Tượng danh tướng Phạm Ngũ Lão

PHẠM TU & PHẠM NGŨ LÃO
RẠNG DANH DÒNG HỌ PHẠM

Họ Phạm Việt Nam hãnh diện có hai võ tướng nổi danh dưới vương triều Tiền Lý và vương triều Trần, trong lịch sử anh hùng bất khuất của dân tộc Tiên Rồng, đó là:

DANH TƯỚNG PHẠM TU (476 - 545)

Xã Thanh Liệt thuộc huyện Thanh Trì (trước thuộc tỉnh Cầu Đơ, rồi đổi tên là Hà Đông, sau sáp nhập với Sơn Tây thành Hà Tây, và từ ngày 1-8-2008 sáp nhập vào Hà Nội và nay là thành phố Hà Nội) từ xa xưa, là một xã văn hiến, địa linh nhân kiệt, có cả văn võ và thiền học. Nơi đây là quê hương các danh nhân:

1. Danh tướng Phạm Tu: vị khai quốc công thần triều Tiền Lý

2. Danh nhân Chu Văn An (1292 – 1370): học già yên bác, tấm gương sáng cho thầy giáo của muôn đời sau

3. Thiền gia Pháp chủ Sư tổ Vĩnh Nghiêm (1840 – 1939): Phó hội trưởng Hội Phật giáo Thống nhất Việt Nam.

Hai danh nhân và nhà thiền học là những mốc son lịch sử, viên ngọc sáng của quê hương Thanh Liệt, Thanh Trì, Hà Nội.

Thần phả Thanh Liệt chép rằng vùng đất này xưa kia là xóm bãi vải tiến vua. Nằm bên dòng sông Tô Lịch thuộc thôn Văn Trì, làng Quang Liệt, huyện Thanh Trì, trấn Sơn Nam (nay là xã Thanh Liệt, Thanh Trì, Hà Nội). Ở vùng đất này có hai vợ chồng cụ Phạm Thiều và Lý Thị Trạch sống nhân đức, hiền hòa. Truyền thuyết kể rằng: Thấy vợ chồng sống có lòng thành, một ngày kia, trời cho điềm lạ…Một đêm phu nhân chiêm bao thấy vầng hào quang tỏ, sáng rực khuê phòng, có con bạch xà hoa cùng đến, sau hóa thành bông sen trắng, phu nhân với tay giữ lấy. Từ đấy mang thai và đến ngày 12-3 năm Bính Thìn (476) thì sinh nở, hương thơm ngào ngạt, đặt tên là Phạm Tu. Lớn lên, Phạm Tu có tư chất thông minh, hình dáng tốt đẹp, thường ở nhà nơi tĩnh thất, đã chăm đọc sách, lại hay sáo đàn, binh thư thao lược, cung tên đều thạo cả; đến khi trưởng thành, đức tài văn võ sức khỏe hơn người, dân làng thường gọi là Phạm Đô Tu.

Năm 541, Lý Bí khởi binh đánh đuổi nhà Lương, Phạm Tu triệu tập binh mã ra ứng nghĩa, những hào kiệt các châu, quận đều đứng lên hưởng ứng.

Tại Thanh Liệt đến nay, những địa danh như: cửa Triệu, cổng Đồn, cửa Trại, lá cờ, thanh kiếm voi ngựa…đều ứng với thời kỳ võ tướng Phạm Tu triệu tập huấn luyện binh mã tại quê nhà. Về sản xuất nông nghiệp, ông dạy nhân dân phải “Cửu niên tam tích” (Sản xuất 9 năm phải tích trữ 3 năm), phòng giặc giã, mất mùa, dịch bệnh…

Cuộc khởi nghĩa cùa Lý Bí thắng lợi, Thứ sử nhà Lương là Tiêu Tư thua chạy về Quảng Châu. Năm 544, Lý Bí vào thành Long Biên, xưng vương Lý Nam Đế, quốc hiệu là Vạn Xuân, cử Triệu Túc làm Thái phó, võ tướng Phạm Tu đứng đầu ban Võ.

Quân Lâm Ấp (sau là Champa) sang xâm lấn quân Cửu Chân, Lý Nam Đế cử tướng Phạm Tu đi dẹp, đuổi được giặc ra khỏi bờ cõi phía nam.

Tháng 6 năm 545, tướng nhà Lương là Trần Bá Tiên đem quân sang cướp nước nhà, Lý Nam Đế cùng chư tướng đưa quân ra đánh. Tướng Phạm Tu giữ cửa sông Tô Lịch (nay là phố Chợ Gạo, Hà Nội), võ tướng tuổi cao sức yếu, quân giặc đông, võ tướng hy sinh anh dũng giữa ngày 20-7 năm Ất Sửu (545). Vua Tiền Lý rút quân vào Gia Ninh đóng đồn ờ hồ Điển Triệt, luyện tập binh mã để sau khôi phục.

Lý Nam Đế sai quan Thái Giám, cùng triều quan xét công trạng võ tướng, tặng phong là Long Biên hầu, đặt thụy là Đô Hồ, phong làm bản cảnh Thành hoàng xã Thanh Liệt.

Đó là vương triều Tiền (Hậu) Lý với: Lý Nam Đế (Tiền Lý) và kế tiếp là Lý Phật Tử (Hậu Lý), theo bài Việt Sử Ca với 15 vương triều đất Việt sau đây:

“Hùng Vương– Thục– Trưng– Tiền (Hậu) Lý– Ngô – Đinh – Tiền Lê – Lý – Trần – Hồ - Lê Sơ – Mạc – Lê (Trung hưng) – Tây Sơn – Nguyễn. Lịch sử Tiên Rồng! ”

Giữa thiên niên kỷ thứ Nhất sau Công nguyên, nước Vạn Xuân của Lý Nam Đế và võ tướng Phạm Tu xuất hiện với đường đường tư thế là Quốc gia – Dân tộc thứ ba cùa lịch sử nước nhà sau Văn Lang thời Hùng Vương và Âu Lạc thời Thục An Dương Vương từ thời trước Công nguyên. (Hồi giữa thế kỷ thứ Nhất SCN, lịch sử dân tộc Việt Nam còn được chứng kiến sự kiện ba năm, từ 40 – 43: “Đô kỳ đóng cõi Mê Linh, Lĩnh Nam riêng một triều đình nước ta” của Hai Bà Trưng. Nhưng những sử liệu đích thực chưa cung cấp được những thông tin đầy đủ và cụ thể về sự kiên này).

- THỜI KỲ TIỀN THĂNG LONG:

Mốc sự kiện và niên đại ở đây chính là năm 545, một năm sau khi thành lập nhà nước Vạn Xuân, khi một Tòa Thành được khởi dựng ở nơi của sông Tô Lịch (chính là miền đất gốc của Thăng Long – Hà Nội, qua các thời đại), làm nòng cốt và bằng chứng cho sự chính thức hình thành một “Thành” + “Phố”, một “Đô” + “Thị” ở nơi đây.

Và, một lần nữa, chính ở vị trí thời gian – không gian quan trọng này, lại thấy hiện diện nhân vật lịch sử võ tướng Phạm Tu – rạng danh họ Phạm, chiến đấu chống quân xâm lược phương Bắc và hy sinh anh dũng ở Tòa Thành nơi cửa sông Tô Lịch vào năm 545 này.

- THỜI KỲ THĂNG LONG:

1) Tính từ năm 1010 (năm có văn bản “Thiên đô chiếu”, vừa có hành động dời đô, định đô của vua Lý Thái Tổ), sau đó vương triều Trần lãnh đạo nhân dân ta chiến thắng quân Mông Nguyên (Mông Cổ cai trị nước Tầu) với võ tướng Phạm Ngũ Lão.

DANH TƯỚNG PHẠM NGŨ LÃO (1255 – 1320)

Quê làng Phù Ứng, Hải Dương, tài giỏi kiêm văn võ, được Hưng Đạo Vương tin cẩn, gả con gái nuôi và tiến cử với triều đình giữ chức Hạ phẩm phụng ngự, rồi thăng Quân hữu vệ thánh dực giản. Trong hai cuộc kháng Nguyên, ông dày công lao lần lượt giữ các chức: Hữu Kim ngô vệ Đại tướng quân, Thân vệ Đại tướng quân, tước Quân Nội Hầu. Ông từng đước vua ban phù vàng hình rùa và phù vàng hình hổ. Ông mất năm 1320, thọ 65 tuổi, thơ văn của ông nay chỉ còn truyền tụng hai bài: Thuật hoài và Vãn Hưng Đạo Đại vương.

2) Cho đến năm 1888 (năm mà, vừa có văn bản của vua Nguyễn Đồng Khánh nhường đất, vừa có Sắc lệnh của Tồng thống Pháp và Nghị định của Toàn quyền Đông Dương, thành lập “Thành phố Hà Nội”.

- THỜI KỲ HÀ NỘI:

Đây là thời kỳ tiếp theo, (mặc dù địa danh Hà Nội thì đã bắt đầu có từ năm 1831, vài chục năm trước đó) có thể tính từ năm 1888, trong thời gian này, mang đặc trưng quán xuyến là một tòa Đô thị cận - hiện đại.

Chúng ta thấy rằng: “Thời kỳ Tiền Thăng Long” như vậy là cũng rất quan trọng, vì nó hợp cùng với “Thời kỳ Thăng Long” và “Thời kỳ Hà Nội” làm nên lịch sử hoàn chỉnh và đích thực của Đất này.

Như vậy, từ quê hương Thanh Liệt trên một điểm đầu nguồn sông Tô Lịch, cuộc hành trình kỳ vĩ của Danh tướng Phạm Tu, qua thời gian từ năm 542 – 545, tới không gian cuối sông Tô, nơi có Tòa Thành và trận ác chiến cửa sông Tô, thì kết thúc oanh liệt. Nhưng đây là một kết thúc oanh liệt với ý nghĩa kép: Lão tướng Phạm Tu vừa có mặt ở vị trí thời gian – không gian mở đầu thời kỳ lịch sử “Tiền Thăng Long”, cũng chính là sự bắt đầu đích thực của toàn bộ lịch sử gồm ba thời kỳ của Đất này; lại vừa tự mình Lập nên một gương hy sinh trong đấu tranh Anh hùng Bất khuất ở nơi đây. Chính là sự khởi đầu cho một Truyền thống vẻ vang của Lịch sử, và của Đất cùng Người nơi đây: Truyền thống Anh hùng Bất khuất – mà năm 2010, kỷ niệm 1000 năm định đô với truyền thống đó.

Và năm nay, 2012 là dịp kỷ niệm đúng 1467 năm tuổi của toàn bộ lịch sử Đất này. Và toàn bộ lịch sử 1467 năm ấy – sau Danh tướng Phạm Tu – cũng là một Lịch sử không chút nào rời xa Truyền thống Anh hùng Bất khuất quý báu đó!

Nhằm ôn lại truyền thống lịch sử của dân tộc, lịch sử của dòng họ trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc, tưởng nhớ đến Đô Hồ Đại Vương PHẠM TU – vị anh hùng được họ Phạm Việt Nam suy tôn là Thượng thủy tổ, nhắc nhở con cháu hiểu rõ giá trị đạo lý “Chim có tổ, người có tông”.

Năm nay 2012, là năm thứ hai, Hội Đồng Họ Phạm Tp. HCM (kể từ năm 2011, tất cả Ban Liên lạc Họ Phạm đều mang danh xưng mới là Hội Đồng họ Phạm) mặc dù được thành lập sau thủ đô Hà Nội rất nhiều năm, nhưng Tp.HCM đã hăng hái tổ chức hai kỳ Đại hội Họ Phạm toàn thành phố lần I, lần II và Lễ Giỗ Tổ họ Phạm và Đêm nhạc họ Phạm lần 1 vào năm 2011 và năm nay, Hội đồng họ Phạm Tp.HCM tổ chức Lễ Giỗ Tổ họ Phạm và Đêm nhạc họ Phạm lần 2 vào ngày 20-7 âm lịch, nhân ngày Giỗ thứ 1467 của Danh tướng PHẠM TU vào ngày 4-9-2012 tại Nhà Văn hóa Thiếu Nhi Tp.HCM.

Cũng tại đây, vào đêm ngày 5-9 sau đó là Đêm Nhạc “Hướng về Ngày Giỗ Tổ Họ Phạm lần 2”- theo Bs. Phạm Văn Căn, sẽ mang tên “Thương quá Việt Nam” , đây là tên một nhạc phẩm về tình tự dân tộc nổi tiếng của một nhạc sĩ họ Phạm là nhạc sĩ Phạm Thế Mỹ. Ngoài ra, họ Phạm còn có nhiều nhạc sĩ tiền bối như Phạm Duy, Phạm Tuyên (năm ngoái hai nhạc sĩ này có tham dự Đêm nhạc họ Phạm, hy vọng năm nay hai vị cũng sẽ hiện diện), Phạm Đình Chương, Phạm Trọng Cầu…

Hội đồng họ Phạm Tp.HCM hy vọng rằng các gia tộc họ Phạm trong toàn thành phố sẽ luôn luôn hướng về Ông Tổ họ Phạm, để tất cả các đồng tộc cùng hợp tác với vị Chủ tịch Hội đồng họ Phạm Tp.HCM nhằm nâng cao tinh thần vì dòng tộc, hoạt động hăng say trong công việc để làm rạng danh dòng họ Phạm, theo đúng tinh thần anh hùng bất khuất của Danh tướng Phạm Tu - vị Thượng Thủy Tổ họ Phạm mến yêu của chúng ta.


___________________________________

(Tham khảo: sách Danh tướng Phạm Tu, NXB Văn Hóa-Thông Tin, Hà Nội, 1999)
© Tác giả giữ bản quyền.
. Cập nhật ngày 26.08.2012 theo nguyên bản của tác giả từ SaìGòn .
. Đăng tải lại vui lòng ghi rõ nguồn Newvietart.com