TỪ TU THIỀN ĐẾN TU PHẬT





Kỳ Thứ 12

CÔNG ÁN THỨ BA MƯƠI HAI

NGOẠI ĐẠO HỎI PHẬT

*Công Án:

Một kẻ ngoại đạo bạch Phật:

- Không hỏi lẽ hữu ngôn, không hỏi lẽ vô ngôn.

Phật ngồi toà.

Kẻ ngoại đạo tán thán:

- Đức Thế Tôn đại từ bi, vén lớp mây mờ khiến tôi vào được.

Rồi bái lạy mà đi.

Ngài A Nan bèn bạch Phật:

- Kẻ ngoại đạo chứng được điều gì mà tán thán rồi đi vậy?

Phật dạy:

- Như ngựa hay trên đời, nhìn bóng roi mà chạy.

Lời giải:

Thời Phật giảng pháp, có rất nhiều ngoại đạo đến chất vấn, bắt bẻ, nhưng Phật đều trả lời thông suốt, thu phục được họ. Và dù họ là ngoại đạo, nhưng chấp nhận được những lý lẽ đúng của Phật, và trí huệ của Phật đủ để trả lời, dù cho họ có vấn nạn đến đâu. Chính vì thế mà Kinh dạy: “Một trong những điều khó được là sinh cùng thời với Phật ra đời”, để được nghe chính Ngài giảng dạy! Phàm phu chúng ta bị các pháp quật cho tơi tả còn chưa chịu hồi đầu. Ngoại đạo kia, chỉ cần Phật khẽ nhắc đã thấu đáo, đã hiểu ra.

“Ngồi Tòa Sen” tượng trưng cho đã được giải thoát. Cái giải thoát đâu cần biện bạch, nói năng. Do đó, không cần lời nói.

Tu hành là để đạt được cái Sự thực chứng, đâu phải để lý giải suông, nên hữu ngôn, vô ngôn đều không quan trọng. Ngoại đạo đã hiểu được lẽ này nên Phật khen là " như ngựa hay trên đời, nhìn bóng roi mà chạy".

CÔNG ÁN THỨ BA MƯƠI BA

CHẲNG TÂM CHẲNG PHẬT

*Công Án:

Một ông Tăng hỏi Ngài Mã Tổ:

- Phật là gì?

Sư đáp:

- Chẳng Tâm, chẳng Phật.

Lời giải:

Khi mới vào tu hành, người tu được dạy cho QUAY VÔ để tìm Phật nơi Tâm của mình. Tâm của mình chính là Phật, nên gọi là "TỨC TÂM TỨC PHẬT". Việc tu hành là để XẢ CÁI CHẤP MÌNH, cho nên khi tu xong rồi thì KHÔNG CÒN CÓ MÌNH. KHÔNG CÓ MÌNH THÌ CŨNG CHẲNG CÓ TÂM, nên gọi là CHẲNG PHẢI TÂM, CHẲNG PHẢI PHẬT.

Vì người tu hành từ xưa, cho tới thời này vẫn nghĩ rằng Phật là Ông Phật, với «32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp, ở Tây Phương Cực Lạc hoặc Đông Phương Tịnh Quốc», nên khi nghe nói rằng: "Tức Tâm Tức Phật", hay "Không Tâm, Không Phật" thì thấy có vẻ khó hiểu, cho rằng Chư Tổ nói lúc vầy lúc khác, không thể hiểu nổi!

Tình trạng Giải Thoát là ở trong Tâm của mỗi người. Từ lúc mới Phát Tâm cho tới lúc thành tựu đều chứng ở nơi Tâm nên gọi là " Tâm tức là Phật ". Đến khi hoàn tất việc tu hành, Xả hết mọi cái Chấp để Chứng cái Giải Thoát thì cả cái Tâm lẫn cái Phật cũng không còn nữa, mà rỗng rang như hư không, nên gọi là: "Không phải Tâm, không phải Phật". Do đó, người tu nếu đến một giai đoạn nào đó thấy mình Thành Phật thì cẩn thận. Đó là cái Ngã tu hành, còn nguy hiểm và khó trừ hơn cái Ngã phàm phu nữa vậy.

CÔNG ÁN THỨ BA MƯƠI BỐN

TRÍ CHẲNG PHẢI ĐẠO

*Công Án:

Ngài Nam Tuyền nói:

- Tâm chẳng phải Phật, Trí chẳng phải đạo.

Lời giải:

Đầu tiên, cái Tâm chấp nhất gọi là cái Phàm Tâm. Tu hành, công phu, xả chấp thì được cái Tâm Giải Thoát hay gọi là Tâm Phật.

Trên con đường tu hành, mọi người đều phải khai mở cái Trí để dùng đó làm đuốc soi đường để tiến bước trên con đường Đạo. Dù vậy, cái trí của mỗi cá nhân chẳng phải là cái đạo, mà trí này nên song hành cùng Phật trí, phải phù hợp với Phật trí, với con đường của Chư Phật, Chư Tổ đã đặt ra, theo đó mà hiểu biết, mà hành dụng, để nó trở thành Diệu Quan Sát Trí của Đạo.

Chỉ có thể dùng Trí như đèn soi để thấy lối mà đi, không thể dùng Trí như một sự hiểu biết rồi chấp lấy hiểu biết này, tưởng đó là chứng đắc.

Công Án này có thể hiểu là để cho người tu không còn Chấp và sự chứng đắc. Tu Tâm, rồi Xả cái Tâm đi, không thấy là Mình chứng đắc. Dùng cái Trí để làm ánh sáng hướng dẫn cho con đường tu hành, nhưng Trí đó bản thân nó không phải là con đường.

CÔNG ÁN THỨ BA MƯƠI LĂM

CÔ THANH LÌA HỒN

*Công Án:

Ngài Ngũ Tổ hỏi một ông Tăng:

- Cô Thanh lìa hồn, cô nào là thật?

Lời giải:

Ngũ Tổ này cũng nên nói lại cho rõ không phải là Thầy của Lục Tổ, mà là mộtnhân vật thuộc dòng Lâm Tế, giỏi về Duy Thức, trụ trì ở nhiều chùa, sau đến trụ trì ởchùa Hoàng Mai nơi ngày xưa Ngũ Tổ thật đã giảng dạy, nên có lẽ học trò muốn tôn xưng mà gọi là Ngũ Tổ.

Cô Thanh là một nhân vật truyền kỳ, xuất hồn đi sống với người yêu, cái xác nằm đó, sau đó mới về nhập lại. Câu chuyện cho thấy phần thân và Tâm tách biệt nhau như trong lúc Ngồi Thiền, hay xuất hồn đều có hiện tượng tương tự.

Nếu không quan sát, con người sẽ không thắc mắc, vì thấy chuyện nói năng, tay đưa, chân bước là chuyện hết sức bình thường. Nhưng khi vào tu theo Đạo Phật, tập quan sát để tìm thủ phạm của mọi hành vi, người tu sẽ thấy rằng có bộ phận chỉ huy nằm ở trong bộ óc. Bộ phận này Phật gọi đó là TÂM. Từ Tâm này sinh ra vô số Ý, những cái Ý trực tiếp điều động cái Thân.

Chính vì vậy mà khi tu hành Đạo Phật dạy "Điều Tâm", không dạy "Điều Thân", vì thân chẳng qua là thuộc hạ vòng ngoài, chỉ là tai sai mà thôi. Cái Thân chỉ là một tập hợp của Tứ Đại có kỳ hạn không quá trăm năm sẽ trở về cùng cát bụi. Sinh tử Luân Hồi hay không do cái Tâm này, cho nên phải thấy, phải tu ở đây thì mới Thoát Sinh Tử Luân Hồi được.

Ngũ Tổ này cũng phân tích ra được cái Thân và Cái Tâm. Nhưng chưa hiểu được rằng nếu không tu hành để được Giải Thoát khi đang còn trong cái Thân, thì lúc chết, lìa cái Thân thì cái Tâm Mê vẫn hoàn Mê. Không phải chết đi, rời cái Thân ra là đã Giác Ngộ! Chính vì vậy, Phật dạy người tu đối với cái Thân như người bị chìm ở giữa biển, ôm lấy thây ma để lội vô bờ. Đó là cái khác nhau giữa những người phàm phu bám lấy cái Thân, vì nó mà tạo bao nhiêu nghiệp. Và người tu hành, nhờ cái Thân mà hành trì đạt đến kết quả Giải Thoát vậy.

Chỉ việc Phong Ngũ Tổ này thôi đủ để chứng tỏ phái Thiền Tông coi lịch sử truyền thừa của Đạo Phật chẳng ra chi! 33 vị Tổ chính thức được truyền Y Bát, để người sau biết đó là những vị đắc pháp, được quyền thay Tổ trước để hướng dẫn đạo, có thứ tự trước, sau. Tự nhiên phong một Thiền Sư hậu bối lên thay Ngũ Tổ là người chính thức được Truyền Y, BÁT. Đó là Đại Vọng Ngữ. Người được phong mà nhận chức đó cũng là người Vọng Hành. Vì người hậu học quyền gì để phong chức Tổ? Mình tu hành đạo, hạnh cỡ nào mà dám chiếm ngôi vị của Tổ xưa, làm cho người sau hiểu lầm đó là Thầy của Lục Tổ?

CÔNG ÁN THỨ BA MƯƠI SÁU

GẶP NGƯỜI ĐẮC ĐẠO

*Công Án:

Ngài Ngũ Tổ nói:

- Giữa đường gặp người đắc đạo, chớ nói hay im mà đối đãi. Thử hỏi đối đãi ra sao?

Lời giải:

Người đắc đạo là bậc đáng kính như Kinh Diệu Pháp Liên Hoa viết: "Nếu thấy ở đâu phải cung kính như thấy Phật", vì đó là những bậc đã tu hành, sạch Ba Nghiệp, trong họ có Phật ở chung, "Phật ở trong đó kinh hành và ngồi nằm", " được Phật dùng vai mang vác ". Có nghĩa là người đó cũng đã là Phật.

Vậy mà khi gặp giữa đường, thay vì cung kính. Nếu cần thì lễ lạy, thì Ngài Vô Môn đã viết Kệ tụng, dạy người sau: "Thẳng mặt tống liền cho một đấm". Hẳn Ý Ngài muốn nói là "Phùng Phật Sát Phật", không ngờ lộ ra ý ngạo mạn, ngông cuồng của chính Ngài!

Người đã được Đạo thì bao giờ cũng khiêm tốn, khoan hoà, không tranh phải quấy, hơn thua vậy mà coi bộ cũng không yên thân nếu gặp phải Ngài Vô Môn và những đệ tử của Ngài ! Có lẽ Ngài Vô Môn cần tu Hạnh Thường Bất Khinh Bồ Tát để khỏi lố bịch vì tưởng mình đã Thành Phật, nên gặp Phật khác phải Sát, phải đánh, vì hiểu lầm lời Phật dạy: "Vô Sát bất hiện thân"!

Kết luận: Ngài Vô Môn quên nhìn vô để nghĩ tới trường hợp chính mình: Nếu chẳng may được người khác đánh giá là người đắc đạo, rồi cả đám bất chợt gặp Ngài giữa đường và áp dụng ngay bài Kệ của Ngài. Không giết thì cũng "thẳng tay đấm vào mặt". Lúc đó Ngài sẽ nghĩ gì nhỉ?

... CÒN TIẾP ...






© Tác giả giữ bản quyền.
. Đăng ngày 20.09.2012 theo nguyên bản của tác giả từ SàiGòn.
. TRÍCH ĐĂNG LẠI VUI LÒNG GHI RÕ NGUỒN NEWVIETART.COM .