TÁC PHẨM
TÁC GIẢ




HUYỀN VIÊM

Huyền Viêm sinh năm 1930 tại Quảng Nam .

Hiện sống tại Sài Gòn - Nam Việt Nam.

TÁC PHẨM ĐÃ XUẤT BẢN :

.Thơ Mùa Chinh Chiến.
. Hạnh Ngộ.









TÂY CŨNG HỌA THƠ



Xưa nay ta thường thấy người Trung Hoa hay người Việt Nam họa thơ, nhưng không thấy Tây họa thơ, vậy mà cũng có đấy.
Chuyện họa thơ dưới đây là do bài thơ SONNET (1) của Arvers quá nổi tiếng, thấm sâu vào lòng người, nhất là những người cùng cảnh ngộ, mang trong lòng một mối tình tuyệt vọng như như tác giả




Alexis Félix Arvers (1806-1850), thi nhân người Pháp, sinh tại Paris, làm thơ từ hồi còn rất trẻ, đã cho in tập thơ “Mes heures perdues” (Thời gian đã mất), nhưng ít người biết đến. Ông nổi tiếng chỉ nhờ một bài Sonnet viết do ngẫu hứng và xúc động thật sự, tả một mối tình thầm kín và tuyệt vọng bằng những lời thơ mượt mà, thấm thía và điêu luyện. Bài thơ này ông đề trong cuốn lưu niệm của một giai nhân (2). Bài thơ nhiều người biết, nhưng cũng xin chép ra đây để bạn đọc tiện đối chiếu với bài họa ở dưới :

S O N N E T

Mon âme a son secret, ma vie a son mystère,
Un amour éternel en un moment conçu.
Le mal est sans espoir, aussi j’ai dû le taire,
Et celle qui l’a fait n’en a jamais rien su.

Hélas ! J’aurais passé près d’elle inaperçu,
Toujours à ses côtés et pourtant solitaire.
Et j’aurais jusqu’au bout fait mon temps sur la terre,
N’osant rien demander et n’ayant rien reçu.

Pour elle, quoique Dieu l’ait faite douce et tendre,
Elle ira son chemin, distraite et sans entendre
Ce murmure d’amour élevé sur ses pas.

A l’austère devoir pieusement fidèle,
Elle dira, lisant ces vers tout remplis d’elle:
-“Quelle est donc cette femme?” et ne comprendra pas.

Alexis Félix Arvers

Bài thơ hay tuyệt, ai cũng tán thưởng, duy chỉ có Antoine Albalat, trong cuốn L’art d’écrire (Nghệ thuật viết văn), đã chê ở chỗ trùng điệp ba lần động từ “fait” (làm) trong câu 4,7,9. Lời phê bình đó rất đúng, tuy vậy điệp ngữ ấy cũng không làm giảm giá trị bài thơ.

Ở Việt Nam, nhiều người đã dịch bài thơ này, trong đó có Bình Nguyên Lộc, Mộng Tuyết, Dã Hạc và Trinh Nguyên…. dịch khá hay, nhưng chỉ có bản dịch của Khái Hưng là thành công hơn cả và được truyền tụng đến ngày nay :

TÌNH TUYỆT VỌNG

Lòng ta chôn một khối tình,
Tình trong giây phút mà thành thiên thâu.
Tình tuyệt vọng, nỗi thảm sầu,
Mà người gieo thảm như hầu không hay.
Hỡi ơi ! Người đó ta đây,
Sao ta thui thủi đêm ngày chiếc thân?
Dẫu ta đi trọn đường trần,
Chuyện riêng dễ dám một lần hé môi.
Người dù ngọc nói hoa cười,
Nhìn ta như thể nhìn người không quen.
Đường đời lặng lẽ bước tiên,
Ngờ đâu chân đạp lên trên khối tình.
Một niềm tiết liệt đoan trinh,
Xem thơ nào biết có mình ở trong.
Lạnh lùng lòng sẽ hỏi lòng :
“Người đâu tả ở mấy dòng thơ đây?”


Khái Hưng dịch

Năm 1956, tạp chí Historia số 120 có kể lại rằng : Năm 1948, Followell xuất bản cuốn “Le sonnet de Félix Arvers et ses pastiches” (Bài sonnet của Félix Arvers và những bài mô phỏng), trong đó ông kể được hơn 120 bài thơ hoặc mô phỏng hoặc họa lại danh phẩm đó, mà bài họa hay nhất là bài dưới đây của Louis Aigoin làm năm 1897, thay lời người phụ nữ trong thơ đáp tạ Arvers :

S O N N E T

Ami, pourquoi me dire, avec tant de mystère
Que l’amour éternel en votre âme conçu
Est un mal sans espoir, un secret qu’il faut taire,
Et comment supposer qu’elle n’en ait rien su?

Non, vous ne pourriez point passer inaperçu,
Et vous n’auriez pas dû vous croire solitaire.
Parfois les plus aimés font leur temps sur la terre,
N’osant rien demander et n’ayant rien reçu.

Pourtant Dieu mit en nous un cœur sensible et tendre,
Toutes, dans le chemin, nous trouvons doux d’entendre
Le murmure d’amour élevé sur nos pas.

Celle qui veut rester à son devoir fidèle
S’est émue en lisant ces vers tout remplis d’elle.
Elle avait bien compris, mais ne le disait pas.

Người họa thơ đã lặp lại đúng 14 từ cuối cùng của 14 câu, tức là 14 vần của bài Sonnet ấy, chứ không phải 4 câu 3 vần hay 8 câu 5 vần như trong các bài họa Đường thi.

Tôi đã bỏ công tìm bản dịch bài thơ này ra thơ Việt trong nhiều sách báo và cả ở các thư viện nhưng không thấy, có lẽ vì bài này ít được phổ biến ở Việt Nam. Thôi thì ta hãy đọc bản dịch xuôi của Nguyễn Hiến Lê vậy :

TÌNH TUYỆT VỌNG

Bạn thân, sao lại bảo tôi, với nhiều bí mật như vậy
Rằng mối tình vĩnh viễn cảm trong tâm hồn bạn
Là một nỗi khổ không còn hy vọng gì, một nỗi kín không nên nói ra,
Và làm sao bạn lại ngờ rằng người đàn bà đó không biết chút gì cả?

Không, bạn không thể đi qua mà nàng không thấy,
Và bạn cũng không nên tưởng mình cô đơn.
Thường khi những người được yêu nhất lại sống hết kiếp trần
Không dám xin chút gì và không nhận được chút gì.

Nhưng Trời đã cho chúng tôi một trái tim dịu dàng và âu yếm,
Hết thảy chúng tôi, trên con đường, đều thích nghe
Tiếng (tình) thì thầm dậy lên ở sau bước chân chúng tôi.

Người đàn bà nào đó luôn luôn muốn giữ đạo của mình
Đã cảm động khi đọc những vần thơ bàng bạc đời nàng
Đã hiểu rõ, nhưng không nói ra đấy thôi !


Thật là dịu dàng, tình tứ, thơ mộng mà kín đáo biết bao ! Bài này khiến ta nhớ đến bài “Tiết phụ ngâm” của Trương Tịch đời Đường, mà câu cuối là :

Hận bất tương phùng vị giá thì

Và Ngô Tất Tố đã dịch :

Giận không gặp gỡ khi chưa có chồng.

oOo


Biết được chuyện này, nữ sĩ Mộng Tuyết đã viết thư cho tôi, có kèm theo bản dịch bằng thơ bài họa của Louis Aigoin và cả bản dịch bài Sonnet của Arvers, cả hai đều do nữ sĩ dịch cách nay đã….74 năm ! Sau đây là bản dịch bài họa của Louis Aigoin :



RIÊNG ĐÃ HAY RỒI

Nói chi những âm thầm thắc mắc,
Bạn ta ơi ! Sao chác sầu chi?
Nỗi lòng sao phải nín đi?
Lại ngờ “ai” chẳng biết gì cả đâu.

Thôi thôi hãy chớ sầu vắng vẻ,
Tấm tình kia còn kẻ biết cho.
Xưa nay những kẻ yêu nhiều
Chỉ là trộm nhớ thầm yêu với tình.

Lòng đa cảm khuôn xanh phú thác,
Phải rằng ai mộc mạc vô tri.
Đường đời từ bước chân đi,
Lòng ân ái cũng lắm khi bàn hoàn.

Thói băng tuyết ân cần giữ mực,
Đọc thơ ai cảm xúc vì ai.
Nỗi niềm riêng đã hay rồi,
Nói ra còn ngại những lời thị phi.


Hà Tiên Mars 1933

Mộng Tuyết Thất Tiểu Muội dịch

Và bản dịch bài Sonnet d’Arvers của nữ sĩ Mộng Tuyết :

MỐI U TÌNH

Trong một phút ôm lòng thắc mắc,
Mối yêu đương dằng dặc khôn khuây.
Đau thương tình khó giải bày,
Người làm đau khổ có hay đâu nào.

Than ôi ! Vẫn đìu hiu lặng lẽ,
Bên cạnh ai, ai kẻ biết cho.
Đường trần biết đến bao giờ
Cũng chưa dám ngỏ ước mơ với tình.

Kiều diễm ấy khuôn xanh biệt đăi,
Vẻ xuân tươi ngọc nói hoa cười.
Thế mà trên bước đường đời
Hững hờ, chẳng chút đoái hoài ái ân !

Chất phong phỉ ân cần trau chuốt,
Dễ mà khi nàng đọc thơ ta,
Vì nàng thi tứ đậm đà,
Ngẩn ngơ nàng hỏi :“Nàng là ai đây?”

Mars 1933



___________________________________________________________________

Sonnet : thập tứ cú thi (bài thơ có 14 câu) là thể thơ người Pháp thường dùng ở thế kỷ XIX.
(2) Có sách cho biết người thiếu phụ ấy là nàng Nodier.



HUYỀN VIÊM


TRANG CHÍNH TRANG THƠ ĐOẢN THIÊN TRUYỆN NGẮN ÂM NHẠC