Nên Dựng Bia Đá
“Lấy Lại Hoàng Sa” ở Quảng Ngãi



Cuộc vận động “Góp đá cho Trường Sa” của báo Tuổi Trẻ là một cuộc vận động có nhiều ý nghĩa tích cực cho việc toàn dân bảo vệ an ninh quốc phòng vùng hải đảo trong năm 2011.

Từ đó, tôi nghĩ rằng nên có một cuộc vận động tương tự cho hải đảo Hoàng Sa nhưng với tên gọi và với cách làm khác một chút. Đó là cuộc vận động dựng bia đá “Lấy lại Hoàng Sa”. Trong lịch sử chống ngoại xâm thời Hai Bà Trưng (40-43) trước Công nguyên, một số sách còn ghi lại chuyện tướng Mã Viện của nhà Đông Hán sau khi đánh thắng Hai Bà khi rút quân về nước đã để lại bộ máy cai trị đất nước ta, vị lão tướng này đã thâm độc cho dựng cột đồng ở đâu đó mà ngày nay đã mất tích, khắc câu chữ vô cùng tàn ác :”Đồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt”.(Việt Nam sử lược, NXB Văn hóa thông tin, 1999, trang 51).

Tương truyền, nhân dân ta vừa căm phẫn vừa lo sợ họa mất nước, mất giống nòi nên mỗi khi đi ngang qua mỗi người dân đều ném cục đá vào chân trụ đồng với ý nghĩ cho trụ đồng khỏi ngã, tức dân Giao chỉ (tên gọi dân tộc ta thời bị triều đình phương Bắc cai trị) khỏi họa diệt vong ! Do đó, lâu đời, trụ đồng đã bị hàng triệu triệu cục đá lấp lên cao đến nỗi nó bị lấp mất. Như vậy, trụ đồng không bị đổ nên dân ta vẫn trường tồn.

Ngày nay, Hoàng Sa – một hải đảo của ta ở biển đông đối diện với đảo Lý Sơn thuộc tỉnh Quảng Ngãi đã bị Trung Quốc chiếm đóng từ trước ngày Miền Nam được giải phóng tới nay mà ta chưa biết phải làm sao và chưa biết tới bao giờ mới “Châu về Hợp phố”. Vừa qua, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã mạnh dạn trình bày về chuyện này trước diễn đàn Quốc Hội kỳ họp thứ hai khóa XIII năm 2011 khiến cho nhân dân cả nước lấy là hài lòng. Bởi vì từ lâu, ta chưa đả động tới, tuổi trẻ và một số người dân bức xúc xuống đường để lên tiếng đòi lại nhưng nhà nước nhận thấy chưa tới lúc, chưa có thời cơ nên chưa cho phép biểu tình tập thể, chưa được manh động. Dù vậy, Tổng Lãnh sự Trung Quốc cũng đã lo sợ nên xin di dời tòa sứ quán từ đường Phạm Ngọc Thạch nằm ngay trước mặt Nhà văn hóa Thanh niên và gần trụ sở Thành đoàn thuộc Quận 1 – nơi tụ họp đông đảo thanh niên, học sinh sinh viên và công nhân lao động hàng ngày – về đường Hai Bà Trưng thuộc quận 3.

Bây giờ Thủ tướng chính phủ đã lên tiếng giải bày ngọn nguồn : đảo Hoàng Sa vẫn thuộc chủ quyền của Việt Nam từ lâu đời và nhân dân ta sẽ lấy lại khi thời cơ thuận lợi bằng giải pháp hòa bình.

Do đó, nhận thấy rằng để hun đúc tinh thần “ghi lòng tạc dạ” chuyện hải đảo bị mất tức nhiên phải lấy lại và việc lấy lại như thế nào do Quốc hội và Nhà nước tính toán. Còn nhân dân ta bây giờ nên tích cực ủng hộ Quốc hội, ủng hộ Nhà nước bằng cách động viên nhau, không phải góp đá xây dựng mà là dựng bia đá khắc nhắc nhở các thế hệ con cháu câu : “Nhớ lấy lại Hòang Sa”. Bia này được dựng trên đảo Lý Sơn hướng về hải đảo Hoàng Sa thân yêu ở biển Đông hoặc được dựng ở bờ biển Quảng Ngãi bên cạnh QL 1A để ngày ngày người người qua lại nhìn thấy mà nghĩ cách lấy lại đảo này – phần Tổ quốc của dân tộc ta, phần đất đảo của đất nước ta, không thể để mất được. “Sông có thể cạn, núi có thể mòn. Song chân lý đó không bao giờ thay đổi!”

Giống như trường hợp sau ngày Quốc khánh 2/9/1945, giặc Pháp quay lại chiếm đóng miền Nam (sau ngày Nam Bộ kháng chiến 23/9/1945), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã mạnh mẽ trả lời câu hỏi của một nhà báo phương Tây về tình trạng miền Nam như sau :”C’est la chair de notre chair, c’est le sang de notre sang”. (Đó chính là thịt của chúng tôi, đó chính là máu của chúng tôi). Ý nghĩa câu trả lời của Hồ Chủ tịch là “Miền nam là da và thịt của chúng tôi, tức nhiên chúng tôi không để bị chia cắt, không để bị mất). Và sau 9 năm kháng chiến, nhân dân đã thắng lợi và quân Pháp phải rút về nước sau gần 80 năm chiếm đóng. Rồi đế quốc Mỹ nhảy vào, tưởng dễ dàng áp đảo nhưng chỉ 20 năm sau phải cuốn cờ về nước nhận lấy bài học chua cay “người Mỹ chưa học lịch sử của dân tộc Việt Nam”.

Nhớ lại thời Hậu Lê và nhà Tây Sơn vào cuối thế kỷ 18 (năm 1790), trong khi vua Lê Chiêu Thống cùng một số cận thần, dòng họ trốn chạy sang Nam Ninh thuộc đất Lưỡng Quảng (Trung Quốc), bị đưa về Yên Kinh, còn các quan thì bị lưu đày đi Phụng Thiên, Hắc Long Giang và Cát Lâm (Mãn Châu) và Nhiệt Hà (tỉnh Trực Lệ phía tây Trung Quốc) và bị bắt phải cạo đầu để đuôi sam và thay đổi y phục theo Tàu. Chỉ có Lê Quýnh và Trịnh Hiến với 10 người tùy tùng vì quốc thể mà chống cự lại tướng Phúc An Khang Tổng đốc Lưỡng Quảng, dõng dạc nói :”Ông cho gọi chúng tôi đến chẳng bàn được điều gì, lại dỗ chúng tôi đổi áo, gióc tóc, ấy nghĩa gì ? Đầu chúng tôi có thể chặt được, chứ tóc không gióc, da có thể lột được, chứ áo không đổi !” (Việt Nam sử lược, sđd, trang 404).

“Việt Nam sử lược” ở trang 409 chép việc vua Quang Trung mặc dù đuổi được quân Thanh nhưng vẫn phải cầu hòa và chịu phong vương là cốt để đợi ngày có đủ sức mà đánh báo thù, Do đó từ khi trong nước đã dẹp yên rồi, ngày đêm trù tính việc đánh Tàu. Đình thần ai cũng bàn nên xét số đinh cho đích thực để kén lấy lính…Sổ đinh làm xong rồi cứ ba tên đinh kén lấy một người lính. Quân thì chia làm đạo, cơ, đội. Cơ đội nào theo cơ đợi ấy, bắt phải diễn tập luôn luôn.

Bấy giờ ở bên Tàu có những giặc Tàu ô, quấy nhiễu ở miền biển bị quân nhà Thanh đánh đuổi, chạy sang xin phụ thuộc nước ta, vua Quang Trung cho người tướng Tàu ô làm chức tổng binh, sai sang quấy nhiễu ở mặt biền nước Tàu. Lại có người thuộc về đảng Thiên Địa hội làm giặc ở Tứ Xuyên, vua cũng cho thu dụng làm tướng. Công việc sắp đặt đâu vào đấy rồi, đến năm Nhâm Tý (1792) vua Quang Trung sai sứ sang Tàu, xin cầu hôn và xin trả lại cho Việt Nam đất Lưỡng Quảng. Việc ấy tuy không phải là bản ý nhưng muốn mượn chuyện để thử ý vua nhà Thanh. Không ngờ vua Quang Trung phải bệnh mất, các quan dìm việc cầu hôn và việc xin trả đất đi, không cho Thanh triều biết. ( trang 410).

Từ đó, chuyện lấy lại đất Lưỡng Quảng không được triều đình nhà Nguyễn Gia Long quan tâm.

Cho tới năm 1858, thực dân Pháp đưa quân sáng đánh chiếm Việt Nam. Hòa ước Giáp Tuất (1874) ra đời, ở điều khoản V quy định :”Vua nước Nam phải thuận nhường đứt đất 6 tỉnh Nam Kỳ cho nước Pháp”. Năm 1873, thừa cơ hội triều đình nhà Nguyễn suy yếu, quân Pháp ra đánh chiếm thành Hà Nội lần thứ nhất, rồi lần thứ hai năm 1882. Được tin này, triều đình nhà Thanh tiếp tục có mưu đồ can thiệp để chia phần nửa đất Bắc Kỳ với Pháp. Tổng Đốc Lưỡng Quảng là Trương Thụ Thanh làm mật sớ tâu với vua nhà Thanh, đại lược nói rằng :”Nước Nam và nước Tàu tiếp giáp với nhau mà thế lực nước Nam thật là suy hèn, không có thể tự chủ được nữa, vậy ta nên mượn tiếng sang đánh giặc mà đóng giữ các tỉnh ở thượng du. Đợi khi có biến thì ta chiếm lấy những tỉnh ở về phía Bắc sông Hồng Hà.” Bởi vậy, triều đình nhà Thanh mới sai Tạ Kính Bưu , Đường Cảnh Tùng đem quân sang đóng ở Bắc Ninh và ở Sơn Tây, sau lại sai quan bố chính Quảng Tây là Từ Diên Húc đem quân sang tiếp ứng. (Việt Nam sử lược, trang 558).

Tháng 9/1882, Thanh triều sai tướng Hoàng Quế Lan đem hai vạn quân đóng ở các tỉnh Lạng Sơn, Bắc Ninh, Cao Bằng, Thái Nguyên. Xứ Bắc Kỳ lúc ấy chia làm hai khu : phần đất bắc từ sông Hồng Hà tới biên giới nước Đại Thanh thuộc quyền kiểm soát của nhà Thanh, khu nam thuộc quyền kiểm soát của nước Pháp. (Diễn biến lịch sử 1.000 năm của ông Nguyễn Thu Cờ, Hội Đồng hương Hà Nội năm 2006, trang 786).

Sách sử nói trên dành cả một chương XIII chép về chiến tranh giữa Pháp với Tàu kéo dài một năm 1885 chỉ vì hai nước đều tranh ăn “một Việt Nam” cho tới khi hòa ước Thiên Tân ra đời thì nước Tàu mới rút hết quân vế nước và công nhận cuộc bảo hộ của nước Pháp ở nước Việt Nam.

Mặc dù vậy, nhà Thanh vẫn tiếp tục xin Pháp hủy bỏ Hiệp ước Fourrier – Thiên Tân bỏ cuộc bảo hộ nước Việt Nam và chia cho một phần đất Bắc Kỳ, luôn coi các nước Đông Dương thuộc quốc của Thiên triều, là phần đất của nhà Thanh. Nước Việt Nam bị Pháp chiếm, nhà Thanh hy vọng sẽ lấy lại khi có thời cơ (Sdđ trang 787).

Mãi cho đến khi Pháp bị phát xít Nhật đảo chính 9/3/1945 giành lấy quyền cai trị Việt Nam thì Trung Hoa dân quốc lại cấu kết với quân đồng minh trong đó có Mỹ, Anh cho quân Tưởng Giới Thạch vào giải giới quân Nhật thì các tướng Lư Hán, Tiêu Văn trở lại âm mưu xâm chiếm nước ta lần nữa với cuộc chuẩn bị rất quy mô “Hoa quân nhập Việt”. Đây là lý do hợp pháp để quân đội Trung hoa vào Việt Nam. Chính quyền Tưởng Giới Thạch (Trung Hoa thời kỳ mới) vẫn không từ bỏ mưu đồ cai trị Việt Nam như thời kỳ phong kiến. Đến khi chính quyền cộng sản được thiết lập ở Trung Quốc, âm mưu này vẫn được tiếp tục.

Ngày 20/7/1954, mặc dù hiệp định Genève ra đời nhằm chấm dứt chiến tranh Pháp – Việt – Lào – Cam-pu-chia và nước Việt Nam tạm thời bị chia đôi ở vĩ tuyến 17 nhưng chính quyền Việt Nam lúc bấy giờ cảm thấy chiến thắng ngoại giao này không tương xứng với chiến thắng quân sự ở Điện Biên Phủ, bởi vì “Giải pháp Giơ-neo-vơ không phản ánh đầy đủ những thắng lợi của nhân dân ta trên chiến trường và xu thế của cuộc đấu tranh giữa ta với Pháp, cũng như không đáp ứng đầy đủ những yêu cầu chính trị của giải pháp do đoàn đại biểu Việt Nam đưa ra. Vì thế, nó đã ngăn cản nhân dân ba nước Việt Nam, Lào và Cam-pu-chia giành thắng lợi hoàn toàn. Đây là sự phản bội lần thứ nhất của những người lãnh đạo Trung Quốc với sự nghiệp cách mạng của nhân dân Việt Nam, Lào, Cam-pu-chia.(Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, sơ thảo, NXB Sự Thật năm 1981, trang731-732).

Về diễn tiến cuộc hòa đàm Genève, sách Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam nói trên ghi lại rất nhiều sự kiện đoàn ngoại giao Trung Quốc “đi đêm” với đoàn ngoại giao Pháp để phản bội người anh em của mình trong việc thống nhất đất nước sau khi chiến thắng thực dân Pháp trên toàn cõi Đông Dương, như ngày 17/6/1954, thủ tướng Chu Ân Lai gặp ngoại trưởng Pháp G.Biđô (Bideau) đưa ra những nhân nhượng chính trị có tính cơ bản : Trung Quốc có thể chấp nhận Việt Nam có hai chính quyền : chính quyền Việt Nam dân chủ cộng hòa và chính quyền bù nhìn Bảo Đại. (Sđd trang 729). Sau đó, “Ngày 23/6/1954, thủ tướng Chu Ân Lai gặp thủ tướng mới của Pháp là Măng-đét Phrăng-xơ (Mendès France), lại đưa ra những nhương bộ mới : chia cắt Việt Nam, giải quyết vấn đề quân sự trước, tách rời việc giải quyết vấn đề Việt Nam, Lào, Cam-pu-chia. Trước đó Trung Quốc còn muốn Việt Nam bỏ cả Hà Nội, Hải phòng và đường số 15.(Điện văn của Thủ tướng Chu Ân Lai gởi Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản trung Quốc và sao gởi Ban chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam ngày 30/5/1954). (Sđd trang 729-730).

Chính vì đoàn ngoại giao Trung Quốc hăng hái với mưu đồ đưa ra những ý kiến như vậy mà hiệp định Genève được ký kết với giải pháp chia đôi đất nước để nước Pháp còn có cơ hội kéo dài sự chiếm đóng Việt Nam của ngoại bang (Mỹ) thêm 20 năm nữa.

Khi biết Việt Nam sắp kết thúc chiến tranh với Mỹ sau âm mưu kéo dài sự chiếm đóng của Mỹ ở miền Nam không thành công (cuộc gặp gỡ giữa TT R.Nixon với Mao Trạch Đông ở Thượng Hải), Trung Quốc đã nhanh chóng đưa tàu chiến tới chiếm đóng Hoàng Sa một cách bất hợp pháp vì nhận thấy tới thời kỳ ấy nước Đại hãn chưa có tất đất nào của Việt Nam trong tay mình qua nhiều công sức ngoại giao ở nhiều hội nghị quốc tế qua hai cuộc chiến kéo dài gần 100 năm.

Năm 1979, Trung Quốc không ngần ngại tiếp sức và kích động quân Khmer Đỏ mở ra cuộc lấn chiếm và sát hại người dân vô tội ở biên giới Tây Nam Việt Nam để có cơ hội xua quân tràn qua biên giới chiếm đóng các tỉnh ở phía Bắc Việt Nam tạo ra cuộc chiến tranh biên giới Việt – Trung đẫm máu sau ngày Việt Nam độc lập, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ từ ải Nam Quan tới mũi Cà Mau. Thế nhưng, một lần nữa, quân đội Việt Nam anh hùng bẻ gãy cuộc chiếm đóng của nước láng diềng gần sau nhiều tháng bị tàn phá xóm làng, tỉnh thành và dân lành bị sát hại.

Sau vài năm lập lại tình hữu nghị giữa hai nước anh em, Việt Nam và Trung Quốc trở lại hòa hảo, định lại ranh giới trên đất liền để cắm mốc biên giới theo các hiệp ước của hai nước. Thế nhưng, hải giới ở biển Đông chưa được định lại vì còn Hoàng Sa của Việt Nam chưa được giải quyết.

Tới khi thấy quốc tế lên tiếng nhiều về sự chiếm đóng bất hợp pháp hải đảo này và Việt Nam đưa ra nhiều chứng cớ về chủ quyền của mình thì nước bạn lại tự mình bày ra trò vẽ lại bản đồ với đường lưỡi bò trên biển Đông cùng với việc thiết lập nhiều cơ sở quân sự, kinh tế trên hải đảo này (kể cả dự định khai thác dầu mỏ trên thềm lục địa Việt Nam) và trắng trợn sáp nhập Hoàng Sa vào tỉnh Hải Nam của mình với mục đích đặt thành vấn đề đã rồi.

Tới đây thì Việt Nam khó lòng tìm được giải pháp hòa bình nào để Hoàng Sa được hoàn lại cho Việt Nam, nếu có cũng phải mất nhiều năm nữa, có thể đi vào quên lãng như chuyện đòi lại đất Lưỡng Quảng của vua Qaung Trung. Hơn 100 năm đã trôi qua ! Do đó, nghĩ rằng, từ bây giờ, chúng ta phải hành động bằng hòa bình, bằng gây ý thức trong nhân dân, dù phải trải qua nhiều thế hệ dù cho tới một ngàn năm như thời Bắc thuộc, Hoàng Sa vẫn phải được lấy lại.

Vậy, từ bây giờ xin đề nghị các báo, kể cả báo điện tử trong và ngoài nước tiếp tục lên tiếng phát động và có chương trình hành động vì Hoàng Sa như hành động góp đá vì Trường Sa của báo Tuổi Trẻ từng làm năm trước. Tất cả đều phải tập trung vào Hoàng Sa chớ không phải chỉ có Trường Sa thôi.

Từ việc góp tiếng nói này, ta ủng hộ cho môt quỹ “Vì Hoàng Sa thân yêu” để xây dựng nhiều tấm bia với tên gọi “Nhớ lấy lại Hòang Sa” đó là “máu và thịt” của nhân dân và “đất biển” của Tổ quốc Việt Nam không thể bỏ rơi hay trôi giạt vào tay người khác.


_____________________________________________________

(19/8/2012)


© Tác giả giữ bản quyền.
. Đăng ngày 26.08.2012 theo nguyên bản của tác giả chuyển từ Sài Gòn.
. TRÍCH ĐĂNG LẠI VUI LÒNG GHI RÕ NGUỒN NEWVIETART.COM .