NHỮNG GƯƠNG MẶT TIÊU BIỂU THI CA VIỆT NAM
KỲ THỨ 5 THƠ NGÔ THÌ NHẬM
Ngô Thì Nhậm (1745–1803) là một sĩ phu Bắc Hà kiệt xuất, người làng Tả Thanh Oai (Hà Đông), đỗ tiến sĩ năm 1776. Ông từng làm quan dưới thời vua Lê – chúa Trịnh, nhưng ngôi sao Ngô Thì Nhậm chỉ thực sự bừng sáng rực rỡ khi ông gặp gỡ người anh hùng Nguyễn Huệ, tựa như Lã Vọng (Khương Tử Nha) gặp Chu Văn Vương thuở trước. Yêu cầu cao nhất, bức thiết nhất đối với một kẻ sĩ (tức là với một người trí thức ở bất kì một thời đại nào) chính là phải xác định được rõ con đường mình đi – phải từ bỏ cái gì và theo cái gì? – và phải làm gì để cống hiến nhiều nhất cho dân tộc mình, cũng tức là cho nhân loại? Với khối óc mẫn tuệ phi thường, vượt xa rất nhiều trí thức phong kiến đương thời, Ngô Thì Nhậm mau lẹ nhận chân được chân lí của thời đại mình: Nguyễn Huệ chính là người anh hùng cái thế đảm lãnh sứ mạng giải quyết những vấn nạn của lịch sử, là bậc minh quân của dân tộc. Đó là mẫu người “anh hùng áo vải”, từ nhân dân mà ra nhưng đã kết tinh được toàn bộ tinh hoa của dân tộc và trở thành biểu tượng cao nhất của dân tộc thời đại bấy giờ. Triều đại Tây Sơn tiến bộ hơn, hoàn toàn có thể thay thế cho các triều đại Vua Lê – Chúa Trịnh và Chúa Nguyễn đã đến kì mạt vận. Tư duy và niềm tin của Ngô Thì Nhậm đã được thực tiễn lịch sử chứng minh: triều đại Tây Sơn, dưới sự lãnh đạo của Nguyễn Huệ, đã lần lượt tiêu diệt cả hai tập đoàn phong kiến thống trị là họ Nguyễn ở Đằng Trong và họ Trịnh (cùng với ngôi vua Lê mà thực chất chỉ là bù nhìn) ở Đằng Ngoài, thực hiện được công cuộc vĩ đại thống nhất đất nước sau hơn 150 năm phân tranh. Gắn liền với triều đại Tây sơn còn có hai chiến thắng cực kì hiển hách: đánh tan quân xâm lược Xiêm La (trận Rạch Gầm – Xoài Mút năm 1784) và đại thắng quân Mãn Thanh tại Thăng Long năm 1789. (Việc nhà Nguyễn với Nguyễn Phúc Ánh khôi phục lại vương quyền từ tay Nguyễn Quang Toản năm 1802 - sau khi Quang Trung chết được 10 năm – rõ ràng đã xảy ra sau tất cả các sự kiện và thành tựu lịch sử vĩ đại nói trên mà nhà Tây Sơn đã hoàn tất). Sự minh triết của Ngô Thì Nhậm đã khiến hành động của ông trong cả cuộc đời hoàn toàn chuẩn xác. Ông là mẫu mực cao nhất của một trí thức chân chính thời đại Tây Sơn. Những đóng góp của ông cho người anh hùng Nguyễn Huệ và cho đất nước rất đáng kể cả về chính trị, ngoại giao, quân sự lẫn văn hoá. Ông đã bổ khuyết cho những chỗ thiếu hụt của Quang Trung Nguyễn Huệ (vì nhà vua xuất thân từ tầng lớp bình dân, không có được vốn học vấn uyên bác như ông). Có thể nói, sức mạnh vô song của Nguyễn Huệ cộng với trí tuệ viên mãn của Ngô Thì Nhậm là những nhân tố cực kì quan trọng khiến triều đại Tây Sơn đạt tới đỉnh cao, khẳng định được nền độc lập vững chắc cho đất nước, mở ra một giai đoạn lịch sử mới đầy hứa hẹn và khiến triều đình nhà Thanh với ông vua cự phách Càn Long vô cùng vì nể *. * Về sự bại vong của triều đại Tây Sơn, theo chúng tôi có hai nguyên nhân. Một là do “cơ trời vận nước”. Người anh hùng Nguyễn Huệ chỉ xuất hiện để giải quyết những vấn đề bức xúc nhất của lịch sử: làm cho chế độ “Vua Lê Chúa Trịnh” suy tàn phải tự tan rã, giải quyết về căn bản công cuộc thống nhất lại đất nước đã bị chia cắt quá lâu, đánh tan tất cả các thế lực ngoại bang đang muốn “đục nước béo cò”. Sau khi hoàn thành các nhiệm vụ lịch sử to lớn đó, triều đại Tây Sơn cáo chung để những nhân vật lịch sử khác như Nguyễn Ánh lãnh tiếp nhiệm vụ kinh bang tế thế. Hai là do Quang Trung không may chết quá sớm (ở lứa tuổi 40), ngay sau khi chiến thắng quân Thanh chưa được bao lâu. Ông không có đủ thời gian để củng cố triều đình, thiết lập kỉ cương, đào tạo những người kế tục. Ông chết đi, triều Tây Sơn rơi vào tình trạng “quân vô tướng, hổ vô đầu” và đi đến chỗ tan rã. Phải chăng trong thời điểm lịch sử nghiêm trọng lúc bấy giờ, sự hiện hữu của một nhân vật vĩ đại như Quang Trung là không thể thiếu, vì vậy mà khi thiếu ông, đại cục đã hoàn toàn đổ vỡ? Không một đầu óc lành mạnh nào có thể tin rằng: Quang Trung còn sống mà ông lại chẳng khác gì thằng con hèn kém của mình là Quang Toản, và ông sẽ bị thất bại thảm hại trước Nguyễn Ánh, kẻ luôn luôn bị ông đánh bại đến nỗi phải chạy tháo thân ra đảo Phú Quốc. Nguyễn Ánh thắng, đơn giản chỉ vì đối thủ số một vốn mạnh hơn ông ta không còn nữa. Nói cách khác, Nguyễn Ánh có được một “thời cơ trời cho” ngàn năm có một! Tài năng của Ngô Thì Nhậm còn thể hiện rõ nét ở một bình diện khác: ông là một thi nhân đích thực, là tác giả của một gia tài văn hóa đồ sộ với 600 bài thơ và 15 tác phẩm lớn. Phan Huy Ích (người chính thức được giới học giả ngày nay xác định là dịch giả của Chinh phụ ngâm), một văn nhân có tiếng thời bấy giờ đã nhận định về ông: “Tài uyên bác thông đạt, trở thành ngọn cờ chót vót giữa rừng nho chúng ta”. Thơ Ngô Thì Nhậm bao gồm nhiều mảng đề tài. Trong những bài thơ ngôn chí, thơ tư tưởng, ông trình bày những tư tưởng của một trí thức ở tầm cao của lịch sử, nêu bật những gì ông chấp nhận và những gì ông phủ nhận không khoan nhượng. Ngọn bút của ông đã mô tả cảnh tang thương của thời đại Lê – Trịnh – Nguyễn suy tàn, trong đó ẩn chứa tinh thần phủ nhận của ông đối với một hiện thực xã hội đã đi đến chỗ cùng và đòi hỏi phải có biến: Rêu phong bếp oản, sư xa bước, Mưa hắt hiên tre, bụt lặng lời. Giá chẳng nửa đồng, chùa đổ nát, Sông phân đôi nhánh, xóm mù khơi. Lui tới canh khuya bầy trộm cướp, Phật còn mắt huệ hãy nhìn coi!
(Chuà Vân Môn ) – Nguyễn Sĩ Lâm dịchĐánh giá thời đại Lê Trịnh – Mạc – Nguyễn, ông viết: Vua tôi đứng sững ba chân vạc, Ông – tế (bố vợ, chàng rể) hằn nhau nửa cuộc cờ… Cương thường muôn thuở còn bia miệng, Hổ chọi rồng tranh khéo vẽ trò!
(Hữu sở tư ) – Đỗ Ngọc Toại dịchVới nhãn quan vô cùng sắc bén, Ngô Thì Nhậm hiểu rằng một đất nước bị chia xẻ làm ba bốn mảnh để cho những tập đoàn phong kiến tha hồ xâu xé, đất nước ấy đã rơi vào thảm cảnh. Lịch sử đòi hỏi phải có một lực lượng mới, đủ sức thống nhất lại quốc gia. Và ông đã kịp thời nhận ra: phong trào Tây Sơn chính là “cơn gió lớn” của thời đại sẽ quét sạch cảnh nhiễu nhương, đưa đất nước tiến vào một kỉ nguyên mới. Ông quyết định ra cộng tác với Tây Sơn, và giọng thơ của ông bỗng trở nên sảng khoái lạ thường: Muôn đội rồng bay giáp tận trời, Oai thần lồng lộng khắp nơi nơi. Mù tan lại thấy màu thu tỏ Trời hửng y nguyên bóng nắng soi. Nhơ bụi không còn vương chút đỉnh, Cửa nhà trở lại vẻ vui tươi. Hả lòng ngồi vịnh câu du tử, Làng cũ mây che tít phía đoài.
(Đại phong) – Đỗ Ngọc Toại dịchĐối với một bậc quốc sĩ như Ngô Thì Nhậm, không có hạnh phúc nào hơn là được phụng sự cho một đấng minh quân để lập nên đại sự nghiệp, làm vẻ vang cho tổ quốc. Trong thơ ông, hình ảnh người anh hùng Nguyễn Huệ – Quang Trung được miêu tả thật là uy tráng và đẹp đẽ. Tình cảm đặc biệt trân trọng ông dành cho Quang Trung là đại diện cho tình cảm của toàn dân tộc dành cho con người vĩ đại đã cống hiến trọn cuộc đời mình cho nền độc lập và vinh quang của đất nước: Bệ rồng xếp dãy kiếm vàng, Các thần áo mũ hàng hàng trang nghiêm. Thánh hoàng sách lược phán truyền, Việc biên việc nước dụ ban rạch ròi.
(Kính ghi buổi chầu) – Lỗ Công dịch “Tôi hiền gặp được chúa thánh minh”, Ngô Thì Nhậm vô cùng hứng khởi mang hết tài kinh bang tế thế ra thi thố, bất chấp muôn vàn nhọc nhằn gian khó: Quan quân hộ tống rộn ràng, Chiếu vua triệu gấp, trễ tràng dám đâu. Mưa dầm đường trạm đang rầu, Cười theo dòng suối vó câu phải nhường. … Thuốc trường sinh, ấy cần lao, Ngồi ôm lồng ấp nhà cao mà gì!
(Tả lòng) – Khương Hữu Dụng dịchLà một sĩ phu kiệt hiệt, vậy mà “bức chân dung tự hoạ” của Ngô Thì Nhậm sao mà khiêm nhường và đáng mến đến thế: Bệ rồng hoa chúm chím kia, Được mang sắc đỏ gần kề quân vương. Chẳng ai khen, bởi thua hương, Má hồng chân chất càng thương mặn nồng. Hoa xuân rụng hết, mình không, Sắc hương vốn sẵn từ trong cảnh chùa. Bốn mùa hoa dám đem phô, Lòng son có mặt trời trưa tỏ rồi…
(Hoa dâm bụt trong cung) – Hải Như dịchÔi! kể từ sau cái thuở “Nước thanh bình ba trăm năm cũ” – nghĩa là từ sau thời Hồng Đức – những bài thơ đầy hào khí, sảng khoái như thế đã hầu như vắng bặt trên thi đàn Việt Nam, bỗng lại xuất hiện ở triều đại Tây Sơn với Ngô Thì Nhậm! Có thể nói, thơ của ông đã thổi một luồng sinh khí mãnh liệt vào cánh đồng văn chương Việt Nam đã từ lâu phủ đầy khói sương u ám vì mang nặng mối “sầu vạn cổ”. Đó là cống hiến độc đáo của thi nhân xuất chúng họ Ngô Thì. Suốt dọc đường đi sứ sang Trung Hoa, Ngô Thì Nhậm đã làm nhiều bài thơ vịnh các nhân vật lịch sử, bày tỏ sự khâm phục và thương xót của mình với người xưa: Gia Cát Lượng, Giả Nghị, Văn Thiên Tường, Tô Đông Pha… Ông đã làm những cuộc “ôn cố tri tân” mà ông vô cùng tâm đắc. Những bài thơ tức cảnh cho thấy ông có khả năng chộp bắt rất nhạy cái thần của mỗi đối tượng. Ví dụ hai câu thơ Khinh tuyết ngạo sương riêng bẩm tính, Khuôn thiêng khéo đã đúc nên dàyđã khắc hoạ sắc nét cốt cách của “cây tùng đơn lẻ”, ngụ ý ca tụng cốt cách của một đấng trượng phu chân chính. Thơ Ngô Thì Nhậm có một mảng rất quý, đó là mảng thơ trữ tình sâu sắc, thấm thía. Ở đó tình cảm của ông với quê hương, với người thân như trào ra dưới ngòi bút. Trên đường đi sứ, gặp ngày sinh nhật của cha (Ngô Thì Sĩ) ông viết: Xa xa xe hạc cách mây, Lấy ai rượu thọ chén đầy dâng cha? Rau thơm dâu cả ở nhà Vắng tin mai nở sứ xa cõi ngoài…
(Cảm tác nhân ngày sinh nhật cha) – Hoàng Trung Thông dịchÔng thương vợ ông, lấy phải chồng… quốc sĩ suốt đời vì nước xa nhà. Để bù đắp cho nỗi khổ của vợ – đích thực là một chinh phụ – ông đã có những vần thơ tha thiết chân thành như muốn tạ lỗi với nàng: Hối chẳng cùng vui cảnh ruộng đồng, Đỉnh chung để luỵ khách khuê phòng. Ta lầm chân tới đường gai góc, Nàng dắt con đi bước ngại ngùng. Cung Quảng thu rầu trăng trước núi, Ghềnh Ngân đêm não bóng bên song…
(Nhớ vợ, bài 1) – Nguyễn Sĩ Lâm dịchKhi gặp cơn đại biến (vua Quang Trung chết, bản thân bị thất sủng), ông càng thương vợ hơn bao giờ hết và viết nên những câu thơ thống thiết: Ta kẻ vong thần riêng chịu phận, Nàng người lệnh phụ, há nhường ai? … Đời đời nguyền kết duyên chồng vợ, Mười tám năm qua tính một đời.
(Nhớ vợ, bài 2) – Nguyễn Sĩ Lâm dịch Ngoài thơ, Ngô thì Nhậm còn viết phú và những bài chiếu (làm thay vua Quang Trung) trong đó ông đã lồng không ít tư tưởng của bản thân ông: Chiếu lên ngôi vua (1788), Chiếu cầu hiền… Có lẽ thiếu sót lớn nhất của Ngô Thì Nhậm là ông không chú tâm sáng tác thơ Nôm, nền thơ dân tộc mà các bậc tiền bối như Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông, Nguyễn Bỉnh Khiêm… đã dày công vun đắp. Tuy nhiên, với những thi phẩm Hán văn điêu luyện, người đọc ngày nay thông qua các bản dịch, vẫn cảm nhận được cái hơi thở nồng nàn của tâm hồn và trí tuệ một đấng sĩ phu kiệt xuất nửa cuối thế kỉ XVIII mà tấm lòng son và sự nghiệp của ông còn mãi với sử xanh. © Tác giả giữ bản quyền. . Cập nhật theo nguyên bản của tác giả gởi từ SaìGòn ngày 05.01.2013. . Trích đăng lại vui lòng ghi rõ nguồn newvietart.com
|