CÂU ĐỐ CỦA BÀ


DIỆP PHƯƠNG CHI


1. Đặt Vấn Đề:

Câu đố dân gian Việt Nam được ra đời trong quá trình lao động sản xuất và sinh hoạt của nông dân Việt Nam, nên cùng với ca dao tục ngữ, nó cũng phản ánh đời sống, quan niệm nhân sinh, kinh nghiệm xã hội và trí tuệ dân gian của người Việt Nam. Nếu không được gìn giữ và lưu truyền, các câu đố dân gian sẽ bị thất lạc và dần mai một đi, do đó, việc sưu tầm những câu đố dân gian là việc làm hết sức cần thiết, có ý nghĩa góp phần bảo tồn văn hóa Việt.

Các câu đố dưới đây được người viết (Diệp Phương Chi) ghi chép lại từ lời đố của bà ngoại tên Nguyễn Thị Minh, năm nay 94 tuổi, người quê ở Sa Huỳnh, tỉnh Nghĩa Bình, Việt Nam.

2. Các Câu Đố Dân Gian:

Câu 1:

Loẹt quẹt như đuôi gà thiến
Liến thiến như ngọn thối lai
Chúa mất tôi ngơ ngẩn kiếm hoài
Tôi mất chúa nằm im lẳng lặng


(Là cái gì?)

Giải đố: CÂY CHỔI.

Lời bình: Dựa trên việc liên tưởng từ hình ảnh đuôi gà thiến và ngọn thối lai (có lẽ là một loại cây mà hiện nay không nhiều người thành thị còn biết tới?), ông cha ta đã đưa ra câu đố về cây chổi quét nhà – một vật dụng thân quen trong mọi gia đình người Việt. Từ tượng hình “loẹt quẹt” được sử dụng nôm na mà thật khéo ở đây, rất gần gũi với đời sống nhân dân Việt Nam, thường hằng ngày “loẹt quẹt quét nhà” bằng cây chổi đót (mềm mại, trông giống đuôi gà, giống ngọn cây) thay vì dùng máy hút bụi, dùng chổi nhựa…như ở nhiều nước khác. Thỉnh thoảng mất cây chổi, người ta lại phải đi tìm khắp nhà, còn cây chổi chỉ biết “nằm im lẳng lặng” trong một góc nào đó. Cách xưng hô “chúa” và “tôi” cho thấy câu đố này được ra đời từ thời phong kiến ngày xưa (liệu có phải từ thời chúa Trịnh, chúa Nguyễn, đàng trong, đàng ngoài chăng, hay xuất phát từ thời xa xưa hơn nữa?)

Câu 2:

Ở nhà có bà hay liếm (Là cái gì?)

Giải đố là : CÂY CHỔI.

Lời bình: Câu đố này có hình thức khá quen thuộc trong cách đặt câu đố của người Việt Nam nếu so sánh với một câu đố khác đã được một người Vĩnh Phúc sưu tập là “ở nhà có một bà ăn cơm hớt” (là đôi đũa cả). Câu đố dựa trên sự quan sát công năng của cây chổi, “liếm” khắp nhà để làm sạch nhà. Động từ “liếm” khiến câu hỏi trở nên thú vị, khiến người nghe phải suy nghĩ mới có thể trả lời được câu hỏi tưởng rất đơn giản, rất dễ mà không dễ này.

Câu 3:

Một trăm tấm ván
Một vạn thằng quân
Thằng nào không quần
Thì chui xuống dưới


(là việc gì?)

Giải đố: SÀNG GẠO.

Lời bình: Câu đố này được ông cha ta nảy ra dựa trên sự quan sát một công việc quen thuộc của nhà nông, đó là sàng gạo, với công cụ lao động là chiếc sàng tre được đan bởi những chiếc nan tre già thường được ngâm ủ dưới lòng mương cho tre ủ màu, săn chắc rồi mới được đem đi đan kết lại theo hệ dọc, hệ ngang xen kẽ nhau (có nhiều cách đan như đan nong mốt, đan nong hai mà trẻ con tiểu học Việt Nam trong chương trình phổ thông cách đây hơn 20 năm vẫn còn được học, không biết bây giờ có còn được học không) dùng để sàng gạo giúp vỏ lúa bị tách ra, chỉ còn hạt gạo trắng ngà rơi xuống. “Một trăm tấm ván” chính là những nan tre trên cái sàng, “một vạn thằng quân” chính là lúa đã được xay, nằm trên chiếc sàng chờ được sàng sẩy để bóc tách phần vỏ lúa ra, và các hạt gạo sẽ “chui xuống dưới”. Ngày nay, nông dân Việt Nam cũng đã không còn nhiều người sàng gạo, đã có máy móc làm thay tất cả, do đó, hình ảnh cái sàng và việc sàng gạo cũng dần dần trở nên ít gặp, và câu đố của một thời cũng dần dần xa lạ với trẻ con Việt Nam. Câu đố này được ghi chép theo lời đố truyền miệng của bà ngoại tôi, còn một dị bản khác của câu đố tôi tình cờ đọc được là: “Một trăm tấm ván, một vạn thằng quân / Thằng nào cởi trần cũng lăn xuống hố”

Câu 4:

Đàn ông đi biển có đôi
Đàn bà đi biển mồ côi một mình


(là gì?)

Giải đố là: ĐÔI ĐŨA CẢ và BÀ VÁ.

Lời bình: Câu đố trên vận dụng một câu ca dao quen thuộc để biến thành một câu đố. Vốn nghĩa của nó là nói về thân phận của người phụ nữ, phải mang nặng đẻ đau, vượt cạn một mình mà không ai có thể thay thế hoặc giúp đỡ được. Trong trường hợp này, ông cha ta đã có sự liên tưởng thú vị đến đôi đũa cả dùng để xới cơm, và chiếc vá (chiếc muôi) dùng để xới cơm hoặc múc canh, múc đồ ăn. Tiếng Việt phong phú đa dạng, tuy không có danh từ chia giống đực, giống cái, giống trung như trong tiếng Đức, tiếng Nga, tiếng Pháp…thế nhưng vẫn có những biến thể dùng đồng âm khác nghĩa trong cổ tích hoặc câu đố dân gian có liên quan đến “giới tính” của đồ vật, chẳng hạn như nhân vật người em trong truyện cổ tích bị người anh tranh hết cả tài sản có giống “cái”, giống “con” thì chỉ lấy được cái rựa cho mình, lấy cớ là người ta vẫn hay nói là “đực rựa”. Tương tự ở đây, người đàn bà không chồng hoặc góa chồng trong dân gian Việt Nam hay gọi là “bà vá” (hay bà giá – tùy giọng địa phương), nên khi dùng kiểu đồng âm khác nghĩa qua thì “cái vá” cũng được gán giới tính là phụ nữ, thành “bà vá”. Từ đó, kết hợp với hình ảnh đôi đũa cả thì có đôi, còn chiếc vá (chiếc muôi) thì chỉ có một mình mà câu đố thú vị trên ra đời. Ngày nay, đôi đũa cả cũng dần ít được sử dụng, nhất là ở Nam bộ Việt Nam, người ta hay dùng cái vá nhựa để xới cơm (từ nồi cơm điện) nên hình ảnh đôi đũa cả cũng dần dần sẽ không còn được nhiều trẻ em biết tới nếu như không được người lớn chỉ bảo cho, hoặc được tiếp xúc với câu đố như câu đố trên chẳng hạn.

Câu 5:

Hai nàng đứng dựa hai bên
Ban đêm đóng cửa phòng lang
Ban ngày mở cửa lo toan việc nhà


(là cái gì?)

Giải đố là : ĐÔI MẮT.

Lời bình: “Đôi mắt là cửa sổ của tâm hồn”, có lẽ vì vậy, chúng được xem như phái đẹp “hai nàng đứng tựa hai bên”, ban đêm đi ngủ thì đôi mắt được khép lại “đóng cửa phòng lang”, ban ngày thì phải mở mắt - “mở cửa” để lao động “lo toan việc nhà”. Cách lí giải, liên tưởng cũng thật thú vị.

Câu 6:

Một mẹ mà chín, mười con
Không ăn không uống mà tròn như vung


(là gì?)

Giải đố là : GÀ MẸ và CÁC QỦA TRỨNG.

Lời bình: Hình thức câu đố “một mẹ” mà mấy con là hình thức câu đố cũng khá quen thuộc trong các câu đố Việt Nam. Có một số câu đố đã được biết khác cũng có hình thức khá giống, như “một mẹ nằm mà trăm con gối” (là mái nhà), “một mẹ mà đẻ bốn con/ khi con ba tuổi mẹ còn có hai” (là ngón tay)

Câu 7:

Linh đinh hai chiếc thuyền sang
Một chiếc chở năm chàng, hai chiếc chở mười chàng mà vẫn linh đinh


(là cái gì?)

Giải đố là : HAI BÀN CHÂN .

Lời bình: “Linh đinh” có lẽ là giọng địa phương, đọc chệch từ chữ “lênh đênh”. Hai bàn chân là vật luôn “lênh đênh” vì phải di chuyển liên tục. Mỗi bàn chân có 5 ngón chân, hai bàn chân là 10 ngón chân mà luôn phải lênh đênh di chuyển theo con người. Câu đố trên là sự quan sát và liên tưởng thú vị, tạo nên một câu đố không dễ giải đố.

3. Kết Luận:

Câu đố dân gian thể hiện cái nhìn tinh tế, óc quan sát, sự liên tưởng và trí tuệ dân gian Việt Nam. Ẩn sâu trong các câu đố là cái nhìn khỏe khoắn về cuộc sống lao động, sự quan tâm tỉ mỉ đến từng sự vật, hiện tượng và tình yêu cuộc sống của người nông dân Việt Nam, đôi lúc còn hàm chứa cả một chút triết lý về thân phận và nhân sinh . Câu đố dân gian Việt Nam cần được sưu tầm và gìn giữ như gìn giữ những nét đẹp trong bản sắc văn hóa dân tộc.


(11/2012)

 
 
 
© Tác giả giữ bản quyền.
. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả gởi ngày 13.11.2012.
. Xin vui lòng ghi rõ nguồn Newvietart.com khi trích đăng lại.