BÀI VĂN BIA
Ở LĂNG ĐỨC CHA CẢ BÁ ĐA LỘC

 

Lm. Giuse
NGUYỄN HỮU TRIẾT


Tháng 8/2009 vừa rồi, giáo sư Nguyễn Văn Sâm [1] có ghé lại thăm chúng tôi ở Giáo xứ Tân Sa Châu Tp Hồ Chí Minh, và cho xem tập sách chữ Hán chép tay do người bạn cũ ở Phan Thiết đem tặng. Nội dung gồm Quế Sơn Thi Tập chữ Hán của Nguyễn Khuyến, có bài văn điếu cụ nghè Dương Khuê (Hán và Nôm), một tài liệu hiện cũng khó kiếm. Đặc biệt, cuối tập có phụ lục bài chí ở lăng Đức Cha Bá Đa Lộc, do Đốc học Nguyễn Gia Cát soạn và Hữu tham tri bộ binh Lê Quang Định viết chữ, dựng bia vào tháng 8 năm Canh Thân 1800.

Lâu nay, các sách sử Công giáo [2] có in bản dịch bài này, nhưng còn sai sót, đôi chỗ thêm thắt thiếu chính xác, có lẽ vì thiếu nguyên văn. Nhận thấy đây là một sử liệu cần thiết để đính chính lại, Lm Giuse Nguyễn Hữu Triết đã thương lượng bằng cách trao đổi với giáo sư một số sách cổ thuộc dòng văn học kháng chiến miền Nam để giữ lại tập này. Chúng tôi đem phiên dịch và viết phần giới thiệu ngắn gọn về tiểu sử, công lao đóng góp của Đức Cha đối với lịch sử phát triển chữ Nôm và chữ quốc ngữ của nước nhà.

Ghi chú : Ở đây chúng tôi chỉ bàn về bài chí như một tài liệu chữ Nôm cổ cách đây 212 năm, và một số tác phẩm chứng minh sự phát triển của chữ Nôm và Quốc ngữ mà thôi.

A. PHIÊN DỊCH VĂN BIA

1. Phiên âm:

- Sư, Đại Tây dương [3] quốc nhân, Bi Nhu thị, hiệu Bá Đa Lộc. thiếu phụng Đạo giáo [4] nhi Trung Quốc thánh hiền thư tịch, mỹ bất giảng quán. Đãi tráng niên lai ngã quốc, thì quốc nội đa cố, sư vi quốc chi tân, thố sở học vụ sở hành, tương dữ chu toàn vu điên bái lưu ly chi tế. Ký hựu ưng trọng thác, xuất viện sư, lai vãng gián quan bất di dư lực. Nhị thập dư niên chi gian, tán hoạch nhung trù, tham tài trấn vụ, chư kỳ hưng kiến hiển thiết giai túc dĩ truyền chi hậu. Ngã quốc xâm xâm hồ hữu trung hưng chi thế, sư chi lực vi đa yên.

- Kỷ Mùi tùng chinh Quy Nhơn phủ, thu cửu nguyệt thập nhất nhật [5] dĩ chính chung vu Thi Nại hải môn tân thứ, thọ ngũ thập hữu thất [6] . Kỳ niên đông mạnh, sắc tặng Thái tử Thái phó quận công, bốc táng vu Gia Định phủ thành chi bắc, sư cố sở trúc tinh xá [7] dã. Thị vi chí.

- Thì: tuế thứ canh thân, trọng thu nguyệt, cốc đán thụ.

- Đốc học Hoa Xuyên hầu, thần Nguyễn Gia Cát [8] phụng soạn.

Binh bộ hữu tham tri Định Thành hầu, thần Lê Tri Chỉ [9] phụng thư.

2. Dịch nghĩa:

- Đức Thầy vốn người nước Đại Pháp, tên Bi Nhu, hiệu Bá Đa Lộc, tu học đạo Công giáo từ nhỏ nhưng mọi kinh điển thánh hiền Trung Quốc đều thông thạo. Thuở trẻ đến nước ta, gặp lúc có nhiều nội loạn, đức thầy nhận lời làm quốc khách, đem tài năng ra thi thố, khuông phò giữa buổi nghiêng ngửa hiểm nguy. Lại vâng trọng trách giao phó xuất ngoại cầu viện binh, đi về vất vả nhọc nhằn gần kiệt lực. Suốt hơn 20 năm bày kế sách tham mưu, góp ý kiến bình định, thành tích xây dựng vẻ vang ấy rất xứng đáng lưu truyền hậu thế. Vận nước dần dần được khôi phục, phần lớn đếu nhờ công lao của đức thầy.

- Năm Kỷ Mùi (1799), khi theo quân ra đánh phủ Quy Nhơn, đức thầy mất ngày 11/9 (âm lịch) tại cửa biển Thi Nại, hưởng thọ 57 tuổi. Tháng 10 được phong tặng Thái tử Thái phó quận công, an táng ở nhà nguyện cũ của đức thầy tại phía bắc thành Gia Định. Nhân thế mới làm bài chí.

Dựng bia ngày lành tháng 8 năm Canh Thân (1800).

Đốc học Hoa Xuyên hầu Nguyễn Gia Cát vâng mệnh soạn.

Hữu tham tri bộ binh Định Thành hầu Lê Quang Định vâng mệnh viết.

B. TIỂU SỬ VÀ CÔNG LAO CỦA ĐỨC CHA BÁ ĐA LỘC

- Đức Cha tên Pierre Joseph Georges Pigneau de Béhaine (Pierre và Joseph là 2 tên thánh khi rửa tội và chịu phép thêm sức, phiên âm là Phêrô và Giuse, Georges là họ, Pigneau là tên, Béhaine chỉ quê quán), sinh ngày 02/11/1741 tại làng Origny, tỉnh Aisne, thuộc miền Bắc nước Pháp.

- Theo học Chủng viện của Hội Truyền giáo Nước Ngoài tại Paris (Société des Missions Etrangères de Paris). Năm 1675, mới 24 tuổi được thụ phong Linh mục, liền lên đường sang Viễn đông truyền đạo. Năm 1767, làm giáo sư rồi giám đốc Chủng viện Hòn Đất gần Hà Tiên. Vì tình hình ở đây rối loạn, Đức Cha được phép rời Hà Tiên đi Pondichéry ở Ấn Độ. Năm 1770, được thụ phong Phó Giám mục, phụ tá Đức Cha Piguel. Năm 1774, được bổ nhiệm làm Giám mục tại Madras (Ấn Độ) với hiệu tòa Adran, đại diện Tông tòa địa phận Đàng Trong, Cam Bốt và Xiêm La. Năm 1775, Đức Cha về lại Hà Tiên, nhưng chưa thể đi sâu vào Đàng Trong vì có nhiều loạn lạc. Tại đây, năm 1776 [10] , Đức Cha gặp gỡ, che chở và giúp đỡ chúa Nguyễn Phúc Ánh đang vất vả chạy trốn nhà Tây Sơn truy kích. Đức Cha nhận lời giúp chúa khôi phục đất nước.

- Theo kế hoạch đã bàn tính với chúa, năm 1784, Đức Cha đưa hoàng tử Cảnh mới lên 4 tuổi sang Pháp, đại diện chúa ký hiệp ước Versailles năm 1788, chịu sự giúp đỡ quân sự của Pháp. Vì hoàn cảnh đặc biệt, hiệp ước không được thi hành, Đức Cha vận động tài chánh mua tàu chiến, vũ khí và mộ người về chỉ huy, luyện tập quân sĩ của chúa theo phương pháp tác chiến của Âu châu rồi trở về Gia Định năm 1789.

- Đức Cha phiên dịch các sách về chiến thuật, đóng tàu, đúc súng, xây dựng pháo đài, thành lũy, giải thích tường tận để chúa đem ra thực hiện. Hằng ngày, chúa thân hành giám sát các buổi luyện tập thủy quân hay đến các công xưởng hướng dẫn, xem xét cách thức chế tạo, có khi dùng bữa trưa tại quân trường hay công trường. Nhờ thế, chúa mới mau có đủ sức mạnh quân sự để chiến đấu với nhà Tây Sơn vốn rất thiện chiến.

- Đức Cha là thầy dạy của hoàng tử Cảnh từ thuở nhỏ đến khi được tôn phong Đông cung hoàng thái tử năm 1793, bên cạnh các thầy dạy khác, đều là những danh thần được chúa lựa chọn như Trịnh Hoài Đức và Lê Quang Định [11] . Cuối năm này, khi thu phục xong Nha Trang và Bình Thuận, chúa sai đông cung ra trấn giữ thành Diên Khánh (Nha Trang) và nhờ Đức Cha đi theo phò tá đông cung, tổ chức việc phòng thủ và cai trị.

- Ở Gia Định, hàng ngày Đức Cha vào hầu chúa, góp ý mọi vấn đề chúa cần tư vấn. Chúa cũng đến thăm Đức Cha, nếu không bận việc quân. Chúa biệt phái 200 quân sĩ đến phục dịch Đức Cha theo nghi thức một bậc đại thần. Giữa chúa và Đức Cha có một giao tình kết chặt bằng tình cảm quý mến chân thành và lòng tôn trọng đặc biệt. Chúa thường nghe lời Đức Cha. Có một vị quan phạm tội, phải chịu tử hình. Triều đình can gián xin tha, chúa dứt khoát không ân xá. Quốc mẫu xin giúp, chúa cũng không nghe. Đức Cha hay tin, vào hầu chúa, ôn tồn khuyên bảo mấy câu, chúa liền vui vẻ tha ngay! Có thể nói, Đức Cha vừa là ân nhân, vừa là cố vấn trung thành, tận tụy, đầy tài năng, luôn có mặt bên chúa trong gần suốt cuộc trường chinh đầy gian khổ. Vì thế, Đức Cha đã mất vào sáng ngày 9 tháng 10 năm 1799 tại tổng hành dinh ở cửa biển Thi Nại, khi theo chúa ra đánh thành Quy Nhơn lần thứ 3, vì bịnh kiết lỵ dai dẳng mà các ngự y và bác sĩ Pháp đều bó tay, không chữa trị nổi. Hôm sau, chúa cho tàu chiến đưa Đức Cha về Gia Định, quàn tại Tòa Giám mục. Đông cung Cảnh đứng ra tổ chức tang lễ rất trọng thể. Ngày 16/12, Đức Cha được an táng ở lăng do chúa ra lịnh xây nên. Hôm ấy, chúa, quốc mẫu, đông cung, hoàng gia và triều thần, giáo dân đều đi theo quan tài do 2 vạn quân và 120 thớt voi hộ tống đến lăng. Chúa thân hành đứng chủ tế, có quan đọc chúc văn. Sau đó, đông cung cũng có điếu văn tỏ lòng thương tiếc và nhắc nhở đến công lao to lớn của Đức Cha đã tận tụy đóng góp cho vương triều.

- Điều đáng nhắc nhở hơn cả là hiện nay, ở văn khố của Chủng viện thuộc Hội Truyền giáo Nước Ngoài Paris còn lưu trữ một di sản văn hóa quý báu của Đức Cha như sau:

1. Bản chép tay bộ Tự điển Việt Nam La-tinh (Dictionarium Anamitico Latinum) gồm 732 trang được Đức Cha biên soạn từ tháng 9/1772 đến tháng 6/1773 mới gần xong. Đáng tiếc, năm 1778, bộ này bị thiêu cháy ở Chủng viện Cà Mau do bọn cướp Miên gây ra. Sau đó, được tu chỉnh và chép lại thành thủ bản này. 60 năm sau, Đức Cha Taberd đã căn cứ vào bộ này, sửa chữa chút ít và in thành bộ Nam Việt Dương Hiệp Tự Vị (Dictionarium Anamitio Latinum), phát hành năm 1838 tại Sérampore, Ấn Độ.

2. Bản chép tay bộ Tự điển Hán Việt La-tinh (Dictionnaire Chinois – Annamite – Latin) gồm 906 trang, chưa xuất bản.

3. Sách Thánh Giáo Yếu Lý Quốc Ngữ gồm 82 trang bằng chữ Nôm và chữ Hán đã được xuất bản tại Quảng Châu, Trung quốc. Bản bằng chữ quốc ngữ chưa được ấn hành.

- Sách dạy giáo lý này được biên soạn theo thể vấn đáp, làm tài liệu căn bản cho việc truyền giáo sau này. Bộ Nam Việt Dương Hiệp Tự Vị được Đức Cha Taberd nhuận sắc, ấn hành năm 1838 có giá trị to lớn. Nội dung chứa đựng hệ thống ngôn ngữ Việt Nam đương thời, được ghi âm bằng chữ quốc ngữ và chữ Nôm rất chính xác. Cùng với Tự điển Việt Bồ La (Dictionarium anamiticum Lusitanum et Latinum) của Cha Alexandre de Rhodes xuất bản năm 1651 ở Rome, tự điển của Đức Cha Taberd có một giá trị đặc biệt về ngữ văn học trong quá trình tiến phát của ngôn ngữ và văn tự nước nhà. Trong đó, công lao đóng góp của Đức Cha Bá Đa Lộc tuy thầm lặng nhưng rất quan trọng, đúng đắn như nhận định của giáo sư Dương Quảng Hàm, nhà nghiên cứu văn học lão thành hàng đầu của nước ta đã phát biểu: "Cứ theo bộ tự điển của cố Alexandre de Rhodes soạn và in năm 1651, thì chữ quốc ngữ về hạ bán thế kỷ 17 còn có nhiều cách phiên âm khác bây giờ và chưa hoàn toàn tiện lợi. Theo cố Cadière trong một bài thông cáo đọc ở Hội đồng Khảo cổ Đông Pháp ở Paris (commission archéologique de l'Indochine) năm 1912, thì các hình thức hiện thời của chữ quốc ngữ chính là do Đức Cha Bá Đa Lộc đã sửa đổi lại mà thành nhất định. Đức Cha có soạn cuốn Tự điển An-nam La-tinh, tuy chưa xong hẳn, nhưng cố Taberd đã kế tiếp công cuộc ấy mà soạn ra cuốn Nam-Việt Dương-Hiệp Tự-Vựng (Dictionarium Anamitico-Latinum), in năm 1838. Trong cuốn này, cách viết chữ quốc ngữ giống hệt bây giờ; mỗi tiếng Nam đều có chua kèm chữ Nôm: cuốn ấy sẽ là một cuốn sách làm gốc cho các tự điển tiếng Nam sau này".

(Việt Nam Văn Học Sử Yếu, Dương Quảng Hàm,

Bộ Quốc Gia Giáo Dục xuất bản,

in lần thứ 8, Sàigòn, 1961, trang 323)

C. NHẬN ĐỊNH

Đến nay, Đức Cha mất vừa chẵn 210 năm, giới sử học trong và ngoài nước đã bình luận khá nhiều về vai trò của Đức Cha đối với chúa Nguyễn Phúc Ánh theo nhiều quan điểm rất khác nhau. Chúng tôi không có ý định tiếp tục công việc ấy, chỉ muốn đem bài văn bia vừa tìm thấy phiên dịch chính xác hơn, nhằm đính chính những sai lầm trong các bản dịch trưng dẫn trên sách sử do thiếu nguyên văn. Như đã nói, văn bia này do đốc học Gia Định Nguyễn Gia Cát, vâng mệnh chúa biên soạn để tuyên dương công lao Đức Cha đã đóng góp vào công cuộc phục hưng vương triều của chúa. Có mấy chi tiết đáng chú ý: Chúa chọn Nguyễn Gia Cát, có lẽ vì ông có học vị cao nhất ở Gia định bấy giờ: đậu tiến sĩ cuối triều Lê. Ông quy thuận vào tháng 3/1799, soạn văn bia vào tháng 8/1800 – nghĩa là chỉ gần một năm rưỡi sau đó, làm sao có thể am hiểu công lao của Đức Cha đã đóng góp từ hơn 20 năm trước, nếu không hội ý, tư vấn các văn thần kỳ cựu khác, nhất là tâu hỏi chúa, để ghi chép các sự kiện được chính xác và trung thực nhằm lưu truyền mãi mãi về sau? Chúng ta có thể tin chắc rằng ông viết đúng sự thật, đồng thời văn bia đã được chúa cùng triều thần thông qua và chấp thuận. Thử đọc lại đoạn chính văn bia: "Suốt hơn 20 năm bày kế sách tham mưu, góp ý kiến bình định, thành tích xây dựng vẻ vang ấy rất xứng đáng lưu truyền hậu thế. Vận nước dần dần được khôi phục, phần lớn đều nhờ công lao của đức thầy".

Rõ ràng chúa và triều thần, thông qua Nguyễn Gia Cát, đã chính thức xác nhận công lao to lớn của Đức Cha đã đóng góp từ những bước đầu gian khổ đến khi sắp hoàn thành đại nghiệp. Thêm một chi tiết cũng đáng chú ý: chúa đã phái Lê Quang Định, một triều thần trọng vọng, có biệt tài về thư pháp viết văn bia. Như thế, văn bia ấy do một văn thần có học vị cao nhất biên soạn và một văn thần có tài thư pháp viết ra. Ngần ấy nói lên trọn vẹn lòng quý mến, tôn trọng đặc biệt của chúa dành riêng cho Đức Cha.

Ngày nay, đọc lại những lời khấn nguyện của Đức Cha lúc lâm chung [12] , chúng ta có thể hiểu rõ rằng trước sau, Đức Cha là vị cố vấn tận tụy, đã dốc hết mọi khả năng giúp đỡ chúa sớm hoàn thành đại nghiệp chỉ vì mục đích duy nhất là khi đất nước được thái bình, đạo Công giáo sẽ được tự do truyền bá, không bị cấm đoán, bắt bớ, giết hại như ở Trung Quốc và Nhật Bản. Trên hết, Đức Cha là vị đại diện cao nhất của Giáo Hội ở Đàng Trong, Xiêm La và Cam Bốt. Đức Cha hy sinh tất cả để phụng sự Thiên Chúa, có trách nhiệm dẫn dắt mọi người, từ dân chúng đến vua quan hướng về lý tưởng ấy, tuyệt đối không vì mọi thứ danh lợi thế gian. Đức Cha đã làm giống các thừa sai Lợi Mã Đậu (Matteo Ricci) và Lang Thế Ninh (Giuseppe Castiglione), bằng cách đem hết tài năng chuyên môn dấn thân vào cung triều Trung Quốc từ cuối đời Minh sang các vua Khang Hy, Ung Chính và Càn Long đời Thanh, cũng chỉ vì mục đích muốn được tự do truyền đạo mà thôi.

Điều đáng tiếc nhất là chúa Nguyễn Phúc Ánh, do vận mệnh lịch sử dun dủi, đã gặp Đức Cha và có cơ hội tiếp cận học thuật, khoa học, kỹ thuật tây phương khá sớm, nhưng lại không mở rộng giao lưu, học hỏi để canh tân đất nước theo kịp đà tiến hóa trên thế giới như một chiến lược lâu dài; trái lại, chỉ áp dụng hạn hẹp như một phương tiện để giành thắng lợi trong giai đoạn ngắn ngủi. Khi chúa đã lên ngôi, cũng như các vua nhà Nguyễn sau này, chỉ lo củng cố đế quyền, điều hành và xây dựng quốc gia theo mô hình Nho giáo lỗi thời, khiến cho nước yếu dân nghèo. Lại ra tay bắt bớ, giết hại giáo sĩ, giáo dân, tạo cớ cho thực dân Pháp xâm lăng, đô hộ nước nhà suốt gần một thế kỷ vừa qua. Các vua nhà Nguyễn và triều thần phong kiến thủ cựu, hẹp hòi đương nhiên phải chịu lấy trách nhiệm trước lịch sử dân tộc.


[1] Nguyên giảng viên trường Đại học Văn Khoa Sàigòn, đã xuất bản Văn Học Nam Hà (1969 và 1971). Hiện là giáo sư của Viện Việt Học USA, đồng tác giả Tự Điển Chữ Nôm Trích Dẫn, do Viện Việt học USA xuất bản năm 2009. Bộ này gồm 1679 trang, được biên soạn công phu, dẫn chứng chữ Nôm từ nhiều tác phẩm văn học đủ thể loại. Các tác giả khác: Nguyễn Hữu Vinh, Đặng Thế Kiệt, Nguyễn Doãn Vượng, Lê Văn Đặng, Nguyễn Ngọc Bích và Trần Uyên Thi. Bộ này rất cần cho giới Hán Nôm chuyên ngành.

[2] Lược sử Giáo Hội Việt Nam của Linh mục Augustinô Nguyễn Văn Trinh, Đại Chủng viện thánh Giuse xuất bản năm 1994, các trang 190-192. Lịch sử Giáo hội Việt Nam, 3 tập, của Lm Augustinô Nguyễn Văn Trinh, Đại Chủng viện thánh Giuse, xuất bản năm 1994, các trang 395-397.

[3] Trước đây, ta gọi các giáo sĩ Âu châu là người Tây dương (từ biển phía Tây đến), như Tây dương đạo trưởng (chỉ chung các vị thừa sai ấy). Chữ đại tỏ ý tôn trọng, nên dịch là người nước Đại Pháp.

[4] Chỉ đạo Công giáo. Các sách trên không hiểu nghĩa này, dịch ra đạo Nho của Trung Quốc, thành sai hẳn nghĩa.

[5] Đức Cha mất ngày 11/9 âm lịch năm Kỷ Mùi, tức là ngày 9/10 dương lịch năm 1799.

[6] Các sách đều ghi Đức Cha sinh năm 1741. Nếu thế, Đức Cha mất 1799 thì phải thọ 58 tuổi tây, tức 59 tuổi ta. Ở đây ghi rõ thọ 57 tuổi ta, có nghĩa là 56 tuổi tây. Hiện chưa tra rõ được.

[7] Chữ này có nghĩa: nhà học và nhà tu (như chùa). Nguyên đây là Vườn xoài ở thôn Tân Sơn Nhì, chỗ nghỉ ngơi của Đức Cha. Đức Cha hay đưa hoàng tử Cảnh đến chơi. Có thể hiểu là nơi Đức Cha đến tĩnh tâm, nên châm chước dịch như thế.

[8] Đậu tiến sĩ cuối đời Lê, làm đốc học ở Quy Nhơn thời Tây Sơn. Tháng 3 năm 1799, chúa hạ thành Quy Nhơn, ông cùng Nguyễn Đại Phác ra hàng. Chúa tin dùng, phong lại chức này. Sau ông làm đến Cần Chánh điện học sĩ. Năm 1803, có dâng sách Đại Việt Sử Ký (Đại Nam Thật Lục Chánh Biên, Bảo Hoa Các xuất bản, Quảng Thạnh Nam phát hành, Gia Định 1873, quyển 3, tờ 18a.

[9] Tri Chỉ là tự của Lê Quang Định, lấy chữ ở chương kinh trong sách Đại Học: "Tri chỉ nhi hậu hữu định". Lê Tri Chỉ là Lê Quang Định (1759 – 1813). Ông cùng Ngô Nhân Tĩnh (? – 1813) và Trịnh Hoài Đức (1765 – 1825) được gọi là Gia Định tam gia. Ông nổi tiếng văn hay chữ tốt, vẽ đẹp. ĐNTLCB đã dẫn, quyển 1, tờ 35b và 36b cho biết chúa lấy được Gia Định vào tháng 8/1788. Tháng sau, bổ nhiệm 6 người làm Hàn lâm viện chế cáo, trong đó có ông và Trịnh Hoài Đức. Trong thời gian này không nói đến tổ chức thi cử gì cả. Cũng theo sách này, quyển 2, trang 1b, trang 20a và quyển 3, trang 28a, kể từ các năm 1791, 1796 và 1803, chúa mới mở 3 khoa thi ở Gia Định để lựa chọn nhân tài ra giúp việc nước. Có thuyết nói, khi thu phục lại Gia Định, chúa nghe tiếng cụ Võ Trường Toản tài cao đức trọng, có mở trường dạy học trò rất đông, liền đến thăm và mời cụ ra làm quan. Cụ từ chối vì già yếu, xin tiến cử một số học trò có khả năng như các ông Lê Quang Định, Trịnh Hoài, Ngô Nhân Tĩnh, Ngô Tùng Châu,… chúa đều vui vẻ thâu nhận, phong quan chức để sung vào bộ máy hành chánh còn thiếu nhân lực. Trước nay, nhiều sách đều nói ông và Trịnh Hoài Đức thi đậu năm 1788 ở Gia Định, được bổ làm quan. Xét rằng chúa thu phục Gia Định vào tháng 8, tháng 9 đã bổ các ông vào Hàn lâm viện chế cáo, Vừa bình định xong, biết bao công việc phải làm để chấn chỉnh trật tự trị an, quốc kế dân sinh, làm sao tổ chức thi cử liền? ĐNTLCB đã dẫn, không chép việc thi cử trong thời gian này. Thuyết đã dẫn lại nói cụ Võ Trường Toản tiến cử các ông lên chúa. Vì vậy, cần phải tra cứu lại tường tận.

[10] ĐNTLCB đã dẫn, quyển 1, tờ 1b cho biết, ngày 12/2 năm Ất Mùi (1775), chúa đi theo Định Vương Nguyễn Phúc Thuần vào Nam, ngày 25/2 mới đến Gia Định. Sau đó bôn ba chạy trốn nhà Tây Sơn. Do đó, các sách, kể cả sách Pháp, nói chúa gặp Đức Cha từ năm 1774 là không đúng. Thời điểm chúa gặp Đức Cha ở Hà Tiên năm 1776 hợp lý hơn.

[11] Tháng 3 năm Giáp Dần (1793), chúa lập hoàng tử Cảnh mới 13 tuổi làm Đông cung, bố trí một lực lượng thầy dạy rất nhiều: 1 phụ đạo, 2 thị giảng, 14 thị học để lo việc dạy dỗ Đông cung. Trịnh Hoài Đức và Lê Quang Định được sung chức thị giảng (ĐNTLCB đã dẫn, quyển 2, tờ 8a).

[12] Xem Khảo Về Đồ Sứ Cổ Men Lam Huế, Vương Hồng Sển, quyển hạ, nhà xuất bản Tp.HCM, 1993, trang 68, trích dẫn lại từ sách La Geste Française của Georges Taboulet, Paris, 1955.
Thư mục tham khảo : :

§ Quế Sơn Thi Tập, sách chép tay, bản xưa, 26 trang. Trang 25 và 26 phụ chép bài văn bia của Đức Cha.

§ Đại Nam Thật Lục Chánh Biên, Duy Minh Thị đính chính, Bảo Hoa Các xuất bản, Quảng Thạnh Nam phát hành, Gia Định, 1873.

§ Dictionarium Anamitico Latinum, AL.L.Taberd, Trung Tâm Nghiên Cứu Quốc Học, nhà xuất bản Văn Học tái bản 2004. Các trang từ 49 đến 66.

§ Nguyệt san Công Giáo và Dân Tộc, các số từ 113 đến 128.

§ Lược Sử Giáo Hội Việt Nam, Linh mục Augustinô Nguyễn Văn Trinh, Đại Chủng viện thánh Giuse, 1994. Các trang từ 190 đến 192.

§ Lịch sử Giáo Hội Việt Nam, 3 tập, Linh mục Augustinô Nguyễn Văn Trinh, Đại Chủng viện thánh Giuse, 1994. Tập 3, các trang từ 395 đến 397.

§ Việt Nam Sử Lược, 2 quyển, Trần Trọng Kim, Trung Tâm Học Liệu, Bộ Giáo Dục xuất bản, quẩn 2, các trang 150-152 và 159.

§ Việt Nam Văn Học Sử Yếu, Dương Quảng Hàm, Bộ Quốc Gia Giáo dục xuất bản, in lần thứ 8, Sàigòn, 1960, trang 323.

§ Khảo Về Đồ Sứ Cổ Men Lam Huế, Vương Hồng Sển, nhà xuất bản Tp.HCM, 1993, quyển hạ, trang 68.
_______________________________________

Tân Sa Châu, ngày 08/08/2012
© Tác giả giữ bản quyền.
. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả từ Tân Sa Châu SàiGòn ngày 20.09.2012.
. Xin vui lòng ghi rõ nguồn Newvietart.com khi trích đăng lại.