Nghĩa trang liệt sĩ Hà Giang




















CUỘC GIAO CHIẾN
CHỐNG TẦU CỘNG XÂM LƯỢC
TẠI CAO ĐIỂM 1509 NĂM 1984



NAKAMURA MASANORI


Kế hoạch hành quân nhằm chiếm lại Cao điểm 1509 có mật danh là “MB84, thu hồi lãnh thổ” đã được vạch công phu. Tuy nhiên, cả Tướng Văn Tiến Dũng và các cố vấn quân sự Liên Xô cũng không ngờ là họ đã bị bán đứng bởi một sĩ quan cao cấp phản bội?  .

 

Tướng Văn Tiến Dũng (phải) và Tướng Tàu cộng  Dương Đắc Chí (trái);
hai đối thủ trong cuộc giao chiến tại Cao điểm 1509
(hiện nay bọn Tầu cộng gọi là Lão Sơn) năm 1984.

Trận chiến Lão Sơn, (phía Việt Nam gọi là Cao điểm 1509), được xem là trận chiến đẫm máu, khốc liệt nhất trong vùng Á Châu gần đây nhất. Cuộc chiến nổ ra tại một căn cứ quân sự của Việt Nam tại điểm cao 1509 và điểm cao 1250, hai cao điểm này nằm dọc theo biên giới Việt Trung mà phía Trung cộng gọi là Lão Sơn và Giả Âm Sơn. Để chiếm được 2 cao điểm này Giải phóng quân Trung cộng đã tạo ra một cuộc xung đột võ trang với quy mô lớn. Lịch sử quân sự Trung cộng gọi cuộc chiến chiếm 2 điểm cao này là Chiến dịch Lưỡng Sơn.

Trận chiến Lão Sơn bắt đầu vào ngày 2 tháng năm 1984 khởi màn bằng trận tấn công tổng lực bằng pháo binh vào căn cứ quân sự của quân đội Việt Nam.

Cuộc giao tranh quân sự giữa quân đội 2 nước Việt Nam và Trung cộng chia thành 3 giai đoạn.

. Giai đoạn 1: Từ ngày 2 tháng 4 đến ngày 15 tháng 4 năm 1984

. Giai đoạn 2: Từ ngày 2 tháng 6 đến ngày 10 tháng 7 năm 1984

. Giai đoạn 3: Từ ngày 12 tháng 7 đến ngày 14 tháng 7 năm 1984

Trận chiến kết thúc vào ngày 14 tháng 7 năm 1984 bằng một trận đánh cảm tử xáp lá cà (bạch binh chiến) của các binh sĩ Việt Nam. Phía Trung Quốc đã phản công bằng pháo binh và hỏa lực mạnh để tử thủ Lão Sơn. Sau trận chiến này, với số thương vong quá lớn, quân đội VN đã hoàn toàn bỏ cuộc. Lãnh thổ Việt Nam đã mất vùng Núi Đất (Lão Sơn) vào tay Trung cộng kể từ đó.

Sau hiệp định hoạch định biên giới Việt Trung thì 2 vùng núi này chính thức trở thành lãnh thổ của Trung cộng.

1/ Tương quan lực lượng tham chiến

. Phía Tầu Cộng:

Tướng chỉ huy: Dương Đắc Chí

Chiến lực: Quân đoàn 14, Quân đoàn 11,Quân đoàn 1, Tập đoàn quân 67, Tập đoàn quân 27, Tập đoàn quân 13.

Số binh sĩ thương vong: Bất minh (có nguồn thông tin cho biết khoảng 939 binh sĩ tử trận).

. Phía Việt Nam:

Tướng Chỉ huy: Tướng Văn Tiến Dũng

Lực lượng tham chiến: Sư đoàn 313, Sư đoàn 316, Sư đoàn 356 chính quy, địa phương quân và dân binh.

Số binh sĩ thương vong: Bất minh (theo nguồn tin Trung cộng thì có 3700 binh sĩ Việt Nam tử trận còn lại trên chiến trường). Dự đoán binh sĩ tử trận khoảng 4000 binh sĩ.

Theo nguồn tin của phóng viên chiến trường của NHK được biết chính xác là: Trung đoàn 174 thuộc Sư đoàn 316 VN sau 10 giờ giao tranh với Sư đoàn 119 của Trung cộng tại điểm cao 142, 149 thuộc khu vực Na Lập vào ngày 12 tháng 7 năm 1984, phía VN bị tử thương 300 binh sĩ tại mặt trận.

2/ Quá trình đưa đến sự giao tranh

Trong suốt thời gian trước hoạch định biên giới Việt Trung thì Lão Sơn và Giả Âm Sơn được công nhận là lãnh thổ của Việt Nam. Lão Sơn với cao độ 1422,2 m so với mặt biển là một vị trí chiến lược quan trọng trong phối trí quân lực trong suốt lịch sử vệ quốc của người Việt Nam. Từ đây có thể giám sát con đường huyết mạch nối từ Hà Giang của Việt Nam sang Tầu.

Năm 1979 trên đường tiến quân sang đánh Việt Nam, Tướng Dương Đắc Chí – Tư lệnh quân khu Côn Minh đã chiếm vùng này. Sự tiến quân quá nhanh của Trung cộng vào Việt Nam đã khiến Tướng Dương Đắc Chí khinh địch và đánh giá thấp Tướng Võ Nguyên Giáp – một thiên tài quân sự của Việt Nam.

Trong một công điện báo công với Đặng Tiểu Bình, sau khi xâm nhập vào Việt Nam mà không bị tổn thất nhiều, Tướng Dương Đắc Chí đã xin phép cho thêm một tuần nữa để tiến quân đến Hà Nội, bắt sống toàn bộ Ban lãnh đạo Việt Nam. Phía Việt Nam, Tướng Võ Nguyên Giáp đã áp dụng nhuần nhuyễn chiến thuật: dụ địch vào sâu nội địa; cắt đứt quân viện hậu cần; tổng phản công… một chiến thuật trong kinh nghiệm vệ quốc hàng ngàn năm qua của người Việt Nam đối với Trung cộng.

Tướng Võ Nguyên Giáp với các lực lượng khinh binh và địa phương quân đã phá hủy toàn bộ các tuyến quân viện hậu cần của Tướng Dương Đắc Chí; hành động quân sự này khiến trên 500 chiến xa của Giải phóng quân Trung cộng dưới quyền của Tướng Dương Đắc Chí trở thành những cục sắt chết không hoạt động được trên chiến trường vì thiếu nhiên liệu và trở thành các điểm tác xạ của Địa phương quân VN.

Trước tình thế tan rã toàn bộ các quân đoàn tiến chiếm Việt Nam, Tướng Dương Đắc Chí buộc phải cấp tốc xin lệnh rút binh về nước. Trên đường rút binh của Tướng Dương Đắc Chí, quân đội Tầu cộng đã bị tổn thất nặng nề bởi sự truy kích bằng pháo binh của quân đội Việt Nam từ điểm cao 1509 này.

Có một kỳ tích về hành quân mà đến thời điểm này, các nhà phân tích về chiến lược quân sự cũng không hiểu bằng cách nào, chỉ trong vòng một thời gian ngắn chưa đầy một ngày, Tướng Võ Nguyên Giáp của Việt Nam có thể phối trí một lực lượng pháo binh mạnh tại Cao điểm 1509, một căn cứ có địa hình hiểm trở để có thể truy kích tận diệt các binh đoàn của Tầu cộng trên đường rút chạy khỏi VN. Mặc dầu Đặng Tiểu Bình tuyên bố đã dạy xong cho VN một bài học, nhưng trên thực tế thì có thể nói rằng gần như toàn bộ các quân đoàn của Quân khu Côn Minh dưới quyền Tướng Dương Đắc Chí đã hoàn toàn bị xóa sổ.

Từ sau bài học về sự đại bại chiến dịch quân sự đầu năm 1979, Đặng Tiểu Bình đã phải đi đến quyết định cải cách lại quân đội theo hướng hiện đại hóa. Tướng Dương Đắc Chí được sự ủng hộ của Đặng Tiểu Bình đã nắm chức Tổng Tham mưu trưởng kiêm Ủy viên Quân ủy Trung ương. Để phục hận về trận đại bại 5 năm về trước, để có thể kiểm soát không phận và uy hiếp tỉnh Hà Giang, cũng như làm bàn đạp để tấn công bình định Việt Nam trong tương lai, đồng thời nhằm khôi phục lại uy tín của quân đội đã xuống đến tận đáy, Tướng Dương Đắc Chí đã lên kế hoạch chiếm lĩnh hai điểm cao của vùng núi Lưỡng Sơn này.

3)  Quá trình giao tranh

Ngày 2 tháng 4 năm 1984 quân đội Tầu cộng bắt đầu pháo kích đại quy mô vào điểm cao 1509 của Việt Nam mở đầu cho trận giao tranh. Cuộc pháo kích kéo dài 26 ngày cho đến ngày 27 tháng 4 năm 1984.

Ngày 28 tháng 4, qua thông tin tình báo biết được phía VN đang chuẩn bị thay quân tại điểm cao này. Vào lúc quân số của phía VN đồn trú ít nhất ở căn cứ 1509, Tướng Dương Đắc Chí đã ra lệnh cho Sư đoàn 40 và Sư đoàn 49 thuộc Quân đoàn 14 Quân khu Côn Minh bắt đầu tấn công căn cứ hiểm yếu này. Mặc dầu với số quân áp đảo là hai Sư đoàn, nhưng trước sự thiện chiến và quả cảm của lực lượng nhỏ quân đội Việt Nam đóng tại đó, phía Tầu cộng đã chịu nhiều tổn thất nặng nề. Phải sau 18 ngày chiến đấu, quân đội Trung Quốc mới chiếm lĩnh được một phần của Lão Sơn và Giả Âm Sơn vào ngày 15 tháng 5 năm 1984.

Ngày 12 tháng 6 đến ngày 7 tháng 10 năm 1984 được xem là giai đoạn giao tranh thứ 2, quân đội VN đã cố gắng tổ chức tái chiếm lại Lão Sơn, trong giai đoạn giao tranh này, thương vong phía Việt Nam không xác định được, nhưng phía Tầu cộng thì 2 đại đội có nhiệm vụ tử thủ căn cứ này đã hoàn toàn bị tiêu diệt. Phía Việt Nam tạm thời chiếm lại Lão Sơn.

Rút kinh nghiệm từ lần giao tranh này, Tướng Dương Đắc Chí đã cho sử dụng hỏa tiễn liên trang để đối kháng và sau đó dùng bộ binh tái chiếm căn cứ. Đối lại quân đội VN dùng súng cối và vũ khí hạng nhẹ, lưỡi lê với cách đánh cận chiến cảm tử bám sát vào quân đội Tầu cộng để đánh nhằm giảm nguy cơ thương vong vì hỏa tiễn đã gây thương vong khủng khiếp cho cả lực lượng hai bên. Tuy nhiên trước sự áp đảo về lực lượng và vũ khí của Tầu cộng , phía Việt Nam đã chịu thất bại trong nỗ lực phòng thủ căn cứ. Sau trận giao tranh này Tầu cộng chiếm được cao điểm 1509.

4/ Giai đoạn 3 của cuộc giao tranh

Bắt đầu từ ngày 12 tháng 7 đến ngày 14 tháng 7. Được thông tin tình báo chính xác từ một sĩ quan cao cấp nằm vùng trong Cục quân báo Việt Nam, Tướng Dương Đắc Chí đã nắm rõ toàn bộ kế hoạch hành quân tái chiếm căn cứ của VN. Bằng cách bố trí pháo binh mạnh và hỏa tiễn đa liên tranh tập trung vào các điểm quân đội Việt sẽ tập kết bên mạn sườn núi ở cao độ 500 và 800, quân đội Tầu cộng chỉ còn chờ đợi quân đội Việt Nam bước vào cửa tử bằng trận địa bao vây bằng hỏa tiễn và pháo.

Phía Việt Nam lần này với sự trợ giúp của các cố vấn quân sự Liên Xô và trực tiếp Tướng Văn Tiến Dũng chỉ huy, lực lượng tấn công đã tổ chức nghi binh nhằm đánh lạc hướng theo dõi của tình báo Tầu cộng bằng cách: chọn ra 6 Trung đoàn từ các Sư đoàn 313, Sư đoàn 316, Sư đoàn 356.

Lính Tàu cộng đứng cạnh những chiến sĩ Việt Nam đã anh dũng hy sinh vì đất nước

Kế hoạch hành quân nhằm chiếm lại Cao điểm 1509 có mật danh là “MB84, thu hồi lãnh thổ” đã được vạch công phu. Tuy nhiên, cả Tướng Văn Tiến Dũng và các cố vấn quân sự Liên Xô cũng không ngờ là họ đã bị bán đứng bởi một sĩ quan cao cấp phản bội?

Ngày 12 tháng 7 năm 1984, sáu Trung đoàn quân Việt Nam lần lượt tập kết vào các địa điểm đã được Tướng Dương Đắc Chí đợi sẵn ở cao độ 500 và 800 bên dưới cao điểm 1509.

5 giờ sáng giờ Việt Nam ngày 12 tháng 7, quân đội VN bắt đầu men theo triền núi để tổng công kích và trận pháo kích bao vây tận diệt của Tướng Dương Đắc Chí cũng bắt đầu. Sau 17 tiếng đồng hồ pháo kích tập trung vào các điểm đã biết trước dựa theo kế hoạch hành quân mang tên MB84 của Việt Nam, Tướng Dương Đắc Chí hoàn toàn đại thắng. Quân đội VN buộc phải rút lui với số liệu thương vong do phía Tầu cộng công bố: khoảng 3700 thi thể binh sĩ Việt Nam đã bị bỏ lại trên đỉnh Lão Sơn…

5/ Ảnh hưởng về mặt quân sự

Trận chiến Lão Sơn là một trận chiến kinh điển trong các trận chiến hạn định phi quy ước. Chiến thắng của phía Tầu cộng có thể kể công đầu là chiến thắng của mạng lưới tình báo Hoa Nam; lực lượng tình báo Hoa Nam đã cài cắm được điệp viên vào hàng ngũ sĩ quan cao cấp của Việt Nam. Nếu không có thông tin tình báo từ Việt Nam, cục diện trận chiến Lão Sơn có khả năng sẽ đi theo một hướng khác. Chắc chắn số thương vong khủng khiếp sẽ đến với các Sư đoàn 40 và 49 của quân đội Tầu cộng bởi lối đánh cảm tử và thiện chiến của binh sĩ Việt Nam.

Trận chiến Lão Sơn đã làm thay đổi toàn bộ chiến thuật tấn công của quân đội Tầu cộng theo hướng hiện đại hóa. Trong giai đoạn 3 của cuộc giao tranh có thể nói đây là một sự tái diễn lại cách đánh giữa quân đội Bắc Việt Nam với chiến thuật biển người, cận chiến với quân đội Mỹ; kết hợp với chiến thuật tập trung pháo binh nhằm giảm thương vong cho binh sĩ xung kích trong thời gian chiến tranh Việt Nam.

Từ chỗ tấn công theo chiến thuật biển người là chiến thuật quân sự cổ điển của Tầu cộng với Việt Nam; Tướng Dương Đắc Chí đã thành công trong việc mạo hiểm ứng dụng chiến thuật tấn công và phòng vệ tập trung bằng pháo binh, kết hợp với thông tin tình báo theo phong cách tác chiến hiện đại của Mỹ.

Từ trận đánh này cũng lộ rõ một điểm yếu của quân đội Trung Quốc, đó là công tác hậu cần, vận tải của quân đội, không có khả năng không vận để phục vụ cho việc tác chiến. Ví dụ để phục vụ cho cuộc chiến họ phải huy động cả xe của dân sự để tải đạn dược và thương binh.

Về phía quân đội Việt Nam, mặc dầu địa hình bất lợi nhưng với quyết tâm thu hồi lãnh thổ đã chọn chiến thuật tấn công bằng biển người. Với sĩ khí của quân đội Việt Nam lúc đó, khả năng thu hồi lại lãnh thổ trong trận chiến này rất cao nhưng đồng nghĩa với việc chấp nhận hàng ngàn binh sĩ phải hy sinh.

Có thể coi đây là một chiến thuật hạ sách khi mà Tướng Văn Tiến Dũng không còn con đường để chọn lựa. Tuy nhiên thất bại về phản gián của Việt Nam trong cuộc chiến này đã khiến Việt Nam phải chấp nhận thất bại với gần 4000 binh sĩ thương vong (theo số liệu phía Tầu cộng đưa ra). Đây là một bài học quan trọng trong công tác bảo mật mà các sĩ quan trẻ trong tương lai phải luôn tâm niệm trong quá trình cầm binh tác chiến. Một sơ sót của người chỉ huy sẽ phải đổi bằng máu xương của hàng ngàn binh sĩ trên mặt trận và mất đi lãnh thổ.

Cựu chiến binh Tầu cộng tham dự trận đánh Núi Lão Sơn (đỉnh núi 1509) chụp hình lưu niệm trên đỉnh Núi Lão Sơn… nay thuộc về họ.

Về mặt ảnh hưởng quân sự thì, chiến thắng Lão Sơn đã nâng cao sĩ khí cho quân đội Tầu cộng, tạo cơ hội cho quân đội Tầu cộng chuyển mình từ một quân đội lạc hậu sang một đội quân hiện đại với kỹ thuật tác chiến hiện đại thay cho chiến thuật biển người cố hữu. Đây là đà tiến để giới quân sự Tầu cộng tạo ảnh hưởng lên giới chính trị để hiện đại hóa quân đội. Với việc chiếm lĩnh Lão Sơn và Giả Âm Sơn, việc đặt 2 căn cứ tại đó, Tầu cộng đã có khả năng kiểm soát và khống chế về mặt quân sự trên toàn bộ miền Bắc Việt Nam.

Trong một số lần hiếm hoi, các đài duyên hải của lực lượng Hải thượng Tự vệ đội Nhật Bản dọc theo quần đảo Okinawa, đã phát hiện bắt được các làn sóng phát theo hình thức nhiễu loạn số từ đài phát vô tuyến có tọa độ xác định đặt trên đỉnh Lão Sơn.

Theo đánh giá của các chuyên gia quân sự, nếu xảy ra một trận chiến phi quy ước giữa Việt Nam và Tầu cộng một lần nữa, thì với hệ thống rada và đài phá sóng vô tuyến mạnh như vậy của Tầu cộng ở căn cứ Lão Sơn, khả năng toàn bộ hệ thống thông tin của lực lượng phòng không không quân tại miền Bắc của Việt Nam kể cả hệ thống thông tin của Hàng không dân dụng sẽ bị tê liệt ngay tức khắc; nếu bị quân đội Tầu cộng tiến hành gây nhiễu từ cụm đài của căn cứ này. Chưa kể đến lợi thế về mặt tác chiến pháo binh cũng như hỏa tiễn tầm xa, với vị trí Lão Sơn có khả năng khống chế quân đội Việt Nam trên một phần vùng miền Bắc Việt Nam trong một cuộc chiến hạn định từ căn cứ quân sự lớn này.

Về phía Việt Nam, trận chiến này đã khiến cho uy tín một số tướng lãnh quân đội với nhiều công trạng trong cuộc chiến Việt Nam bị suy sụp, thất sủng. Nhiều tướng lãnh kinh nghiệm dày dạn chiến trường bị thay thế bởi thế hệ tướng lĩnh trẻ chưa có kinh nghiệm tác chiến trên những mặt trận lớn.

Một mất mát lớn khác đối với quân đội VN trong thời kỳ này đó là: sự thất sủng của Tướng Võ Nguyên Giáp trước Ban lãnh đạo Chính phủ Việt Nam khi ông đưa ra yêu cầu giải quyết “Bài toán nước lớn”. Tướng Võ Nguyên Giáp chủ trương mở một nền ngoại giao đa phương với phương Tây kể cả cựu thù là Mỹ và các nước xung quanh, cùng với việc dùng lực lượng quân chính quy Việt Nam tại Lào đánh quy hồi từ Lào sang Campuchia, giải phóng Campuchia xong thì rút hết quân về nước, giao lại Campuchia cho Liên hợp quốc để giảm bớt sự hy sinh của binh sĩ và ngân sách quốc gia. Tìm cách phá mở thế bao vây từ kinh tế cho đến quân sự bởi các nước xung quanh.

Chủ trương này của Tướng Võ Nguyên Giáp đã không được Ban lãnh đạo Chính phủ Việt Nam đương thời đồng ý. Sự thất sủng của một nhà chiến lược quân sự vĩ đại đã khiến giới quân đội của Việt Nam dần dần bị xem nhẹ, đồng thời thế lực thân Tầu cộng trong giới chính trị gia Việt Nam có cơ hội quật khởi trở lại.

Sau cái chết của Phạm Hùng – người được cho là kiên trì đường lối chống Tầu cộng, bị chết một cách mờ ám tại thành phố Hồ Chí Minh, có ý kiến nghi vấn có bàn tay của lực lượng tình báo Hoa Nam, chính sách của lãnh đạo Việt Nam đã bắt đầu thay đổi…

Các chính sách về công tác tuyên truyền chống Trung Quốc cũng dần dần bị loại bỏ từ dân chúng cho đến quân đội. Cùng với chính sách đổi mới, quân đội Việt Nam đã thiên về làm kinh tế hơn đặt nặng trọng tâm quốc phòng. Sau thất bại ở cuộc hải chiến Nam Sa (Trường Sa) vào tháng 3 năm 1989 thì có thể nói là quân đội Việt Nam đã đánh mất vị thế của mình ở Á Châu, Việt Nam đã bị các chuyên gia quân sự đánh giá không còn là một đội quân mạnh và thiện chiến nhất trong vùng Đông Nam Á nữa.

clip_image003[1]clip_image007
Một góc nghĩa trang liệt sĩ tại Hà Giang trong cuộc chiến tranh biên giới 1984 -1985.
Hình phía trên: Giấy báo tử của Trung Đội Trưởng Phạm Hữu Tạo, em của nhà văn Phạm Viết Đào mất tích trong trận đánh này.

6) Ảnh hưởng về mặt chính trị

Đối với Tầu cộng: Chiến thắng của trận chiến Lão Sơn trùng khớp với thời kỳ sĩ khí đang hồi phục lại ở Tầu cộng nhờ vào hiệu quả của chính sách cải cách, khai phóng. Kết quả trận chiến đã chấp cánh, tăng thêm uy tín cho Đặng Tiểu Bình trong việc chỉ đạo thể chế cầm quyền của Tầu cộng.

Hệ thống thông tin của Tầu cộng có thể nói đã tuyên truyền hết công suất về tin thắng lợi của quân đội Tầu cộng trong trận chiến Lưỡng Sơn này. Báo chí Tầu cộng đã lợi dụng trận thắng này để phát dương quốc uy và ca ngợi công đức chỉ đạo của Đặng Tiểu Bình. Việc tuyên truyền này khiến cho dân chúng Tầu phần nhiều đều chỉ biết đến Chiến tranh biên giới Việt – Trung qua chiến thắng Lão Sơn năm 1984 chứ không phải trận đại bại năm 1979.

Đối với Việt Nam: trận chiến Lưỡng Sơn đã khiến phía Việt Nam tái nhận thức về kẻ thù truyền kiếp của họ chính là Tầu cộng, tâm lý phục thù của người Việt đã trỗi dậy.

Cùng với sự sa lầy của quân đội Việt Nam tại chiến trường Campuchia đã gây tổn thất lớn về nhân mạng binh sĩ, sự gia tăng của thương phế binh, sự bao vây cấm vận kinh tế của thế giới, sự kiệt quệ về kinh tế đã khiến sĩ khí của quân đội Việt Nam suy giảm.

7/ Mối bang giao cải thiện quan hệ Trung – Việt

Tháng 3 năm 1988 Thủ tướng Phạm Hùng của Việt Nam đột tử. Ông được xem là người cuối cùng trong ban lãnh đạo của Việt Nam theo đường lối cứng rắn chống Trung Quốc. Ông là một trong những người đã đồng ý đưa quân sang tiến chiếm Campuchia bất chấp sự phản đối của nhà chiến lược quân sự, Tướng Võ Nguyên Giáp. Đồng năm đó quân đội Liên Xô cũng đại bại phải rút lui khỏi chiến trường Afghanistan.

Cùng với chính sách cải cách khai phóng thành công của Đặng Tiểu Bình, Tầu cộng đã tạo mối bang giao thân mật với Mỹ và Nhật Bản; chính sách này đã khiến cho quốc lực của Tầu cộng nhanh chóng hồi phục. Ngược lại mối quan hệ đồng minh của Việt Nam và Liên Xô bởi phái thân Liên Xô là Lê Duẩn ngày càng suy giảm khiến cho Chính phủ Việt Nam chuyển đổi chính sách sang cải thiện quan hệ với Tầu cộng.

Sau 10 năm xảy ra giao tranh, vào ngày Tết âm lịch năm 1989, Việt Nam và Tầu cộng đột ngột mở cửa lại giao dịch ở vùng biên giới. Quan hệ Trung – Việt cấp tốc hồi phục. Sau đó Trung Quốc lần lượt triệt thoái các lực lượng quân sự lớn đóng ở Lão Sơn và Giả Âm Sơn.

Tháng 5 năm 1989 thì toàn bộ quân chính quy của Tầu cộng hoàn tất việc rút ra khỏi vùng Lưỡng Sơn này chỉ để lại một bộ phận nhỏ các Tiểu đoàn công binh và địa phương quân, dân binh để xây dựng căn cứ.

Lê Công Phụng Thứ Trưởng Ngoại Giao VN trả lời phóng viên VASC Orient đã xác nhận “Mục Nam Quan nay thuộc về Tầu cộng”. Đây là sau chiến tranh 10 năm,  ....., tại sao lần này người Tàu chiếm đoạt lãnh thổ Việt Nam ta mà không nghe một tiếng súng nổ ???

(Hình  trái, Ải Nam Quan trước khi ký hiệp định biên giới 12/1999. Hình phải, sau khi ký biên giới Việt Nam là Mục Nam Quan từ cây số Zero)


Xung đột võ trang biên giới Việt –Trung xảy ra lần cuối cùng vào năm 1989 khi Tầu cộng cho xây dựng các đài ra đa dọc theo các điểm cao mà họ đã chiếm được sau các lần xung đột. Một số lượng lớn công nhân xây dựng người Tầu đã xâm nhập xây dựng nhà cửa, lán trại bất hợp pháp trên phía lãnh thổ Việt Nam. Xung đột đã nổ ra khi lực lượng cảnh sát đương cục của Việt Nam đã tìm cách bài trừ, đuổi họ ra khỏi Việt Nam. Trong lần này quân đội hai nước không có nổ súng và sự kiện kết thúc khi phía Tầu cộng chịu đưa toàn bộ số công nhân đó về nước. Có thể coi sự kiện cuối cùng đó là bài thuốc thử của Tầu cộng đối với sự chân thành cải thiện bang giao của phía Việt Nam.


Tài liệu nghiên cứu giảng dạy dành cho sinh viên sĩ quan của Tự vệ đội, Cục Phòng vệ Nhật Bản – Đại học Phòng vệ.


Ghi chú: cho đến nay không thấy ông Nakamura Masanori , tác giả bài viết này và cả hai Việt Nam cũng như Tầu cộng tiết lộ tên người sĩ quan Việt Nam trong Cục Quân Báo Việt Nam nhưng nằm vùng hoạt động cho mạng lưới tình báo Hoa Nam của Tầu cộng này.
____________________________________________________

NAKAMURA MASANORI

Cựu Tùy viên quân sự Đại sứ quán Nhật ở VN
dưới quyền của Đại sứ Tsutsumi Koichi, Đại sứ Matano Kachigeaka, Đại sứ Asomura Kuniaki.
© Tác giả giữ bản quyền.
. Cập nhật theo nguyên bản tài liệu của tác giả ngày 29.10.2012.