TỪ TU THIỀN ĐẾN TU PHẬT





Kỳ Thứ 15

CÔNG ÁN THỨ BA MƯƠI BẢY

CÂY BÁCH TRƯỚC SÂN

*Công Án:

Một ông Tăng hỏi Ngài Triệu Châu:

- Ý Tổ Sư sang Đông là gì?

Sư đáp:

- Cây bách ở trước sân.

Lời giải:

Cũng vì các vị Thầy của Thiền Tông quá chấp vào hiểu biết của mình, không chịu đọc Kinh Phật, tham khảo tài liệu để thấy Đạt Ma Tổ Sư đã có Kệ:

"Ta cốt sang Đông thổ.

Truyền Pháp cứu mê tình

Một hoa năm cánh trổ

Tự nhiên trái kết thành"

Thầy không chịu đọc để truyền cho học trò lại còn lấy đó làm Công Án đố trò! Ý thầy muốn đưa vào Đệ Nhất Nghĩa Đế, là Tổ Sư Đạt Ma "không có Ý", trong khi chính miệng Tổ xác nhận mình CÓ Ý " sang Đông Thổ để truyền Pháp cứu mê tình ".

Câu này không có gì phải Tham. Trước nhất là Tổ Sư đã nói rõ Ý Ngài. Vì vậy, nếu có Tham là nên Tham điều ta cần tìm hiểu: là Ý của ta đang cần gì? Làm sao thực hiện cho đúng? Nếu muốn tu thì phải làm gì? Đó mới thực sự là "Hồi quang phản chiếu", có lợi cho việc tu của bản thân hơn.

Kết luận:

Nếu muốn dạy đạo đòi hỏi người dạy phải thấu đáo để đừng làm mất thì giờ của người học, vì lẽ Vô Thường không đợi bất cứ ai. Thà không biết thì đừng nói, đừng dạy. Tự mình mê thì nhẹ tội hơn là chồng mê cho người! Học trò không hiểu hỏi mình, mình lại nói vu vơ, ích gì cho người tham hỏi?

CÔNG ÁN THỨ BỐN MƯƠI BA

GẬY TRÚC CỦA THỦ SƠN

*Công Án:

Hòa Thượng Thủ Sơn giơ cây gậy trúc trước chúng mà nói:

- Này các ông, nếu gọi là gậy trúc thì xúc phạm, không gọi là gậy trúc thì trái nghịch. Vậy gọi là gì?

Lời giải:

Chỉ có cây gậy trúc mà quan trọng đến thế sao? Gậy trúc mà không cho gọi là gậy trúc, và gọi hay không gọi đều sai. Vậy phải gọi bằng gì? Sao không thấy Hoà Thượng đưa Phật Pháp ra cho chúng tăng soi quán nhỉ? Có như thế mà Ngài Vân Môn bàn rằng: “Đó là lệnh ban tha giết. Phật, Tổ phải xin tha!”

Chao ôi, chư Thiền Sư đó học gì, đắc gì mà quá cao siêu như thế? Chỉ có cây gậy mà uy đã lớn như thế rồi! Liệu gậy đó chống tới địa ngục hay tới đâu đây? Nếu người sau cứ gậy trúc mà Tham chắc sẽ Đắc gậy trúc, chẳng thể đắc Phật Pháp được!

CÔNG ÁN THỨ BỐN MƯƠI BỐN

CÂY GẬY CỦA BA TIÊU

*Công Án:

Hòa Thượng Ba Tiêu nói với Tăng chúng:

- Các ông có cây gậy, tôi sẽ cho các ông cây gậy. Các ông không có cây gậy, tôi đoạt cây gậy của các ông.

Lời giải:

Các Tổ Sư Thiền luôn muốn cho người tu học những điều phi thực tế mà cũng chẳng thấy dính dáng gì đến đạo giải thoát. Hết vị dùng gậy đánh người tham học. Đưa gậy ra bắt nói nó là cái gì? Đến vị nọ lại đòi cho gậy, đoạt gậy! Trong khi Phật thì cầm cành Sen, nêu được ý nghĩa không nhiễm của đạo Giải Thoát, thì chư vị Thiền Sư đó chỉ có cây gậy trần tục để chống mà đi trên con đường trần thế trơn trợt gập ghềnh, lại còn muốn nói khác đi, nói nó chẳng phải là gậy! Chẳng trách đệ tử ngơ ngác không biết sao để trả lời cho vừa ý Thầy!

"Chỉ cần gọi đó là gậy thì vào địa ngục như tên bắn". Đơn giản thế sao thưa ngài VÔ MÔN? Kinh Phật dạy về Nhân Quả, làm ác, gặp ác. Tạo đại tội, gây đại nghiệp mới sa địa ngục, chưa hề thấy chỗ nào bảo gọi gậy là gậy thì vào địa ngục! Quả là Các Thiền Sư ngày càng lộng ngôn, càng xa rời Phật Pháp!

Hòa Thượng Ba Tiêu nói với Tăng chúng:

- Các ông có cây gậy, tôi sẽ cho các ông cây gậy. Các ông không có cây gậy, tôi đoạt cây gậy của các ông.

Kết Luận: Cũng may cho đời sau là lần hồi các môn Thiền này tự diệt cho người tu đỡ bị hù doạ! Vật lù lù, không cho nói. Nói không đúng ý thì đọa địa ngục ! Còn các vị chê Phật, chê Tổ thì đoạ vào đâu không thấy nói!

CÔNG ÁN THỨ BỐN MƯƠI LĂM

KẺ ẤY LÀ AI?

*Công Án:

Ngài Pháp Diễn ở Đông Sơn nói:

- Thích Ca, Di Lặc còn là tôi đòi của kẻ ấy. Thử hỏi kẻ ấy là ai?

Lời giải:

Đạo Phật dạy người tu chỉ có "Tự Độ", Mình tu thì mình nhờ, có làm được gì cho ai, cứu độ được ai mà ra uy lớn như thế? Người phàm phu còn phải “tôn sư trọng đạo”, sao nơi chùa chiền thiền môn lại có những hạng tà sư cao ngạo đến mức coi khinh chư Phật như thế?

Ngài Pháp Diễn này tự xưng là Ngũ Tổ nhưng không phải là Thầy của Lục Tổ, mà thuộc dòng Lâm Tế, đắc pháp với Ngài Thủ Đoan không biết có tên tuổi trong các dòng Thiền chính thống hay không mà nói năng ngạo mạn đến như vậy. Hay pháp môn Tu Thiền chuyên đào tạo ra những vị Thầy, Tổ như thế?!

Thân mình đang nương cửa Phật, nhờ màu cờ sắc áo của Phật mà vừa có ăn, vừa nhàn thân lại vừa được người tôn trọng lại mở miệng báng Phật, khinh Tổ! Đạo Phật dạy phải Phá Chấp Ngã đi. Nhưng Ngài tu thế nào mà càng tu cái Ngã càng to! Đối với con đường tu hành, mình là kẻ hậu học, sinh ra thời sau, cách xa các Ngài hàng ngàn năm, dù có đạt đến trình độ như các Ngài mình cũng chỉ là học trò. Kính Phật, trả ơn Phật còn chưa hết!

Phàm phu thô lỗ chắc cũng không dám nói những điều bất kính như vậy! Với cái Tâm, cái Khẩu như thế mà là Thiền Sư đó ư?

Qua Công Án này ta còn thấy rõ thêm trình độ của Thiền Sư tự xưng là Ngũ Tổ! Bậc chân tu thì lúc nào cũng “Thu thúc Lục Căn”, “Ngũ Uẩn Giai Không”, nên Thân, Khẩu, Ý Ba Nghiệp thanh tịnh. Trái lại, các Thiền Sư thì lúc nào cũng ngạo mạn, tự cao, tự đại! Thấy mình hơn người đã là kiêu mạn, còn thấy Phật Thích Ca, Phật Di Lặc là tôi đòi của mình nữa thì thật là hết thuốc! Vậy mà Ngài Vô Môn hẳn đắc ý vì môn Thiền đào tạo ra những vị cao siêu như vậy nên gom vào làm Công Án người Tu Thiền về sau Tham! Đó là tội chồng mê cho người mà các vị đó không biết phải trả nghiệp thế nào cho xứng đây!

CÔNG ÁN THỨ BỐN MƯƠI SÁU

ĐẦU SÀO TIẾN THÊM

*Công Án:

Hoà Thượng Thạch Sương nói:

- Đầu sào trăm thước làm sao tiến thêm?

Có vị cổ đức lại nói:

- Đầu sào trăm thước đã ngồi lên,

Thấy đạo mà chưa thật nhập chân.

Trăm thước đầu sào, cần bước nữa.

Mười phương thế giới hiện toàn thân.

Lời giải:

Trên con đường tu hành, mỗi người đang làm công việc Phá cái Ngã Chấp, nương theo giáo lý của Đạo Phật. Cây sào trăm thước tượng trưng cho cái Chấp Thân mà mỗi người đang lui tới trong đó. Nào tham, sân, si mạn, yêu, ghét... cứ loanh quanh như thế cho đến hết một đời và sẽ tiếp tục vòng quanh trong sáu ngã luân hồi không thôi.

Thấy Đạo tức là thấy con đường Giải Thoát. Con đường này cần lìa những chấp nhất cái Thân giả hợp, cái Tâm hư vọng này, nhưng thấy chưa phải là Thoát được nó, mà cần phải Làm những công việc tương ưng. Đó là từng công việc Thí, Xả, Giới, Hạnh, Lục Độ, Bát Chánh Đạo. Một mặt để rào đón. Một mặt để tẩy rửa nó. Thời gian tu hành đó phải thường xuyên quán sát, tư duy để thấy cái Lý đúng, rồi theo đó mà thực hành. Kinh dạy: Như người thợ làm vàng cần cù chắt lọc, gom góp để làm thành tác phẩm. Từng bước đốt, đập. Chốc chốc lại đưa ra xem có đúng theo mẫu hay chưa.

Chư cổ Đức đưa đầu sào để nhắc nhở người tu: sau khi thấy cái Lý rồi thì phải áp dụng cái Lý đó. Đã nói rằng “thân này là giả tạm, là không thường còn”, thì đừng tiếp tục đắm vào nó. Đừng để nó lôi cuốn vào những hành vi Tham, sân, si, yêu, ghét...như trước kia. Đó chính là công việc gọi là tu hành mà người tu hàng ngày phải thực hiện.

Chưa Xả được cái Chấp Thân thì chưa hết Chấp Pháp. Muốn hết Chấp lại phải hiểu cái LÝ của Đạo. Do đó, người không hiểu LÝ thì cũng khó thể thực hành được vậy.

CÔNG ÁN THỨ BỐN MƯƠI BẢY

BA CỬA CỦA ĐÂU SUẤT

*Công Án:

Hòa Thượng Đâu Suất Duyệt đặt ra ba cửa để hạch hỏi người học rằng:

- Lặn lội tìm học, chỉ mưu thấy Tính, vậy Tính ở đâu? Biết được Tính mình mới thoát Sinh tử, vậy khi nhắm mắt buông tay làm sao thoát? Thoát được Sinh tử mới biết chỗ đi về, vậy khi tứ đại tan rã, mình đi về đâu?

Lời giải:

Ba câu hỏi cốt tủy cho người tu Phật. Đó là mục đích tối hậu mà mọi pháp môn tu hành: Mật Tông, Hiển Tông, Đại Thừa, Tiểu Thừa, Xuất gia, Tại gia… đều phải Thấy, nếu muốn đạt kết quả trên con đường tu. Tánh này ở trong mỗi người. Chúng sinh hữu tình đều có. Nhưng Kinh dạy: "Phải Phương tiện khéo mới thấy", “Phải có Thiện Tri Thức chỉ cho thì mới gặp". Chẳng phải do đọc nhiều Kinh sách. Ngồi thiền cho lâu. Nhập được nhiều hạ. Hạ được nhiều câu chuyển ngữ… hay dao, gậy, “đả thất”, tình cờ mà bật ra, mà Thấy được!

Muốn tu hành nghiêm chỉnh thì nên nương các Chính Kinh, tìm xem Phật, Tổ dạy như thế nào, rồi từng bước thực hành theo:

Theo Kinh Đại Bát Niết Bàn, có những lý do chính để người tu không Thấy Tánh:

- Phiền não ngăn che.

- Không gặp được Thiện tri Thức để chỉ cho

- Bị Tham Sân Si che lấp.

- Phiền não hiện tại chướng ngăn.

Kinh cũng chỉ cho những phương tiện để có thể Thấy Tánh:

- Trì Giới.

- Trừ phiền não.

- Trí quán chiếu Thập Nhị Nhân Duyên.

- Hành Lục Độ Ba La Mật

- Tu Bát Chánh Đạo.

- Đại Từ, Đại Bi, Đại Hỉ, Đại Xả.

- Nghe pháp, khéo Tư Duy

- Thọ trì đọc tụng biên chép giải thuyết Kinh đại Bát Niết Bàn.

- Phải cầu bậc Đại Thiện Tri Thức chỉ cho.

Chính vì thế mà những người không theo những phương tiện trên thì không bao giờ có thể Thấy Tánh được.

Tánh là gì? Thấy để được gì?

Qua khám phá của Đức Thích Ca, Ngài thấy rằng mỗi người đều có cái Chân Tâm, hay là CHÂN TÁNH. Nhưng qua quá trình trôi lăn, nó đã bị che mờ bởi Phiền não, Tham ,Sân, Si. Vì thế Ngài đặt ra bao nhiêu phương tiện: GIỚI, ĐỊNH, HUỆ, BÁT CHÁNH ĐẠO, TỨ DIỆU ĐẾ, LỤC ĐỘ, TỨ NHIẾP, TỨ VÔ LƯỢNG TÂM, 37 PHẨM TRỢ ĐẠO vv... nhằm hỗ trợ cho việc tẩy rửa những chất bụi nhơ đã bám vào, để nó trở lại tình trạng thanh tịnh, không ô nhiễm buổi đầu.

Song song với những Hạnh phải làm ở trên, người tu còn phải TƯ DUY, SOI QUÁN. Mục đích của Soi, Quán là để thấy rõ, hiểu rõ về các pháp cũng như cách thức để Thoát nó. Vì thế, Kinh dạy phải là CHÁNH QUÁN, phải NỘI QUANG PHẢN CHIẾU. chánh Quán là tìm hiểu những đề tài thiết thực, có liên quan đến cái Sinh Tử của mình. Không phải Quán mây trôi, lá rụng vu vơ, vì Sinh Tử nằm ở tại nơi Thân và Tâm của mỗi người, không phải ở ngoài vũ trụ hay nằm trong các pháp khác.

Người tu vì không có cái Thấy Sinh Tử, đau khổ của cái kiếp người như Thái Tử Sĩ Đạt Ta, để có thể phát tâm như Ngài. Vì thế, nếu chúng ta muốn nương Đạo Phật, tu hành để Giải Thoát, để Trừ Khổ, thì phải lần theo hướng dẫn của Kinh để thấy Phật dạy Nguyên nhân cái Khổ do đâu? Thấy được nguyên nhân rồi thì tìm xem Kinh dạy cách thức TRỪ KHỔ như thế nào. Lần lượt thực hành theo đó thì ta cũng sẽ đạt mục đích như chư vị đi trước.

Phật dạy: “Có Thấy Khổ mới tìm cách Thoát Khổ”. Đó là lý do tại sao người thời nay tu mãi mà không thành công. Họ đâu có phát tâm đi tu để Thoát Khổ mà có thể đã đi tu vì trăm thứ lý do nào đó khác với mục đích của Đạo Phật, vì thế mà không đạt được mục đích giống như Đạo Phật được! Có tìm cách Thoát mới thấy mình sẵn có cái TÁNH GIẢI THOÁT, hay là PHẬT TÁNH ở trong Tâm, nhưng từ lâu bị VÔ MINH, bị THAM, SÂN, SI che khuất. Vì thế, Phật dạy: Muốn gặp Phật Tánh phải trừ THAM, SÂN SI đi.

Để trừ Tham, Sân Si lại phải có những pháp để hỗ trợ là Tứ Quán Chiếu, Thập Nhị Nhân Duyên, Bát Nhã, phải Giữ Giới, phải sống trong Bát Chánh Đạo, phải hành Lục Độ vv... Trong thời gian hành trì phải "Thu thúc lục căn". Phải giữ cho Thân, Khẩu và Ý luôn thanh tịnh trong tất cả mọi thời. Cứ kiên trì Hành như thế. Vừa Quán Soi, vừa dò tìm trong chính Kinh xem những điều ta hiểu, hành, có khế hợp hay không.

Dù Lục Tổ đã chỉ rõ: TÁNH là cái mà: Khi "KHÔNG NGHĨ THIỆN, KHÔNG NGHĨ ÁC" là nó đang hiện thân. Nhưng nhiều người tu cũng nắm lấy câu này, nhưng lại hành sai. Họ NGỒI THIỀN, để cho thân ngưng hoạt động, tâm cũng ngừng nghỉ, tưởng lúc đó là đã gặp được nó! không biết rằng không thể đột ngột nó hiện ra, do ta dừng nghĩ tưởng, mà do công đức gọi là "Đúc tạc tượng Phật", tức là mỗi ngày Xả phiền não, Tham, Sâm, Si đi một chút, dần dà khi đầy đủ thì sẽ hình thành. Hoặc nói một cách khác, là tượng Phật vốn sẵn có, nhưng bị Tham, Sân, Si che phủ, thì càng trừ Tham, Sân, Si, Thương, ghét... chừng nào thì tượng càng lộ rõ chừng đó.

Câu trả lời cho Công Án này là TÁNH của mỗi người ở trong TÂM của mỗi một. Người Thấy được CHÂN TÁNH, trụ được ở đó, thì ngay lúc sống đã không còn bị phiền não sinh tử làm khổ. Lúc cái thân hết nghiệp, thì cái Chân Tánh đó cũng không chết theo cái Thân. Phật Tánh này có giá trị như chiếc phao, như cồn đảo, để người tu nương vào đó mà Thoát Khổ, mà được an lạc trong cuộc sống, mặc cho giòng đời xao động với bao nhiêu pháp xấu tốt luôn diễn ra. Người tu, từ lúc phát tâm cho đến khi thành tựu đạo quả thì cũng không rời cảnh sống nơi trần gian, nhưng tâm ý được hoàn toàn Giải Thoát. Đó là lý do vì sao Đạo Phật dùng Hoa Sen để làm biểu tượng, vì Hoa Sen sống trong bùn mà không nhiễm mùi bùn. Giống như người tu theo Đạo Phật để sống trong phiền não mà không bị phiền não ảnh hưởng tới vậy.

CÔNG ÁN THỨ BỐN MƯƠI TÁM

MỘT ĐƯỜNG CỦA CÀN PHONG

*Công Án:

* Công Án:

Một ông Tăng hỏi Hòa Thượng Càn Phong:

- Chư Bạt Già Phạm mười phương chỉ một đường Niết Bàn, không biết đầu đường ở đâu?

Sư cầm gậy vạch một đường nói:

- Đây!

Sau có ông Tăng đem chuyện ấy hỏi Ngài Vân Môn. Vân Môn cầm quạt giơ lên bảo:

- Quạt nhảy một cái lên tận tầng trời thứ ba mươi, gõ lỗ mũi Đế Thích. Con lý ngư ngoài biển Đông đánh một hèo, trời mưa như trút.

Lời giải:

Ít ra ở lời bàn cho công án này Ngài VÔ MÔN đã hạ được một câu chính xác: "Xét lại cho kỹ, cả hai ông lão đều không biết đầu đường ở đâu!"

Sở dĩ người Xuất Gia, vào chùa tu theo Đạo Phật, bỏ hết chuyện đời, làm bao nhiêu công phu. Nào là Thiền Định, Soi Quán. Giữ Tứ Oai Nghi. Gìn Thân, Khẩu, Ý, hành bao nhiêu thiện pháp, là để có ngày bản thân mình cũng vượt qua được cuộc sống phàm phu, vào hàng thánh chúng, chứng được Niết Bàn tại Tâm. Thế mà hai ông đường đường là Hoà Thượng, là người đang hướng dẫn đạo pháp cho Tăng chúng, lại dám tăng thượng mạn. Không biết mà còn chỉ, nói bậy bạ, làm cho người sau hoang mang, nghi ngờ!

Lẽ ra đã là người Xuất Gia đầu Phật thì tức lúc nào cũng phải áp dụng Bát Chánh Đạo vào cuộc sống, luôn phải Chánh Niệm, Chánh Tư Duy, Chánh Ngữ, Chánh Tinh Tấn... Nếu các vị đã có được một trong những Hạnh này hẳn không dám xuất ngôn bừa bãi, chỉ vẽ lung tung, coi thường người tham học đến như vậy! Đã chọn cuộc sống của người tu hành tức là bỏ hết việc đời, thọ thực của thí chủ để dành trọn thì giờ cho công việc tu hành, mà không tu hành chân chính là thiếu Chánh Mạng, Chánh Nghiệp. Nói năng bừa bãi làm sao có Chánh Ngữ!

Người muốn tu học và các Thiền Sinh trông cậy vào mình, vì nghĩ mình là Thiền Sư, thành thạo về Thiền để hướng dẫn cho họ đi con đường "Đốn Ngộ", "Trực chỉ Chân Tâm, KIẾN TÁNH THÀNH PHẬT" như lời quảng cáo của Thiền Tông mà mọi người vẫn đánh giá như thế. Tiếc thay, qua thái độ, lời lẽ của hai vị Thầy này, ta có thể thấy ngay họ chẳng phải là Thiền Sư chân chính, bởi vì đúng nghĩa thì Thiền phải đi kèm với Định. Người nào có Thiền thì phải có Định, mà đã có sức Định là Thân Khẩu Ý phải thanh tịnh. Không có ăn nói bừa bãi. Không có thái độ ngông nghênh, tự phụ, kiêu mạn. Không nói những lời vô nghĩa!

Xét Nhân thì thấy Quả. Chẳng trách những pháp môn Thiền của những vị đó sáng lập chẳng tồn tại được lâu dài, vì có pháp đâu mà truyền lại cho lớp con cháu!

Niết Bàn có nghĩa là “Ra khỏi rừng mê”. Đường đến Niết Bàn bắt đầu từ việc quay vô, giữ Giới, lập Hạnh, gìn Thân Khẩu Ý, điều phục Lục Căn, trừ Vọng, lìa Mê để Giác. Để mình cũng tìm thấy Phật Tâm, Phật Tánh của mình. Cái Tâm thanh tịnh, được yên ổn, an lạc, đó chính là Niết Bàn. Chẳng phải ở Phật Quốc hay Đông, Tây nào xa vời.

Kết luận: Chỉ một câu hỏi thôi, cả hai người thầy đã lộ rõ trình độ, căn cơ. Đây có đáng gọi là Công Án, đáng cho người tu học đời sau Tham? Vì nếu Tham cho cùng lý, cũng chỉ thấy hai ông Thầy dạy sai mà thôi. Chẳng thấy đường nào về Niết Bàn cả. Ngài Vô Môn cũng chẳng nói, chẳng bàn được gì hơn thế, cũng tự cho là “qua được của Vô Môn đã thiệt thòi cho Ngài”! Sao không nói là người Tham Công Án này sẽ rất thiệt thòi, vì có hiểu thêm được chút gì đâu?

... CÒN TIẾP ...






© Tác giả giữ bản quyền.
. Đăng ngày 10.11.2012 theo nguyên bản của tác giả từ SàiGòn.
. TRÍCH ĐĂNG LẠI VUI LÒNG GHI RÕ NGUỒN NEWVIETART.COM .