôn nhân một vợ, một chồng (đơn hôn):

- "Lúc khởi đầu công trình tạo dựng, Thiên Chúa đã làm nên một người nam và một người nữ, vì thế người đàn ông sẽ lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình và cả hai sẽ thành một xương một thịt" (Mc 10,7-8; x. Mt 19,1-9; Lc 16,18; St 1,27;2,24; Ep 5,31; 1Cr 6,16).

Lệnh truyền của Chúa là lý tưởng tuyệt hảo, nhưng dân Israel trong những năm dài của lịch sử dựng nước và giữ nước, họ cũng nhiễm thói tục đa thê của các dân tộc xung quanh. Về phía Thiên Chúa, Ngài quá rõ bản năng và sự yếu hèn của loài người, Ngài là Cha giàu lòng nhân ái, đường lối giáo dục của Ngài là đường lối "tiệm tiến", uốn nắn từ từ, nên trong thời Cựu Ước Ngài làm ngơ cho phép hôn nhân đa thê: "Chúa nhắm mắt làm ngơ, không nhìn đến tội lỗi loài người để họ còn ăn năn hối cải" (Kn 11,23). Khi tới thời viên mãn, Ngôi Hai Thiên Chúa giáng trần, hóa thân làm người mang tên Giêsu, Ngài đã kiên quyết bắt mọi người trở về tình trạng thánh thiện ban đầu, đó là đơn hôn: Một vợ một chồng. Chúng ta có thể tưởng tượng việc chấm dứt một tục lệ, một thói quen phù hợp bản năng tự nhiên lâu đời, mà cả xã hội loài người đều theo thì khó khăn biết chừng nào! Làm sao để họ nghe đây? Nhưng Đức Giêsu kiên quyết không nhượng bộ:

- Có mấy người Pharisêu đến gần Chúa Giêsu để thử Người. Họ nói: "Thưa Thầy, có được phép rẫy vợ vì bất cứ lý do nào không?". Người đáp: "Các ông không đọc thấy điều này sao? Thuở ban đầu Đấng Tạo Hóa đã làm ra con người có nam có nữ (1 nam + 1 nữ) và Người đã phán: Vì thế người ta sẽ lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình và cả hai sẽ thành một xương một thịt. Vậy sự gì Thiên Chúa đã phối hợp, loài người không được phân ly". Họ thưa với Người: "Thế sao ông Môsê lại truyền dạy cấp giấy ly dị mà rẫy vợ?" Người bảo họ: "Vì các ông lòng chai dạ đá nên ông Môsê đã cho phép các ông rẫy vợ, chứ thuở ban đầu không có thế đâu"… (Mt 19,1-10).

Kể từ đó những tín đồ theo Chúa Giêsu trong Hội Thánh Công giáo luôn chấp hành đời sống hôn nhân "một vợ một chồng, sống chung thủy cho đến chết, không ly dị". Dĩ nhiên không phải người Công giáo nào cũng giữ được luật này, nhưng đây là luật cố định của Chúa, ai không chấp hành thì tự loại mình ra khỏi Hội Thánh của Chúa, họ bị dứt phép Thông Công, không được thi hành hai việc trọng đại trong đời sống đức tin, đó là lãnh Bí tích Giải tội và Rước lễ; và cũng như Chúa Giêsu, Hội Thánh kiên quyết duy trì luật này, không bao giờ nhượng bộ.

Đơn hôn luôn song hành với vĩnh hôn, cả hai là một thực thể không bao giờ tách rời. Đơn hôn đòi phải vĩnh viễn chung sống với nhau, vì nếu ly dị rồi lấy vợ khác, chồng khác rồi lại ly dị, lại tái hôn thì đó cũng là hình thức đa thê và đa phu, chỉ khác ở chỗ nhiều vợ, nhiều chồng, không đồng thời chung chạ với nhau (bà Élizabeth Taylor – một ngôi sao màn bạc lừng danh thế giới đã ly dị và tái hôn tới 7 lần, báo chí đã đăng).

Còn trường hợp một người phối ngẫu chết đi, hôn nhân của họ đã chấm dứt, do đó nếu có tái giá hay tục huyền thì vẫn còn nguyên tính đơn hôn là một vợ một chồng, và chung thủy vĩnh viễn. Đây chính là định chế muôn đời của Thiên Chúa mà Chúa Giêsu đã xác định lại (sau một thời gian dài bị vi phạm thời Cựu Ước mà Thiên Chúa là Cha nhân hậu tạm làm ngơ, bao dung cho sự yếu đuối của loài người): "Sự gì Thiên Chúa đã liên kết, loài người không được phân ly" (Mt 19,6). Giáo Hội Công giáo và chỉ có Giáo Hội Công giáo tuyệt đối tuân thủ luật này, lý do là Giáo Hội không có thẩm quyền sửa đổi hay bãi bỏ luật Chúa bất cứ vì lý do gì, cho dù bị áp lực của các vua chúa trần gian cũng không làm Giáo Hội lay chuyển. Trường hợp "đình đám" nhất là vụ ly hôn của vua Henry VIII – hoàng đế nước Anh với hoàng hậu Catherine of Aragon.

Vua Henry VIII sinh ngày 28/6/1491, mất ngày 28/1/1547. Ngày 21/4/1509 lên ngôi vua trị vì Anh quốc. Ngày 23/6/1509 cưới bà Catherine of Aragon và phong hoàng hậu cho bà. Bà Catherine sinh được một con trai nhưng chết từ bé. Vua Henry rất nóng lòng muốn có con trai nối dòng, nhưng với hoàng hậu Catherine thì chỉ còn một người con gái là công chúa Mary. Năm 1525 nhà vua phải lòng bà Anne Boleyn, và bí mật tổ chức hôn lễ vì bà Boleyn đã có thai.

Nhà vua làm áp lực trên hàng Giám mục và quốc hội Anh, đòi hủy Hôn phối với bà Catherine để chính thức hóa Hôn phối với bà Anne Boleyn. Đức Giáo Hoàng Clêmentê VII bác đơn xin tiêu hôn của nhà vua. Nhà vua trả đũa bằng cách ly khai với Roma. Ông tiếp tục làm áp lực trên quốc hội Anh, đến năm 1532 quốc hội Anh công nhận "quyền tối cao của vua trên Giáo Hội Anh" (phong vua làm giáo chủ của tổ chức gọi là Anh giáo).

Ngày 25/1/1533 nhà vua ngang nhiên tổ chức hôn lễ lần thứ hai với bà Anne Boleyn. Ngày 23/5/1533 tòa án tối cao Anh quốc tuyên bố hủy hôn nhân chính thức giữa vua Henry VIII và hoàng hậu Catherine và hợp thức hóa hôn phối giữa nhà vua và bà Anne Boleyn. Ngày 1/6/1533 vua tấn phong bà Boleyn làm hoàng hậu.

Trước sự ngang ngược của vua Henry, ngày 7/9/1533 Đức Giáo Hoàng Clêmentê VII ra vạ tuyệt thông cho nhà vua. Đối lại, nhà vua tịch thu tất cả tài sản của Giáo Hội Công giáo, lập ra Anh giáo, bắt mọi công dân tuyên thệ trung thành với nhà vua, chấm dứt liên hệ với Giáo Hoàng La Mã. Ai không tuân lệnh thì bị chém đầu. Một cuộc bách hại đạo Công giáo thật khốc liệt đã xảy ra trên khắp nước Anh. Nhiều người tín hữu trung thành với Giáo Hội Công giáo đã bị xử tử, trong đó có Giám mục Fischer là linh hướng của hoàng cung và Ngài Thomas More là tể tướng của vua. Một số tín hữu Công giáo chạy trốn cuộc bách đạo, đã sang đảo Irland làm thành nước Ái Nhĩ Lan, Công giáo gần như toàn tòng cho đến ngày nay (96% năm 1961 – CG&DT số 1884 tuần lễ từ 16-22/11/2012).

Ngày 8/1/1536, cựu hoàng hậu Catherine qua đời, cũng năm ấy bà Anne Boleyn sảy thai và không còn hy vọng có con trai nối dòng. Bà này rất xinh đẹp nhưng tính tình độc đoán, xa hoa, đòi hỏi quá đáng. Ban đầu nhà vua rất sủng ái nhưng càng về sau càng bị thất sủng, cho tới ngày 2/5/1536 bà bị tống ngục cùng 5 người đàn ông, trong đó có cả em trai bà Boleyn vì bị buộc tội thông dâm với bà. Ngày 17/5/1536 bà bị tuyên án tử hình, và 8 giờ sáng ngày 19/5/1536 bà bị xử chém.

Tể tướng Cromwell, người thế chân tể tướng Thomas More, ủng hộ nhà vua, cũng là người mai mối hôn nhân giữa nhà vua và bà Boleyn… cuối cùng cũng bị chém đầu ngày 28/7/1540.

Sau khi xử tử bà Anne Boleyn, nhà vua còn lần lượt cưới thêm 4 bà nữa, cũng một chiêu bài áp lực hủy hôn nhân trước, lập hôn ước sau. Ban đầu là bà Jane Seymour, kế đến là bà Anne of Cleves, rồi tới bà Catherine Howard, cuối cùng là bà Catherine Parr. Như vậy trước sau nhà vua lấy 6 vợ.

Các nhà nghiên cứu sử học giai đoạn này có nhận định chung như sau: "Henry VIII là một ông vua có nhiều tài nhưng dâm đãng, ích kỷ, khắc nghiệt và có tâm lý bất ổn". Sau lần ngã ngựa trong một cuộc đi săn, ông suy sụp và băng hà ngày 28/1/1547 (tư liệu Wikipedia Internet).

NHẬN ĐỊNH

1. Trước áp lực ghê gớm của một ông vua quyền thế như Henry VIII, Giáo Hội Công giáo vẫn kiên trì bảo vệ hôn nhân đơn thuầnvĩnh viễn, dù biết trước sẽ mất hết tài sản: đất đai, Nhà thờ, tu viện và cuộc ly giáo cũng như cuộc bách hại khốc liệt đang chờ, nhưng Giáo Hội vẫn giữ vững lập trường "Sự gì Thiên Chúa liên kết, loài người không được phân ly" (Mt 19,6).

2. Luật Chúa là thánh thiện, hoàn hảo và công minh, tình trạng "xé rào" thì chỉ dẫn tới bất công và tồi tệ.

Ngay trường hợp vua Henry VIII, người mang danh hiệu "Supreme Head of The Church of England" trong 38 năm trên ngai vàng Anh quốc, cả nước coi nhà vua là "dân chi phụ mẫu", thế mà từ một lần ly dị đã kéo theo 5 lần cưới vợ, 5 lần luật pháp đạo đời của nước Anh tuyên bố "hôn nhân hợp pháp", rồi ít lâu sau lại tuyên bố "hủy bỏ hôn nhân hợp pháp" đó để rồi lại tuyên bố một cuộc hôn nhân khác "hợp pháp". Chuyện hôn nhân linh thiêng là thế (thề trước Chúa), quan trọng là thế mà bị coi như là một "trò đùa" thật đáng tiếc! Vết "sẹo" này đến muôn đời không thể tẩy xóa được.

3. Ngày nay do tình trạng đạo đức xuống cấp và do quyền lợi cá nhân được đề cao quá mức, mọi nước trên thế gian đã cho phép ly dị (trừ nước Vatican của Đức Giáo Hoàng), Giáo Hội Công giáo chịu một áp lực rất lớn của cả thế giới. Giáo Hội luôn bị chỉ trích là cổ hủ, không đi kịp thời đại, chậm tiến, lạc hậu… Thế nhưng lập trường của Giáo Hội trước sau vẫn như một, cho dù tất cả mọi người đàn ông lấy vợ, đàn bà lấy chồng đều ly dị thì lập trường của Giáo Hội cũng không thay đổi, bởi vì đây là luật của Chúa, Giáo Hội chỉ chấp hành và thi hành chứ không có quyền thay đổi. Người viết cho đây là một phép mầu.

4. Lạ lùng hơn nữa là ngay cả khi Kinh Thánh bị dịch sai do vấn đề rắc rối của ngôn ngữ cổ, thì trong thực hành Giáo Hội vẫn xử đúng luật Chúa. Trường hợp câu Kinh Thánh bị dịch sai: Tin Mừng theo thánh Mátthêô đoạn 19 câu 9: "Và ta bảo cho các ngươi biết hễ ai rẫy vợ mình không phải vì tội ngoại tình mà cưới người khác thì phạm tội gian dâm; lại hễ ai cưới người bị rẫy cũng phạm tội ngoại tình" (bản dịch Tân Ước Đức Giêsu Kitô, Sàigòn 1963 và bản dịch trọn bộ Cựu Tân Ước của Lm Đaminh Trần Đức Huân, Sàigòn 1969).

"Trừ trường hợp ngoại tình, còn hễ ai rẫy vợ mình mà lấy vợ khác thì phạm tội ngoại tình và ai lấy người vợ bị rẫy cũng phạm tội ngoại tình" (bản dịch của Đức Hồng Y Trịnh Văn Căn, in tại Tây Ban Nha 1984).

"Nếu ai để (rẫy, bỏ) vợ mình không phải vì cớ ngoại tình và cưới vợ khác thì người ấy phạm tội tà dâm và hễ ai cưới người bị để thì phạm tội ngoại tình" (bản dịch Liên hiệp Thánh Kinh Hội Tp.HCM, 1996).

Có thể nói từ gần 2000 năm nay, các bản dịch đều dùng cụm từ "ngoại tình" với tất cả nội hàm của nó và như thế theo mạch văn, ngữ cảnh, ngữ nghĩa… đều phải hiểu là nếu xảy ra trường hợp ngoại tình (có chứng cớ rõ ràng) thì được phép rẫy vợ, rẫy chồng, ly dị, và có thể chính thức tái hôn. Nếu đúng như vậy thì đây là luật trừ duy nhất của hôn nhân Công giáo. Thế nhưng ngay từ thế kỷ thứ hai, vấn nạn về nố trừ "ngoại tình" đã được Giáo Hội giải quyết đúng đường lối của Chúa, mặc dù bản dịch vẫn giữ nguyên từ ngữ và cấu trúc "sai" như vậy.

Một cuốn sách có tên Pastor Hermas (thế kỷ II) của Giáo Hội sơ khai ghi nhận rất nhiều sự kiện của Tân Ước, trong đó có một thắc mắc như sau: một người hỏi chủ chăn: "Trường hợp người vợ ngoại tình bị bắt quả tang thì chồng có được phép ly dị và tái hôn không?". Câu trả lời đại ý: "Không được ly dị, sửa phạt rồi tha thứ cho nhau – cùng lắm thì được ly thân nhưng cả hai phải ở vậy, không được đi lấy người khác". Đây là câu trả lời dứt khoát, từ đó về sau trong Giáo Hội không đặt vấn đề về câu Kinh Thánh Mátthêô đoạn 19, câu 9 nữa.

Tuy nhiên những nhóm ly khai thì cứ nghĩa chữ của câu đó mà quyết. Thậm chí chẳng những trường hợp "ngoại tình" mà nhiều trường hợp khác cũng cho ly dị và tái hôn. Cụ thể chính vua Henry VIII, người thiết lập Anh giáo mà ông là Giáo chủ đã ly dị nhiều lần và cưới 6 bà vợ chính thức. Đi xa hơn nữa, khoảng thập niên 80-90 thế kỷ 20, người viết có đọc mẩu tin và xem hình ảnh trên tạp chí Thể Thao và Văn Hóa: một mục sư ở Đan Mạch đã cử hành hôn lễ tại một Nhà thờ Tin lành cho một cặp đồng tính.

Phía Giáo Hội Công giáo không bao giờ có chuyện như thế, dù vẫn chấp nhận bản dịch chưa chính xác ở Mt 19,9. Mãi tới thập niên 60-70 thế kỷ 20 – ngành ngôn ngữ học tiến triển, những nhà nghiên cứu Thánh Kinh tìm ra gốc gác những từ diễn tả việc ngoại tình, chuyện dâm bôn, hôn nhân bất hợp pháp… họ khám phá ra tác giả Kinh Thánh Mátthêô dùng từ Hy Lạp porneia, Do Thái là Jenút nghĩa là hôn nhân phi pháp hay dâm bôn… ở phần đầu và từ Hy Lạp moicheia là ngoại tình ở phần sau của cùng một câu: "Trừ nố dâm bôn hay hôn nhân phi pháp (Porneia, Jenut) ra, ai rẫy vợ mà lấy người khác thì phạm tội ngoại tình (moicheia), và hễ ai cưới người vợ đã bị rẫy cũng phạm tội ngoại tình (moicheia)".

Các nhà chuyên môn, qua nghiên cứu khoa học đã xác định được Porneia (Jenút) là tội gian dâm hay ăn ở với nhau như vợ chồng nhưng bất hợp pháp, tức là hôn nhân phi pháp. Còn tội ngoại tình (moicheia), nghĩa là đã có vợ, có chồng hợp pháp mà còn ăn ở với người khác – rõ ràng hai từ khác nhau để chỉ hai tội khác nhau: gian dâm và ngoại tình. Từ đó câu Tin Mừng Mt 19,9 – (đã bị phiên dịch sai gần 20 thế kỷ) đã được chỉnh lại nơi các bản dịch mới từ thập niên 60-70 thế kỷ 20 trở đi.

Linh mục Nguyễn Thế Thuấn trong bản dịch Tân Ước, Sàigòn 1969 lần đầu tiên tại Việt Nam, đã dịch như sau: "Ta bảo các ngươi, ai mà rẫy vợ mình trừ phi là nố dâm bôn – và cưới vợ khác tức là phạm tội ngoại tình" (Mt 19,9). Ngài chú thích chữ "dâm bôn" như sau: "nghĩa vợ chồng bất di bất dịch, nố trừ ở đây có thể là thứ hôn nhân bất hợp pháp trái với luật của Thiên Chúa".

Đã là hôn nhân bất hợp pháp, trái luật Thiên Chúa thì phải được hợp thức hóa, nếu không thì có thể, có quyền và buộc phải ly dị để dứt bỏ dịp tội và tiến tới một hôn phối hợp pháp, đó là lẽ đương nhiên. Những bản dịch chưa chính xác đã được chấp nhận cho đọc trong toàn Hội Thánh, thời gian kéo dài gần 20 thế kỷ, ấy thế mà định luật hôn nhân đơn hônvĩnh viễn vẫn được giữ đúng trong toàn Giáo Hội, không bao giờ nhượng bộ dù phải chịu mất cả "Giáo Hội" Anh quốc đang phồn thịnh, đó là phép mầu!

Ghi chú: lối giải thích mới, xác đáng này do Linh mục J. Bonsirven, Giáo sư Kinh Thánh tại Học viện Kinh Thánh Roma khám phá, dựa vào từ ngữ học về tư tưởng của các Rabbi Do Thái giáo.

SƠ KẾT

Thánh Kinh là sách của Chúa: "Tin Mừng tôi loan báo không phải là do loài người. Vì không có ai trong loài người đã truyền lại hay dạy cho tôi Tin Mừng ấy, nhưng là chính Đức Giêsu Kitô đã mặc khải" (Gl 1,11-12).

***

LỜI TÂM NIỆM

- Lạy Đấng thiêng liêng Tối cao,

- Lạy Đấng Tạo Hóa,

- Lạy Đấng Tuyệt Đối,

- Lạy Thượng Đế,

- Lạy Ông Trời,

Chúng con đây là những thọ tạo đứng trên muôn vật trong vũ trụ. Chúng con đã được Ngài tạo dựng nên giống hình ảnh của Ngài là Thiên Chúa, vì chúng con có trí nhớ, có trí tuệ, có ý muốn, có tự do.

Chúng con luôn thao thức trước những vấn đề:

1. Bởi đâu có vũ trụ này?

2. Bởi đâu có bản thân chúng con?

3. Đâu là mục đích của cuộc đời?

4. Chết rồi sẽ đi về đâu?

5. Làm điều thiện, ai sẽ thưởng công cho? (theo ai, thờ ai thì sẽ lãnh thưởng nơi người ấy, nếu người ấy to hơn Ông Trời)

6. Làm điều ác, ai sẽ phạt tội?

7. Ai sẽ thỏa mãn khát vọng hạnh phúc tuyệt đối của chúng con?

Chúng con muốn đi tìm chân lý, tìm ý nghĩa đích thực cho cuộc đời. Xin Ngài soi trí mở lòng cho chúng con, để chúng con được tìm thấy Ngài, và được niềm vui gọi Ngài là Cha, như hơn 2 tỉ Kitô hữu trên thế giới – Amen.

(Tiến sĩ Phan Như Ngọc, Email: pnngoc@gmx.net)

Trích Bài giảng Chúa nhật - TGM, số 4/2007, trang 74)


___________________________________
Tân bình, ngày 24 tháng 11 năm 2012
© Tác giả giữ bản quyền.
. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả từ Tân Sa Châu SàiGòn ngày 15.01.2013.
. Xin vui lòng ghi rõ nguồn Newvietart.com khi trích đăng lại.