1. Hai Bà Trưng: Lịch sử nước ta bắt đầu giành lại được độc lập, tự chủ chính là nhờ vào thời đại Hai BàTrưng, bậc nữ lưu cân quắc anh thư đã dùng tài trí đầy nghĩa lớn trả thù nhà đền nợ nước để lại tiếng thơm cho muôn đời sau. Khi chồng là Thi Sách bị tên Thái thú Tàu gian ác ám hại, bà Trưng Trắc quyết chí đứng lên cùng em là Trưng Nhị chống lại Tô Định, vào năm 41 sau Tây lịch. Sau khi giết chết được Tô Định, Trưng Trắc gồm thâu lại lãnh thổ gồm 65 thành trì, Trưng Trắc xưng vương đặt tên nước là Triệu, đóng đô ở Mê Linh.
2. Nhà Ngô: Ngô Quyền (808-944) người làng Đường Lâm, huyện Phú Thọ, tỉnh Sơn Tây (Bắc phần). Sau khi diệt được Kiều Công Tiễn là thuộc hạ cũng là rể của Tiết đô sứ Dương Diên Nghệ để cướp quyền, Ngô Quyền kéo quân ra Bắc hà trại trước thành Đại La bên bờ sông Tô Lịch. Kiều Công Tiễn không chống nổi với đại binh của Ngô từ Ái Châu kéo vào, nên vội sai người sang cầu cứu nhà Nam Hán bên Tàu. Hán chúa Lưu Cung chụp lấy cơ hội quyết tâm thực hiện mộng xâm lăng, bèn sai con là Thái tử Hoằng Thao đem 150.000 quân theo đường biển và tự tay đối xuất 100.000 quân theo ngã Lạng Sơn kéo vào nước ta; khi thủy quân của Hoằng Thao vào gần đến sông Bạch Đằng thì bên này Ngô Quyền đã giết được Kiều Công Tiễn. Ngô Quyền bảo với chúng tướng rằng Hoằng Thao đưa quân từ xa đến, quân sĩ tất mệt nhọc. Lại nữa Kiều Công Tiễn đã bị giết, quân khí chắc đã nhụt nhiều. Tuy nhiên, kẻ kia vốn giỏi về thủy chiến, nếu không phòng bị trước thì cái thế được thua chưa biết như thế nào. Chi bằng dùng kế trồng những cọc đầu bịt sắt nhọn ở lòng sông rồi dụ cho thuyền chúng tiến vào chỗ trồng cọc thì mới dễ trị, tưởng không kế gì hay hơn, đoạn thi hành theo mưu kế đó. Ngô Quyền vững lòng chờ quân Nam Hán. Đại đội chiến thuyền của Hoằng Thao tiến vào Bạch Đằng giang vượt qua khỏi cửa Lục Đầu nhằm lúc thủy triều lên, bỗng thấy đoàn thuyền độc mộc của Nam quân xuất hiện tiến đến khiêu chiến rồi lại thối lui, bên Nam Hán không mảy may nghi ngờ xua quân hăm hở đuổi theo. Đến chừng đội chiến thuyền Nam Hán lọt vào đúng chỗ quãng sông có đóng ngầm cọc. Ngô Quyền cho quân dùng thuyền nhẹ đổ ra xáp chiến hết sức quyết liệt. Quân Nam Hán bị đánh bất ngờ chống không nổi vội thoái lui, lúc bấy giờ nước thủy triều rút xuống mau, cả đoàn chiến thuyền của Hoằng Thao chưa kịp trở lại đã vướng vào những cọc bịt sắt nhọn, nghiêng đổ lỏng chỏng, quân sỹ bị hất xuống sông chết đuối quá phân nửa. Thêm vào đó, từ hai bên bờ đá mồi lửa và tên nỏ bắn xuống như mưa. Tiếng quân Nam Hán la khóc vang dậy cả một góc trời, thuyền Nam Hán bị đốt cháy rực trời. Sau khi đánh đuổi được quân Nam Hán (939) Ngô Quyền xưng vương, đóng đô ở Cổ Loa thuộc huyện Đông Anh tỉnh Phúc Yên (Bắc phần). Năm Giáp Thìn (944) Ngô Vương mất, thọ 47 tuổi, làm vua được 6 năm; Ngô Vương là người đã rửa được cái nhục hơn một nghìn năm ta bị Tàu đô hộ và mở đường cho các nhà Đinh, Lê, Lý, Trần về sau này được tự chủ ở trời Nam. Ngô Quyền lên ngôi không đặt Đế hiệu cho mình và cũng không đặt Quốc hiệu cho nước.
3. Nhà Đinh: Đinh Bộ Lĩnh tức Đinh Tiên Hoàng, thuở nhỏ chỉ là một mục đồng thường cùng chúng bạn đồng nghiệp tụ tập chơi trò chiến trận chia hai phe đánh nhau, lấy cờ lau làm hiệu lệnh, cho nên cũng có tên là “giặc cờ lau”. Dần dần thế lực lớn mạnh và có được kinh nghiệm chiến trường, ông đầu quân nương nhờ sứ quân Minh Công Trần Lãm ở Bố Hải Khẩu, được giao cầm giữ binh quyền. Đến khi Minh Công mất ông đem quân về đóng ở động Hoa Lư, chiêu mộ thêm hào kiệt, quyết tâm dành đế vị cho mình, nhờ tài trí, nên chẳng bao lâu ông dẹp yên được các sứ quân đối nghịch, ông đánh đâu được đấy nên cũng được gọi là “Vạn Thắng Vương”. Đinh Bộ Lĩnh là người có công dẹp yên loạn sứ quân để hợp nhất quốc gia hồi thế kỷ thứ X, làm vua từ năm 968 đến năm 979. Sau khi dẹp yên loạn sứ quân, Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi Hoàng Đế xưng đế hiệu là Đinh Tiên Hoàng Đế, đặt tên nước là Đại Cồ Việt, về đóng đô ở Hoa Lư.
4. Nhà Tiền Lý: tức Lý Nam Đế, húy là Bôn, có tên khác gọi là Bí. Đại anh hùng đầu tiên lãnh đạo cuộc khởi nghĩa chống quân tàu xâm lược vào thế kỷ VI. Nhìn thấy dân mình khổ sở lầm than dưới chánh sách hà khắc tham những của đám quan lại Tàu, lại thêm quân Lâm Ấp thường sang cướp phá, nên vào năm Tân Dậu (541) Lý Bôn cùng tù trưởng Châu Diên là Triệu Túc nổi lên đánh đuổi quân Phú Lương chiếm giữ thành Long Biên. Thứ sử Giao Châu là Tiêu Tú phải chạy về Tàu năm Quý Hợi, từ đây quân Lâm Ấp không dám sang quấy nhiễu nữa. Năm Giáp Tý (541) Lý Bôn tự xưng là Nam Việt Đế, đặt Quốc hiệu là Vạn Xuân. Nhưng tiếp đó năm Ất Mão (545) vua nhà Đường cho tướng Dương Phiên làm Thứ sử Giao Châu và sai Trần Bá Tiên thống lĩnh đại quân sang đánh nước ta. Lý Nam Đế thua quân phải bỏ thành Long Biên chạy về Phong Vân (Yên Thế) vua Lý phải rút lên đóng ở động Khuất Liên đất Hưng Hóa. Sau khi thua trận, Lý Nam Đế đã giao binh quyền cho tả tướng quân Triệu Quang Phục để chống giặc ở mạn Trung Châu. Về Lý Nam Đế, sách Khâm định Việt sử có những lời phê bình đại ý như sau: Tuy Lý Nam Đế không đủ sức chống chọi với giặc mạnh, việc lớn không thành nhưng thừa thế dấy binh tự xưng làm vua, mở đường tự chủ cho nhà Đinh, nhà Hậu Lý và sau này há chẳng phải là vẻ vang to tát lắm sao?
5. Nhà Tiền Lê: Lê Hoàng tức Lê Đại Hành người khai sáng cơ nghiệp nhà Tiền Lê, Thụy hiệu là Đại Hành Hoàng Đế, nhưng không đặt tên nước, làm vua từ năm 980 đến năm 1005, ông quán xã Bào Thái huyện Thanh Liêm Hà Nội nay thuộc huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Nam (Bắc phần), Nam Việt Vương Đinh Liễn khen là người có trí dũng… trong quân rất mến yêu, dần dần thăng đến chức Thập Đại Tướng Quân Điện Tiền Chỉ Huy Sứ. Khi Đinh Tiên Hoàng mất vì Vệ vương Đinh Tuệ lên nối ngôi còn nhỏ tuổi và nhân có quân nhà Tống sang xâm lăng, Lê Hoàn được quân sỹ tôn lên làm vua (năm Canh Thìn 980) trước hết vua Lê Đại Hành chịu nhận xin phong, nhà Tống bắt buộc nhiều điều quá đáng, vua Lê không chịu. Sau quân Tống dưới quyền bọn Hầu Nhân Bảo và Tôn Toàn Hưng tiến vào ngã Lạng Sơn, còn bọn Lưu Trừng đem thủy quân sang mặt Bạch Đằng Giang (981). Binh thuyền của ta thất thế ở Bạch Đằng Giang nhưng trên bộ ta lại thắng bọn Hầu Nhân Bảo tại Chi Lăng, thuộc Ôn Châu, Lạng Sơn; tướng Hầu Nhân Bảo bị giết, hai tướng khác bị bắt sống, quân nhà Tống thất bại rất lớn lao, bọn Lưu Trừng phải rút thủy quân về. Đuổi được quân giặc rồi vua Lê lại cho người sang tâu cầu phong. Lần này vua Tống chịu phong cho vua Đại Hành chức Tiết Đô Sứ, sắc phong làm Giao Chỉ Quận Vương (993) rồi lại gia phong làm Nam Bình Vương (997) vua Đại Hành làm vua được 24 năm. Sau vua Đại Hành nhà Tiền Lê còn truyền được hai đời vua nữa (vua Lê trung Tôn làm vua 3 ngày và vua Lê Ngọa Triều làm vua từ năm 1005 đến năm 1009 trước khi ngôi vua sang tay Lý Công Uẩn).
6. Nhà Hậu Lý: Lý Công Uẩn (974 – 1028) triều vua Thái Tổ nhà Hậu Lý người khai sáng cơ nghiệp nhà Lý làm vua từ năm 1010 đến năm 1028. Lý Công Uẩn lấy Đế hiệu là Thuận Thiên, nhưng không đặt tên nước. Ông người phủ Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh (Bắc phần). Ông từng thọ giáo với Sư Vạn Hạnh ở chùa Tiêu Sơn. Lớn lên Công Uẩn vào làm quan cho nhà Tiền Lê dẫn đến chức Tả Thân vệ Điện Tiền Chỉ Huy Sứ. Khi Lê Long Đĩnh mất vì thấy nhân dân tức giận nhà Tiền Lê, Đào Cam Mộc cùng với Sư Vạn Hạnh tôn Lý Công Uẩn lên ngôi hoàng đế (tức vua Thái Tổ nhà Lý) tháng bảy năm Thuận Thiên thứ nhất (1010) Lý Thái Tổ dời đô về Đại La thành là Thăng Long thành. Sẵn đạo Phật, vua Lý Thái Tổ trọng đãi những kẻ tu hành và thường xuất tiền kho ra để làm chùa tô tượng, đúc chuông. Vào năm Mậu Ngọ (1018) cử người sang Tàu thỉnh kinh Tam Tạng đem về nước. Dưới đời Lý Thái Tổ việc bang giao với nước ngoài hết sức tốt đẹp. Trung Hoa không sinh sự lôi thôi, Chiêm Thành và Chân Lạp đều sang triều cống. Lý Thái Tổ trị vì được 10 năm thì mất, thọ 55 tuổi.
7. Nhà Trần: Triều Lý làm vua được 215 năm, truyền được chín đời thì đế vị lại chuyển sang nhà Trần. Vị vua chót của nhà Lý (1225) tức Chiêu Thánh Công Chúa lên ngôi tức Lý Chiêu Hoàng, vua còn nhỏ nên quyền bính ở cả Trần Thủ Độ. Thủ Độ đã đưa con cháu vào nắm giữ các địa vị then chốt lớn nhỏ trong triều Lý, như Trần Cảnh làm Chánh Thư Đội trưởng đội hậu cần. Dần dần tình cảm càng khắng khít giữa Chiêu Thánh Công Chúa và Trần Cảnh; và một hôm Trần Thủ Độ cho đóng tất cả các cửa trong cung cấm, không cho ai ra vào, và loan báo là Bệ hạ đã có chồng rồi. Các quan đều cho là việc tốt, xin chọn ngày vào chầu. Thế là ngày 21 tháng 10 năm Ất Dậu có chiếu của Chiêu Hoàng nhường ngôi cho Trần Cảnh, Chiêu Hoàng thiết triều ở điện Thiên An ngự trên giường thất bùi, các quan lạy tạ ở sân rồng. Chiêu Hoàng trút bỏ áo ngự khuyên Trần Cảnh lên ngôi vua chính thức làm Hoàng đế. Trần Cảnh tức vua Trần Thái Tôn, xưng đế hiệu là Kiến Trung, nhưng không đặt tên nước. Nhưng sau đó nhường ngôi cho Trần Thánh Tôn để làm Thái Thượng Hoàng. Nhắc lại chuyện lịch sử, con sông Bạch Đằng ở nước ta đã hai lần trong trận thủy chiến chống ngoại xâm rất vẻ vang; một lần ở triều Ngô, Ngô Quyền đã chiến thắng quân Nam Hán – bày mưu kế lợi dụng nước thủy triều lên xuống cho quân lính đóng cọc ở lòng sông để nhử địch và trong trận nói trên Ngô Quyền đã giết được Hoằng Thao là Thái tử nhà Hán và hai tướng Tàu, quân Tàu thuyền bè bị vướng cọc sắt nghiêng đổ lỏng chỏng, khiến quân Tàu chết chìm rất nhiều. Đến đời nhà Trần khi quân Nguyên tức quân Mông Cổ kéo 500.000 quân do Thái tử Thoát Hoan (1283) sang xâm nhập nước ta, Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn được vua Trần Nhân Tôn phong làm Tiết chế thống lĩnh mọi quân để lo việc chống giữ bờ cõi. Hưng Đạo Vương ra lệnh phản công phá được quân Toa Đô ở Hàm Tử quan thắng quân Nguyên ở Chương Dương, thắng trận Vạn Kiếp, Thoát Hoan phải chui vào ống đồng đặt lên xe bắt quân kéo chạy mới thoát được về Tàu. Sau đó vào mùa thu năm Đinh Hợi (1287) khi 300.000 quân Mông Cổ dưới quyền Thoát Hoan lại lục đục sang nước ta để phục hận, Hưng Đạo Vương lại được cử thống lĩnh Vương hầu để kháng địch. Hưng Đạo Vương dự đoán thế nào thì giặc cũng phải dùng thủy binh nên cho quân mai phục tại sông Bạch Đằng, dùng lại mưu chước của Ngô Quyền ngày trước, trận này xảy ra năm Mậu Tý (1288). Thoát Hoan được tin thủy quân thua trận ở Bạch Đằng giang vội dẫn bọn tùy tướng theo đường bộ chạy về Tàu. Hưng Đạo Vương làm quan đến đời Trần Anh Tôn thì xin về trí sĩ ở Vạn Kiếp, mất năm 1300 thọ hơn 70 tuổi.
8. Nhà Hồ: Theo lịch sử nước ta niên đại nhà Hồ là triều đại phong kiến ngắn nhất chỉ vỏn vẹn có 7 năm (1400 - 1407) với hai đời vua. Hồ Quý Ly xuất thân làm Chi Hậu chánh đội trưởng (1372) nhưng chẳng bao lâu được phong tới chức Khu mật đại sứ được vua Trần Nghệ Tôn tin dùng và lại gả em gái vua là Huy Ninh công chúa cho. Vua Trần Nghệ Tôn quá tin dùng Hồ Quý Ly nên giao quyền rộng lớn cho Quý Ly đến nỗi suýt làm nghiêng ngửa triều Trần. Thượng Hoàng mất năm 1394, Quý Ly lên làm Phụ chánh Thái sư và đến năm Canh Thìn (1400) thì bỏ Trần Thiếu Đế lúc ở trên ngôi mới 3 tuổi, Quý Ly tự xưng làm vua, không đặt đế hiệu mà đặt quốc hiệu là Đại Ngu. Hồ Quý Ly năm 1397 đã bắt vua Thuận Tôn (vua kế nghiệp phế đế) dời kinh đô về Tây Đô (Thanh Hóa). Quý Ly xưng là Quốc Tổ Thượng Hoàng, ở cung Nhân Thọ, ra vào dùng Nghi vệ Thiên Tử, tháng hai năm Canh Thìn Quý Ly bỏ Thiếu Đế (1400) rồi tự xưng làm vua lập ra nhà Hồ.
9. Triều Hậu Lê: Hồ Quý Ly, lúc được bước chân vào làm việc triều đình nhà Lê, đã tỏ ra xử sự rất khôn khéo với các tôn thất nhà Trần nên rất được vua Trần Nghệ Tôn (1370 – 1372) rất tin dùng, chẳng bao lâu xuất thân làm Chi hậu Chánh hội trưởng (1372 - ….) được phong tơi chức Khu mật sứ. Triều Trần lúc đó mọi quyền bính đều ở trong tay Quý Ly, nên khi vua Nghệ Tôn mất rồi Quý Ly lên làm Phụ chánh Thái sư đã bắt ép vua Thuận Tôn (vua kế nghiệp Phế Đế) dời đô vào Thanh Hóa xây thành Tây Đô. Quý Ly ép vua nhường ngôi đi tu tại Đại Lai Thanh Hóa. Thuận Tôn buộc vua phải nhường ngôi cho con là Thái Tử An lúc đó mới 3 tuổi lên Đế nghiệp tức là vua Thiếu Đế (1398 – 1400). Tuy dân chúng coi Hồ Quý Ly là người giảo quyệt nhưng lịch sử cũng phải công nhận ông ta là một người biệt tài về kinh tế, tiếc một nỗi là ông ta lên ngôi chỉ có thời gian 4 năm (sau đó về làm Thái Thượng Hoàng) thời gian không đủ để thi hành những điều ích quốc lợi dân. Thêm vào đó phái phục Trần đã kéo sang phá đổ tan tành công nghiệp kiến quốc của họ Hồ. Tháng 5 năm Bính Tuất (1406) quân Minh kéo sang nước ta như nước vỡ bờ. Thành Đại Bang lọt vào tay giặc, Nam quân lần lượt thua trận ở Mộc Phàm giang, ở Hàm Tử quan. Mùa hạ Đinh Hợi (1407) Thượng Hoàng Hồ Quý Ly cùng vua Hồ Hán Thương lánh vào Tây Đô rồi chạy xuống Nghệ An. Tại núi Thiên Cầm thuộc hạt Kỳ Anh, Hồ Quý Ly bị giặc bắt, tiếp đó toàn gia quyến và tùy tướng của vua đều chịu chung số phận với Quý Ly. Người Tàu đưa Hồ Quý Ly cùng nhóm thân nhân về giam giữ tại Kim Lăng (Trung Hoa). Sau Quý Ly cũng được phóng thích nhưng phải đi làm lính tuần tại Quảng Tây. Chỉ có Hồ Minh Trừng là được người Minh hậu đãi vì người Minh biết Nguyên Trừng là một tay kỹ xảo có thể giúp họ chế ra những cơ khí cần thiết. Nhà Hồ bị diệt vong, nước ta lại rơi vào lệ thuộc của nhà Minh. Lê Lợi tức Lê Thái Tổ (1385 – 1422) vị vua khai sáng cơ nghiệp nhà Hậu Lê là vị anh hùng áo vải dân tộc với 10 năm kháng chiến (1418 – 1427) chống giặc Minh xâm lăng đã đem lại tự do thống nhất và chính trị cho đất nước vào thế kỷ XV. Nối nghiệp làm chúa trại Lam Sơn, gặp lúc nước nhà bị quân Minh xâm chiếm, vào mùa xuân năm Mậu Tuất (1418) Lê Lợi khởi nghĩa, tự xưng là Bình Định Vương cùng với Lê Thạch, Lê Liễu, Phạm Văn Xảo vv… quyết chí diệt thù giành lại quyền tự chủ cho đất nước. Năm sau (1419) tại Chí Linh Bình Định Vương đánh đồn Ngọ Lạc (Nga Sơn, Thanh Hóa) giết được tướng Minh nhưng rồi Chí Linh bị bao vây, may nhờ có Lê Lai đổi áo vương mà trốn thoát được chạy về Lưu Sơn,… Quan Hóa, Thanh Hóa. Trong thời gian này Bình Định Vương đã thu dụng một người tài trí là Nguyễn Trãi làm tham mưu. Năm Bính Ngọ (1426) sau khi lấy được Nghệ An, Bình Định Vương tiến quân ra đánh Đông Đô (Hà Nội); tướng Trần Tứ chạy trốn và tướng Vị Lang bị bắt sống. Viện binh Tàu kéo sang cũng bị thua ở Cầu Xa Luộc. Đại tướng Minh là Vương Thông được cử đem 50.000 quân sang cứu Đông Quan, bị thua ở Cổ Lãm và Tụy Động xin bãi binh để chờ quân cứ viện. Năm Đinh Mùi Bình Định Vương đóng quân ở Bồ Đề uy hiếp thành Đông Quan. Đại tướng Liễu Thăng đem 100.000 quân và 20.000 ngựa hiệp với đạo binh của tướng Mộc Thanh xâm nhập nước ta. Hạ được Phá Lũy và Ải Truy. Nhưng tại Chi Lăng bị phục binh của ta, Liễu Thăng bị chém, Lương Minh cũng bị giết, Lý Khánh tự tử, hai tướng Hoàng Phúc và Thôi Tụ bị bắt sống tại Xương Giang, Mộc Thanh chạy trốn về Tàu. Cùng đường Vương Thông lại viết thư cầu hòa, Bình Định Vương không muốn kéo dài việc can qua thuận cho nhưng buộc Vương Thông phải lập đàn thề và hẹn đến tháng Chạp năm ấy (Đinh Mùi 1427) phải triệt binh ra khỏi lãnh thổ nước Nam. Vương Thông chịu hết mọi điều. Sau đó theo đúng lời giao ước, 80.000 quân Minh đành ôm hận cuốn gói trở về nước.
10. Triều Tây Sơn (1778 – 1802): Nhà Lê trung hưng kể từ Trung Tông đến Chiêu Thống trải qua 18 đời vua với 265 năm trị vì. Nhà Hậu Lê tồn tại song song với nhà Mạc từ 1533 – 1592 và với Trịnh Nguyễn từ 1592 – 1789. Đây là giai đoạn của nạn nội chiến Nam Bắc triều và Trịnh Nguyễn phân tranh khiến cho dân chúng khổ sở lầm than. Trong lúc này khi Nguyễn Hoàng thấy anh mình là Nguyễn Uông bị đánh thuốc độc chết liền xin với chị là vợ Trịnh Kiến, được vào trấn thủ miền Nam cũng là để tránh tai họa tranh giành ảnh hưởng và cũng nhờ vậy khi Nguyễn Hoàng vào Nam, đã kéo theo họ hàng thân thích rất đông, trước hết là lấn đất của Lâm Ấp ở hai tỉnh Thừa Thiên Huế và Quảng Nam kéo dài cho tới Bình Định. Ba anh em Tây Sơn là Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ và Nguyễn Lữ bắt đầu cơ nghiệp từ đất Tây Sơn là từ đây. Bước đầu Tây Sơn thường cho quân đi cướp của những nhà giàu trong vùng rồi phân phối cho dân nghèo. Nhờ đó Tây Sơn mộ lính, sắm khí giới và theo đuổi mục tiêu cao hơn là lật đổ quyền thao túng Phúc Loan, lúc bấy giờ là quốc phó của Hoàng tôn Nguyễn Phú Dương, giảng hòa với quân Trịnh, năm Bính Dần (1777) Nguyễn Nhạc được phân làm Quảng Nam trấn thủ tuyên úy Đại sứ vương quốc công. Từ đó quân Tây Sơn dốc toàn lực tấn công quân Nguyễn ở phía Nam. Hai đạo quân thủy bộ do Nguyễn Huệ và Nguyễn Lữ cầm đầu rầm rộ tiến vào Gia Định, Nguyễn Phúc Thuần và Đông cung Dương đều bị chết trong trận đánh ở Long Xuyên, chỉ còn Nguyễn Ánh chạy thoát được. Năm Mậu Tuất (1778) sau khi đã giết được chúa Nguyễn và đánh tan lực lượng của chúa Nguyễn ra khỏi cõi, Nguyễn Nhạc lên ngôi Hoàng Đế, thành lập một vương triều mới đặt Đế hiệu là Thái Đức, phong Nguyễn Huệ làm Long Nhượng tướng quân, không sửa đổi Quốc hiệu từ lúc khởi binh năm Tân Mão (1771) đến năm Nguyễn Nhạc lên ngôi năm Mậu Tuất (1778) anh em nhà Tây Sơn đã phải chiến đấu trong 8 năm trường.
Lập nhà Sùng Chính thư viện cử La Tôn Phu Tử làm viện trưởng. Kiểm soát chấn chỉnh lại Phật giáo vv… Đến năm 1792, khi nhìn thấy lực lượng của mình đã hùng hậu có thể đương đầu với nhà Thanh vua Quang Trung sai Võ Văn Dũng cầm đầu một sứ bộ sang Tàu yêu sách hai điều, đòi đất Lưỡng Quảng và yêu cầu kết duyên với con gái vua Thanh. Nhưng mộng lớn chưa thực hiện được thì nhà vua bị chứng huyễn vận mà mất. Sứ bộ Võ Văn Dũng đang ở Yên Kinh nhận được tin chẳng lành bèn dìm các việc đòi đất và cầu hôn, đành ôm mối hận mà trở về nước. Vua Quang Trung mệnh chung vào đêm 29.7 năm Nhâm Tý (1792) thọ 40 tuổi và trị vì được 02 năm. Vua Tây Sơn mất rồi, nhà Tây Sơn tuy còn giữ ngôi được 10 năm nữa nhưng trong nội bộ đã thành chia rẽ vì Thái sư Bùi Đắc Tuyên, cậu của vua Cảnh Thịnh, chuyên quyền các tướng đều không phục, giúp cho chúa Nguyễn Phúc Ánh cơ hội đánh đổ nhà Tây Sơn.
11. Triều Gia Long: Húy là Nguyễn Phúc Ánh, vị vua khai sáng triều Nguyễn, trị vì từ năm 1802 đến năm 1819. miếu hiệu Thái Tổ Cao Hoàng Đế, kế nghiệp chúa sau khi Thái Thượng Vương và Tân Chính Vương bị Tây Sơn bắt hại (1777), hồi ấy chúa Nguyễn Phúc Ánh mới 17 tuổi được chúng tướng phong làm Đại nguyên soái, nhiếp quốc chính để tiếp tục cuộc chống đánh Tây Sơn. Suốt 21 năm trời nhờ ở lòng kiên nhẫn lớn lao, ở trí dũng hơn người, Nguyễn Phúc Ánh đã vượt qua bao nhiêu chướng ngại khó khăn thống nhất được đất nước và dựng nên nghiệp cả cho họ Nguyễn. Sự nghiệp rỡ ràng của vua Gia Long có thể tóm lược bằng các hành trạng chính yếu sau đây: – Năm Đinh Dậu (1777) khởi binh tại Long Xuyên – Năm Canh Tý lấy được đất Gia Định, Nguyễn Ánh xưng vương hiệu – Thua quân ở Thái kỳ Giang (năm Nhâm Dần (1782) và hai trận ở Lãi Cô (1784) Nguyễn Vương sang Xiêm để cầu viện – Trở về nước năm sau (Ất Tỵ 1785) với 2 vạn quân Xiêm và 300 chiến thuyền dưới quyền chỉ huy của hai tướng Xiêm, bị tướng quân Nguyễn Huệ đại phá tại Rạch Gầm và Xoài Mút (Mỹ Tho) lại phải chạy lánh sang Xiêm. Sau khi chạy thoát khỏi trận Long Xuyên, Nguyễn Ánh qua Xiêm cầu viện. Năm Giáp Thìn (1784) quân tây Sơn đã đánh tan hai vạn thủy binh với 300 chiến thuyền ở tận Xoài Mút, Định Tường do quân Xiêm kéo sang – Lại xảy ra việc vua Lê Chiêu Thống vì không phục Tây Sơn lên nương náu tại đất Lạng Giang cho người sang cầu cứu nhà Thanh – Tôn Sỹ Nghị đem 200.000 quân thuộc 4 tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây, Quý Châu và Vân Nam từ 3 mặt Tuyên Quang, Cao bằng, Lạng Sơn tràn xuống Thăng Long. Một lần nữa Nguyễn Huệ lại ra Bắc dẹp giặc. Ngày 25.11 năm Mậu Thân (1788) Nguyễn Huệ làm lễ tế cáo trời đất tại núi Bân Sơn (Thanh Hóa) lên ngôi Hoàng Đế lấy Đế hiệu là Quang Trung rồi thống lĩnh thủy bộ đại binh Bắc tiến đánh giặc Thanh. Ngày 20 tháng Chạp đến núi Tam Điệp, nhà vua khao lạo tướng sĩ định cất quân vào hôm trừ tịch và hẹn đến ngày mùng 7 tết Kỷ Dậu thì vào Thăng Long – 30 Tết, phân binh thành 5 đạo, tự mình điều khiển Trung quân tiến lên Thăng Long. Mùng 3 Tết Kỷ Dậu, vua Quang Trung dùng kế hư binh không đánh mà hạ được đồn Hạ Hồi. Mùng 5 Tết kịch chiến ở Ngọc Hồi, quân Nam toàn thắng. Tại Đống Đa tướng Thanh là Sầm Nghi Đống phải thắt cổ tự tử, hàng vạn quân chạy bạt vào phía Đầm Mựu bị voi giày mà chết. Hạ đồn Điền Chân xong, Nguyễn Huệ kéo quân vào Thăng Long, uy thế hết sức mạnh mẽ, Tôn Sĩ Nghị hoảng sợ chạy về mạn Bắc đến địa phận huyện Thượng Nhãn phải vứt bỏ cả ấn tín để thoát lấy thân, quan quân nhà Thanh tranh nhau qua cầu phao, cầu sập chết hại vô số. Vua Lê Chiêu Thống cũng theo gót Tôn Sĩ Nghị chạy sang Tàu. Đánh đuổi được quân Thanh ra khỏi nước xong, vua Quang Trung một mặt chịu nhún mình vận động với Thanh triều để nối lại bang giao giữa nước ta và Trung Hoa, mặt khác lo cải tổ nội chính cho được vững vàng. Nhờ tài ngoại giao của Ngô Thời Nhiệm, tháng 7 năm Kỷ Dậu (1798) Nguyễn Huệ được vua Thanh là Càn Long phong làm An Nam Quốc Vương. Vua Quang Trung tổ chức nền học chánh trọng dụng chữ Nôm và dự định đặt một nền quốc học thuần túy Việt Nam.
Lại trở về năm Đinh Hợi (1787) đến năm Mậu Thân (1788) thu phục đuợc đất Gia Định – Năm Kỷ Dậu (1789) giám mục Bá Đa Lộc (L’Évêque d’Adran) đem một đại đội quân mộ tại Pháp cùng một số thuyền bè và súng ống sang giúp – Năm Canh Tuất (1790) quân nhà Nguyễn lấy đất Phan Rí và hạ được thành Bình Định – Năm Nhâm Tý (1792) chiến thuyền Nguyễn vương ra đốt phá thủy trại của Tây Sơn ở cửa biển Thị Nại (Quy Nhơn) – Năm Đinh Tỵ (1797) Nguyễn Vương đem binh thuyền ra đánh Quy Nhơn lần thứ hai không có kết quả - Năm Kỷ Mùi (1799) đánh Quy Nhơn lần thứ ba thắng được Tây Sơn, đổi tên Quy Nhơn ra thành Bình Định – Năm Tân Dậu (1801) thủy quân của Nguyễn vương đại phá tàu thuyền của Tây Sơn tại cửa Thị Nại. Sau đó thu phục được thành Phú Xuân – Năm Nhâm Tuất (1802) phá tan thủy quân Tây Sơn ở cửa bể Nhật Lệ tiếp luôn thắng quân ở Trấn Ninh – Ngày mùng 2 tháng 5 năm đó, lên ngôi vua rồi tiến quân ra Bắc và chỉ trong vòng 1 tháng đã thu phục được Thăng Long. Công cuộc thống nhất quốc gia hoàn thành, Nguyễn Vương bèn xưng Đế hiệu là Thế Tổ Cao Hoàng Nhà Nguyễn, đặt Quốc Hiệu là Việt Nam, đóng đô tại Phú Xuân (tức Huế bây giờ) và lo sửa sang tổ chức chánh quyền và địa phương, ban hành luật lệ mới, tổ chức binh đội, khuyến khích nông nghiệp khôi phục và mở mang Nho học vv… đã đưa nước nhà từ một tình trạng hỗn mang, loạn lạc đến cảnh thái bình thịnh trị. Sau khi trị vì được 18 năm đến năm Kỷ Mão (1819) vua Gia Long mất, thọ 59 tuổi.
Nhà Nguyễn, Gia Long (1780) làm vua kế tiếp được 13 đời kể từ vua khởi nghiệp cho đến vị vua cuối cùng là Bảo Đại, thì chế độ quân chủ chấm dứt (1945) tại Việt Nam. Chuyển qua thể chế chánh trị khác – Vào đời vua Minh Mạng, Quốc hiệu được gọi là Đại Nam cho đến đời vua Bảo Đại.
