Đã thành lệ truyền đời từ bao giờ chẳng biết, chỉ biết rằng cứ đến tháng gần Tết (tức tháng Chạp), là người ta lại bảo nhau: “Tháng này là ‘tháng củ mật’ đấy, phải cẩn thận!”. Bởi theo kinh nghiệm dân gian, vào tháng giáp Tết, rất hay xảy ra trộm cắp, nên lúc nào cũng cần phải xem xét, giữ gìn đồ đạc vật dụng cho cẩn thận.
Từ “củ mật” trong “tháng củ mật” có nghĩa là gì vậy? Thoạt nhìn, chắc ai cũng nghĩ từ ngày chắc chắn là từ thuần Việt. Đó là hoàn toàn chỉ là theo cảm tính, vì nếu thử đố một ai đó giải thích xem tại sao lại gọi là “củ mật” thì chắc là cũng “bí”.
Từ “củ mật” thực ra là được rút gọn từ “củ soát nghiêm mật”, đây cũng lại là cách nói được tạo ra từ những từ gốc Hán. Trong tiếng Hán, “củ” có nghĩa là “đốc sát” (xem xét, kiểm tra), còn “soát”, theo đúng âm tiếng Hán là “sát”, có nghĩa là “xem xét, điều tra”. “Củ sát” theo tiếng Hán có nghĩa là “người lo giữ trật tự trong một đám đông”. Từ “củ sát” được du nhập vào tiếng Việt từ lâu với âm đọc “củ soát”. Hiện giờ trong tiếng Việt, “củ soát” thuộc về lớp từ cổ, từ cũ, không còn được dùng nữa. Trước đây, ngoài nghĩa “xem xét, kiểm tra xem có điều gì bất thường hay không” ra, nó còn có nghĩa là “xem xét cẩn thận để xem có đúng hay không”, như “củ soát bản đánh máy” (để xem có lỗi hay không).
Cách nói rút gọn “củ soát nghiêm mật” thành “củ mật” cũng tương tự như các kiểu rút gọn “chỉnh đốn huấn luyện” thành “chỉnh huấn”, “giao thông liên lạc” thành “giao liên”,…
NGUYỄN TRUNG THUẦN