right





Tư Duy Hành Động Thực Tiễn Trong
“Đổi Mới Căn Bản, Toàn Diện Giáo Dục Việt Nam”


PGS TS Tâm Lý Học


1. “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục Việt Nam”… theo Nghị Quyết Đại hội lần thứ XI Đảng CSVN là đúng với thực trạng giáo dục và những đòi hỏi cấp thiết của xã hội đối với phát triển giáo dục nước nhà trong giai đoạn hiện nay. Vấn đề khó khăn là với những con người ấy, bộ máy ấy, những điều kiện hiện có và có thể có thì cần và có thể làm những gì, bắt đầu từ đâu? Nhằm đạt được những mục tiêu gì trong vòng 3 đến 5 năm trước mắt và tạo cơ sở cho phát triển bền vững giáo dục nước nhà?

Có hai cách làm: một là “Dỡ ra làm lại từ đầu” (hoặc làm mới từ đầu) như Hồ Ngọc Đại chủ trương và theo đuổi. Cách này thực đúng là “đổi mới căn bản, toàn diện”! Nhưng dân ta hãi lắm rồi, mỗi khi nghe đến “cải cách”, “đổi mới giáo dục”! Vậy làm sao để đề án này chắc chắn, an dân?

            Cách thứ hai là phân tích toàn bộ hệ thống giáo dục và những tác động từ bên ngoài (chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội,…) làm biến dạng bản chất giáo dục; từ đó chấn chỉnh lại một cách căn bản và toàn diện những chỗ hỏng hóc, sai lệch, yếu kém để hệ thống giáo dục trở về với đúng bản chất của nó và tạo đà cho tiếp tục đổi mới và phát triển bền vững. Có nghĩa là “đổi mới căn bản, toàn diện” là một quá trình lâu dài chừng 10 -15 năm, mà 3 đến 5 năm trước mắt phải làm cho giáo dục trở về đúng với bản chất của nó,  đi vào quỹ đạo của nó… Tôi chọn cách thứ hai. Và theo cách đó xin có một số kiến nghị cụ thể.

2. Một số kiến nghị cụ thể:

2.1. Phải lo đủ trường lớp, chỗ học cho tất cả học sinh từ mầm non đến đại học. Tiến tới “trường ra trường”[1], tức là có chỗ học, có sân chơi, thư viên, nhà vệ sinh, nhà tập đa năng, … đủ chuẩn môi trường sư phạm văn minh hiện đại. Bản thân một môi trường nhà trường như thế đã là một sức mạnh giáo dục cơ bản để hình thành con người văn minh, hiện đại. Tại sao chính quyền có thể cấp hàng ngàn ha đất cho các dự án khu nghỉ dưỡng, biệt thự, hàng ngàn ha đất cho hàng trăm sân golf… lại không thể đủ đất cho xây trường học, bệnh viện cho dân? Việc này có thể làm được trong 3 đến 5 năm tới.

2.2. Giáo viên từ mầm non đến đại học phải đủ sống ở mức trung lưu của xã hội. Ai muốn kinh doanh làm đại gia thì đừng chọn nghề thầy giáo. Ai làm thầy giáo thì chấp nhận sống “thanh bần lạc đạo”, nhưng xã hội phải luôn đảm bảo cho họ có vị thế xã hội xứng đáng với sự tôn trọng của học sinh và phụ huynh học sinh. Họ phải đủ sống bằng lương bổng để không được làm những công việc tổn hại đến uy tín nhà giáo trước xã hội. Nhà giáo cả nước ta trước cách mạng tháng 8/1945  và nhà giáo miền Nam trước 1975, họ đã có vị thế như vậy. Nay cần chấn chỉnh đạo đức nhà giáo đi đôi với đảm bảo lương bổng để cho người giáo viên trở lại đúng với bản chất và sứ mệnh của nghề dạy học. Có vậy “thầy mới ra thầy”[2]. Thầy giáo là lực lượng quyết định sự thành bại của giáo dục; họ phải gắn bó với nghề, đầy tâm huyết và trách nhiệm thì giáo dục mới thành công.

2.3. “Trò ra trò”. Tức là xác định rõ yêu cầu, tính chất, mục tiêu của từng cấp học, bậc học, ngành học và các chuẩn chất lượng phải đạt được. Nhìn vào thực tế hiện nay thật đáng sợ, nhất là tình hình thi tú tài và chất lượng đầu ra của cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ. Hiện nay người dạy cốt chạy theo số lượng, người học cốt tìm nơi thủ tục dễ dàng, học ít, cấp bằng nhanh, chứ không phải nhằm đạt được trình độ tương xứng với bằng cấp. Bản chất của giáo dục bị tha hóa nghiêm trọng. Phải làm cho người dạy, người học, và nhất là người quản lý quán triệt, thực hiện bằng được các mục tiêu này. Ví dụ:

- GDMN mục tiêu hiện nay đã rõ, nhưng đừng “ép các cháu phấn đấu theo bộ  tiêu chuẩn”, mà là thu nhận được hầu hết các cháu vào trường lớp, vừa chơi vừa học, phát triển hồn nhiên, chuẩn bị để vào lớp Một một cách đàng hoàng.

- Tiểu học mục tiêu cũng rõ rồi. Nhưng nội dung ôm đồm và cách dạy áp đặt, cách học máy móc, làm mất sự phát triển tự nhiên của trẻ. Tiểu học phải chú trọng giáo dục toàn diện Khoa học, Nghệ thuật, Lối sống (Hồ Ngọc Đại) để trẻ phát triển tự nhiên, yêu thích học tập và có khả năng tự học để phát triển năng khiếu, sở thích của mình.

- THCS mục tiêu chưa rõ. Cần giáo dục toàn diện nhưng tạo điều kiên cho HS phát triển cá tính sáng tạo, tôn trọng sự phân hóa (“học lệch”). Dạy và học bằng nhiều hình thức phong phú, đặc biệt là học tập thực hành, thí nghiệm, nghiên cứu theo nhóm, kết hợp với nhiều dạng hoạt động tập thể, xã hội khiến trẻ phát triển tính độc lập, tự ý thức; không ngại HS “thử và sai” để trải nghiệm, để tự nhận thức, tự đánh giá, tự điều chỉnh hành vi theo chuẩn mực của nhà trường, xã hội. Tóm lại, quan trọng nhất là hết THCS (16 tuổi), HS phát triển nhân cách đạt trình độ “biết làm chủ bản thân”.

- THPT mục tiêu chưa rõ! Phải tạo điều kiện cho HS phát triển “phiến diện” theo năng lực, sở trường, hứng thú cá nhân. Phải phân hóa, phân luồng ra nhiều loại trường phù hợp với các nhóm HS và nhu cầu chuẩn bị nhân lực của xã hội. HS 18 – 19 tuổi phải hình thành rõ nét nhân cách công dân: yêu nước, trách nhiệm xã hội, có khả năng sẵn sàng học tập phát triển hoặc tham gia lao động, nghĩa vụ quân sự.

- Trường nghề (sơ cấp, trung cấp, cao đẳng) thì mục tiêu, chuẩn chất lượng phải rõ kiến thức, thái độ, kỹ năng với từng nghề, từng công việc mà thị trường lao động trong nước và quốc tế yêu cầu, người tuyển dụng lao động mong muốn.

- Đại học, mục tiêu phải phân hóa cao, đa đạng về mọi phương diện, nhưng phải kiểm định chất lượng để xã hội biết được cái bằng nào giá trị đến đâu. Trong đó đề ra được lộ trình cho những ngành phấn đấu đạt đến trình độ tương đương khu vực, quốc tế về cả chất lượng đào tạo lẫn nghiên cứu khoa học. Đào tạo đại học phải có quá trình sàng lọc, nhất là những ngành cơ bản, đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao, có chất lượng thật sự.

- Thạc sĩ, mục tiêu học phải gắn với chuyên môn, nghiệp vụ; chất lượng đạt được phải giúp cho nâng cao trình độ, cập nhật cái mới chuyên ngành để hiểu biết và làm việc tốt hơn, chứ không cốt có bằng, chẳng liên quan đến chuyên môn. Chất lượng đầu ra đang thả nổi. Phải chuẩn hóa và kiểm soát được đầu ra.

- Tiến sĩ phải chủ yếu đào tạo cho những người nghiên cứu, giảng dạy trong các trường đại học, các cơ quan khoa học và tiếp tục phát triển đề tài luận án trong hoạt động khoa học “hậu Tiến sĩ” để trở thành các nhà khoa học chuyên nghiệp. Hiện nay khá đông (chưa có số liệu) học viên thạc sĩ và nghiên cứu sinh là các quan chức, lấy bằng xong là hết! Thạc sĩ, tiến sĩ chủ yếu tìm nơi đầu vào dễ dãi, đầu ra 100%. Đào tạo và quản lý thạc sĩ, tiến sĩ như hiện nay, số lượng tăng đột biến, chất lượng hàng chợ, tác hại lâu dài, rất lãng phí…

- Công chức, viên chức. Hệ thống trường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức rất lớn, từ huyện, tỉnh đến trung ương. Mục tiêu là đào tạo ra những cán bọ công chức, viên chức vừa là người lãnh đạo, vừa là công bộc của dân. Đây mới là nơi giáo dục kỹ nhất tư tưởng, đạo đức, tác phong Hồ Chí Minh, thái độ và kỹ năng công vụ hiện đại. Mục tiêu và chất lượng các trường này xem ra còn xa mới đáp ứng được mong đợi của xã hội.

Tóm lại, mộĩ cấp, bậc học, ngành học, nghề nghiệp đều phải đổi mới căn bản quan niệm, xác định thật rõ mục tiêu, chuẩn chất lượng và kiểm soát chất lượng hiệu quả, không thể để tình trạng đào tạo theo phong trào, cốt tính số lượng, chạy theo “mua bán” bằng cấp như hiện nay được.

2.4. Hệ thống giáo dục chưa ổn.

- Hệ thống GD quốc dân thống nhất, nhưng quản lý thì chia cắt, gây ra lỗi hệ thống! Cần nhập Tổng cục Dạy nghề bên Bộ LĐTBXH về Bộ GD&ĐT để quy về một mối, tạo điều kiện cho liên thông, quản lý thống nhất. Hoặc như một số nước, lập ra Bộ Giáo dục, Văn hóa, Thanh niên, Thể thao và Bộ Khoa học công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực. Mỗi Bộ như vậy là tập hợp những lĩnh vực có quan hệ hữu cơ và tính chất tương hỗ rất hợp lý.

- Hệ thống các trường Mầm non, phổ thông, dạy nghề, giáo  dục thường xuyên ở những khu công nghiệp, khu dân cư mới phải đáp ứng nhu cầu của người dân.

- Hệ thống trường, lớp cho HS miền núi, vùng sâu, xa còn nhiều bất cập. Nhà nước không những phải lo xây trường mà còn lo điều kiện cho HS đi lại thuận lợi…

- Hệ thống, mạng lưới các trường đại học, cao đẳng, trường nghề cần điều chỉnh, phân bố hợp lý, đáp ứng nhu cầu người học và yêu cầu đào tạo nhân lực cho các vùng kinh tế…

Tóm lại phải điều chỉnh hệ thống giáo dục, mạng lưới trường theo tầm nhìn trung hạn, dài hạn, đảm bảo “ai cũng được học hành” và đáp ứng nhu cầu nhân lực vùng kinh tế…

2.5. Quản lý.

- Phải đủ luật và quản lý nhà nước theo Luật thì giáo dục mới đi vào nền nếp, bền vững được.

- Phân cấp quản lý phải rõ chức năng, trách nhiệm của các cấp cơ sở và trách nhiệm người đứng đầu, không thể buông lỏng như hiện nay.

- Phải rõ chức năng, trách nhiệm của chính quyền địa phương với giáo dục. HS không có chỗ học, giáo viên không có lương, HS bơi qua sông, đu dây qua sông đi học… trách nhiệm của chính quyền xã, huyện, tỉnh nơi ấy phải giải quyết ngay.  Chính quyền không đảm bảo cho giáo dục những điều đã luật hóa, thì người đứng đầu và phụ trách chính phải mất chức. Có vậy mới thay đổi căn bản thái độ của chính quyền với giáo dục. Hà nội cha mẹ HS xếp hàng qua đêm chen nhau xin con vào trường Mẫu giáo, vào lớp Một, chính quyền cũng chẳng sao!?

- Giáo dục phổ cập (bắt buộc) thì không được thu tiền nữa, ngược lại còn phải trợ cấp cho trẻ nghèo đến trường để thực hiện đúng Luật phổ cập.

- Tiền ở đâu ra để đảm bảo thực thi đúng Luật? Đó là vấn đề nhà nước phải lo, phải chịu trách nhiệm trước dân.  

- Nhà nước, trươc hết là Chính phủ, chính quyền các cấp phải quản lý được mặt trái của cơ chế thị trường, để hạn chế tối đa các tác động tiêu cực đến giáo dục, chứ không phải thả nổi rồi đổ tất cả cho “mặt trái của cơ chế thị trường”. Tại sao ở các nước thị trưởng phát triển, hay ở những nước mới chuyển sang thị trường (Ba Lan, CHDC Đức, Tiệp…) mặt trái của thị trường không hủy hoại bản chất của ngành Y tế, Giáo dục như ở nước ta? Trách nhiệm cơ bản nhất và trước hết là chính quyền. Giáo dục là hệ thống con trong hệ thống mẹ của hệ thống xã hội; hệ thống mẹ đảo lộn các giá trị, xuống cấp đạo đức, lối sống, để tiêu cực tràn lan, thì giáo dục chỉ chống đỡ trong bị động…

Cần phải phân tích những tác động tiêu cực từ hệ thống xã hội đến giáo dục để đổi mới căn bản nhận thức và biện pháp khắc phục, để giáo dục trở về đúng bản chất của nó, rồi từ đó phát triển lên tầm cao hơn về chất.

 

3. Kết luận. Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục là vấn đề lớn, một sự nghiệp của đất nước, dân tộc, diễn ra một quá trình liên tục, bền bỉ. Đổi mới căn bản, toàn diện phải thay đổi từ quan niệm đến cách làm, cách đánh giá…; đổi mới từ việc nhỏ nhất đến việc lớn nhất trong giáo dục và theo một tiến trình nhiều giai đoạn, nhiều năm. Ở góc nhìn của nhà Tâm lý học, xin chân thành góp ý một số điều nhỏ, cụ thể nhưng cần và có thể thay đổi được. Những điều ấy thay đổi căn bản sẽ khiến giáo dục trở về đúng với bản chất và sứ mệnh của nó. Trên nền tảng đó giáo dục mới phát triển lên tầm cao và bền vững được.


[1] Phạm Văn Đồng: phấn đấu làm sao cho “trường ra trường, thầy ra thầy, trò ra trò” (đại ý)
[2] Như chú thích 1.
______________________________
Hà Nội, nhân ngày 20/11/2012





© Tác giả giữ bản quyền.
. Cập nhật ngày 20.11.2012 theo nguyên bản của tác giả gởi từ HàNội .
. ĐĂNG TẢI LẠI VUI LÒNG GHI RÕ NGUỒN : NEWVIETART.COM .