- Dân tộc Việt Nam -
Lịch Sử Dựng Nước và Giữ Nước
Song Hành cùng Lịch Sử Chống Ngoại Xâm



Lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam nếu tính từ thời đại Hùng Vương (trên hai ngàn năm trước công nguyên) cho tới thời đại ngày nay (trên hai ngàn năm sau công nguyên) đã cho thấy Việt Nam là một đất nước và một dân tộc phải chiến đấu chống ngoại xâm và sự đô hộ của ngoại bang rất nhiều lần, nhiều năm tháng mà không có đất nước, dân tộc nào trên thế giới có thể so sánh được. Đó là những cuộc xâm lăng đẫm máu và đô hộ tàn bạo nhất thế giới mà dân tộc Việt Nam phải gánh chịu và không ngừng nổi dậy kháng chiến để giành độc lập, tự do.

1-Thử nhìn lại nơi phát tích của dân tộc Việt Nam :

Theo Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim (NXB Văn hóa Thông tin, 1999) và Sổ tay báo cáo viên năm 2005 (Ban Tư tưởng Văn hóa trung ương), thời đại Hùng Vương kéo dài từ năm 2879 tới năm 258 trước Công nguyên, tính được 2.581 năm. Trong suốt triều đại phong kiến đầu tiên lâu dài này trong lịch sử văn minh Việt Nam chỉ thấy ghi nhận một cuộc xâm lăng của nhà Ân còn gọi là nhà Thương (thế kỷ XVII - XI trước Tây lịch) xảy ra ở thời Hùng Vương thứ 6 (1712-1632 tr. TL). Trong sử ta gọi là giặc Ân ở vùng đất Hà Nam thuộc lưu vực nam sông Hoàng Hà (Trung Quốc) và anh hùng dân tộc trẻ tuổi đánh thắng cuộc xâm lăng này là Thánh Gióng tức Phù Đổng Thiên Vương (nay có di tích ở làng Phù Đổng huyện Đông Anh, Hà Nội). Cuộc xâm lăng này không diễn ra ở vùng Bắc Bộ ngày nay mà là ở khu vực thuộc địa bàn gần Hà Nam tức là Hồ Nam (Trung Quốc). Đó là nước Xích Quỷ có địa bàn rộng lớn, “phía bắc giáp Động Đình hồ (Hồ Nam), phía nam giáp nước Hồ Tôn (Chiêm Thành), phía tây giáp Ba Thục (Tứ Xuyên), phía đông giáp biển Nam Hải” (VNSL, trang 23) mà vua cai trị đẩu tiên nước này là Kinh Dương Vương húy Lộc Tục thuộc Chi Càn thời đại Hùng Vương (Sổ tay Báo cáo viên năm 2005, trang 140).

Theo nghiên cứu của Bình Nguyên Lộc trong Nguồn gốc Mã lai của dân tộc Việt Nam, NXB Bách Bộc, Sài Gòn 1971, “Tổ tiên ta có địa bàn cũ ở Hoa Bắc nhưng chỉ lập quốc ở bờ Nam Dương Tử. Trí nhớ của dân ta chỉ có thể trở về nguồn tới thời lập quốc mà thôi, và truyền thuyết rằng thuở xưa ta có biên giới phía bắc là hồ Động Đình đúng sự thật” (trang 823). Địa bàn nước Việt Nam cổ lập quốc ở miền trung Trung Quốc ngày nay được cả hai nhà nghiên cứu và sử học xác định là khu vực Hồ Bắc, Hồ Nam (Trung Quốc ngày nay). Dân Lạc Việt (nguồn gốc Mã Lai) xuất hiện ở Hoa Bắc trên sông Hoàng Hà rồi bị đánh đuổi chạy vượt (Việt) xuống Hoa Nam và thời đại Hùng Vương có mặt ở đây. Nhóm tộc trước xuất hiện ở bắc Trung Quốc được gọi Bách Bộc (nơi có sông Bộc, chi nhánh sông Hoàng Hà) tới bình nguyên Vân Mộng tức hồ Động Đình, nhóm tộc sau là Lạc Việt ở lưu vực sông Nhĩ Hà (sông Hồng) có nhiều mối tương đồng (Sđd trang 822). Chuyện con rồng cháu tiên tức Lạc Long Quân và Âu Cơ là vua Hùng thứ hai và hoàng hậu xảy ra chung quanh hồ Động Đình.

2-Những cuộc xâm lược trước thời đại Hùng Vương :

Theo Bình Nguyên Lộc, dân Việt hay nước Việt và sau này có tên nước vĩnh viễn Việt Nam là bắt nguồn từ chữ Việt (Vượt), được viết theo tượng hình “Lưỡi rìu” (Dân Hán lấy rìu để đặt tên tộc Việt) xuất hiện từ thời nhà Thương (Ân), dụng cụ độc đáo bằng đồng của tộc người chế tác nó – Lưỡi rìu này đào được ở Quốc Oai (huyện Thanh Trì, Hà Nội) do trường Bác cổ Viễn Đông phát hiện trước 1945. Tới thời nhà Chu (sau Ân - Thương) chữ Việt viết theo chữ Mễ do dân Việt đã tiến lên nông nghiệp. Chữ Việt này dùng chỉ chi Lac hay chi Âu mà sau này hợp nhất thành Âu Lạc (Âu Việt và Lạc Việt) sau khi Thục Phán tức An Dương Vương thay thế Hùng Vương.

Mặc dù Hùng Vương thắng được giặc Ân nhưng phải trả giá bằng cuộc di tản xuống phía Nam sông Dương Tử. Chữ Việt lúc đó có nghĩa “vượt qua”. Vào năm 672 Tr TL, vua Sở Thành Vương lên ngôi và vua nhà Chu này lại xuống chiếu phủ dụ với quan dân mình : “Khanh hãy tự chế phục và bình định những rợ Nam man để cho lũ man di Việt đừng xâm phạm Trung nguyên.” (sách của BNL đd, trang 783). Sau đó, xảy ra biến động lớn về chiến sự trên đất nước Trung nguyên là thời kỳ Chiến quốc kéo dài 500 năm nhằm phân bố lại dân, đất từ thời kỳ chiếm hữu nô lệ chuyển sang thời kỳ phong kiến làm phân ly và tan rã nhiều bộ tộc và vùng sinh tụ, nhiều tộc bị diệt, nhiều nước mới ra đời.

Trong tình hình đó, chi Lạc chạy xuống phía Nam (Bắc bộ ngày nay) bằng đường bộ và chi Âu gặp lại chi Lạc sau khi chạy bằng đường biển. Trải qua một thời gian dài qua nhiều thế kỷ, dân Việt bị các triều đại phong kiến Trung nguyên vừa đánh chiếm vừa tiêu diệt từ vùng sinh tụ này tới vùng sinh tụ khác. Sau cùng, vùng sinh tụ mới là khu vực Bắc Hộ và định cư ở Phong Châu (nay thuộc tỉnh Vĩnh Phú), có đền thờ vua Hùng ở núi Nghĩa Lĩnh (đặt theo tên núi Ngũ Lĩnh thuộc Trung nguyên ở vùng Hoa Nam để nhớ địa bàn cũ).

Như vậy, sau cuộc di tản do bị đánh đuổi dài trên hai ngàn năm suốt thời đại 18 đời Hùng Vương trên một địa bàn dài và rộng từ Hoa Bắc (đồng bằng sông Hoàng Hà) xuống Hoa Nam (đồng bằng sông Dương Tử) rồi mới tới Bắc Bộ và Bắc Trung bộ (Thanh Hóa), vẫn chiếm lĩnh vùng sinh tụ thuộc đồng bằng sông Hồng, sông Mã và sông Cả vì đã có nền văn minh lúa nước. Sau khi định cư ổn định bền vững người Việt mới có điều kiện hệ thống lại tiến trình lịch sử của đất nước Văn Lang – Âu Lạc nhưng chỉ ghi nhớ theo truyền miệng thành truyền thuyết về chuyện Lạc Long Quân, Âu Cơ, Thánh Gióng theo hiện tại tức chuyện xảy ra chung quanh địa bàn lập quốc mới thời Hùng Vương 18 thuộc địa bàn Bắc Bộ ngày nay.

3-Những cuộc xâm lược sau thời đại Hùng Vương :

Chắc chắn trong quá trình phát triển và tồn tại qua trên hai ngàn năm với 18 đời vua Hùng Vương không thể chỉ có cuộc xâm lăng của nhà Ân nhưng vì giặc nhà Ân là tàn bạo nổi bật nên dân Việt mới còn nhớ trong tâm trí để truyền lại cho con cháu đời sau.

Nhà nước Văn Lang – Âu Lạc ở khu vực Bắc Bộ được hình thành cùng thời với sự thống nhất của nhà Tần bên Trung nguyên (thu tóm 6 nước). Sử sách nước ta chỉ được ghi chép kể từ thời kỳ này. Sau khi thống nhất Trung nguyên, chế độ phong kiến mới của nhà Tần ra đời liền tính ngay tới chuyện bành trướng tiếp tục qua phía Tây và xuống phía Nam. Cuộc xâm lăng đầu tiên của nhà Tần đối với nhà nước Văn Lang sau vua Hùng thứ 18 quả là nặng nề, tàn bạo ở vào lúc không có vua kế tục. Đất nước bị bỏ trống 10 năm (258-218) trước họa xâm lăng của nhà Tần. Dân Lạc Việt không có người lãnh đạo phải trốn vào rừng tìm cách cho61gn trả theo lối đánh du kích. Đó là năm 218 tr TL, Tần Thủy Hoàng sai hiệu úy Đồ Thư chỉ huy 50 vạn quân chia làm 5 đạo tiến đánh Văn Lang từ năm 214 tới năm 208 thì kết thúc do Tần Thủy Hoàng qua đời.(Sổ tay Báo cáo viên đd, trang 137).

Trước tình hình đó, Thục Phán là thủ lĩnh của tộc Âu Việt đứng ra hợp nhất với tộc Lạc Việt nhà nước Văn Lang để lập ra nhà nước Âu Lạc do Thục Phúc trị vì tức vua An Dương Vương dời đô xuống Cổ Loa thành (nay thuộc huyện Đông Anh, Hà Nội). Trong thời gian nhà Tần tạm ngưng xâm lăng Văn Lang và trong lúc có nhà nước mới Âu Lạc thì ở vùng Nam Hải (nay là Quảng Châu) có quan úy Nhâm Ngao mưu tính đánh chiếm Âu Lạc nhưng qua đời sớm, giao quyền cho Triệu Đà tiếp tục xâm lăng nước ta thời An Dương Vương. Do dùng kế “bang giao xuôi gia” qua mối tình Trọng Thủy – Mỵ Châu mà chiếm được Âu Lạc (năm 207 tr TL) lập ra nước Nam Việt cai trị 82 năm (207-111 tr TL). Nhưng sau đó, tới phiên mình, nhà Triệu bị nhà Tây Hán (202 tr TL - 24 sau TL) bành trướng đánh chiếm và sáp nhập Nam Việt (có nước ta) vào lãnh thổ Trung Hoa rộng lớn (năm 111 tr TL). Nhà Tây Hán chia nước Nam Việt làm 9 quận để cai trị, đặt tên là Giao Chỉ bộ gồm các tỉnh Nam Hải, Quảng Đông, Quảng Tây, đảo Hải Nam và nước Văn Lang – Âu Lạc cũ của ta là Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam (nay là Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ). Sử gia Trần Trọng Kim tác giả Việt Nam sử lược (sđd) gọi thời kỳ nước ta bị nhà Tây Hán đô hộ 72 năm (111 tr TL – 39 sau TL) là Bắc thuộc lần thứ nhất. Chấm dứt thời kỳ này là cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng (40-43 sau TL). Nước ta có tới ba lần Bắc thuộc tức bị các triều đại phong kiến phương Bắc (nay là Trung Quốc) đô hộ hay cai trị tính ra có gần 1.000 năm, gồm có Bắc thuộc lần thứ nhất là 72 năm, Bắc thuộc lần thứ hai dài trên 500 năm (43-544) và Bắc thuộc lần thứ ba dài trên 300 năm (603-939). Tổng cộng nước ta bị Bắc thuộc tới 964 năm. Nói 1.000 năm là tính chung từ trước Tây lịch tới thời điểm giành độc lập của Ngô Quyền đẩy lui cuộc xâm lược của quân Nam Hán ở sông Bạch Đằng năm 938.

Nhìn lại quá trình trị vì của thời đại Hùng Vương dài trên 2.500 năm với 18 đời vua có địa bàn sinh tụ liên tục di dời do bị các triều đại phong kiến đánh đuổi, xâm chiếm và sát hại từ miền Hoa Bắc phía trên sông Hoàng Hà xuống Hoa Trung (sông Dương Tử) rồi tới Hoa Nam (núi Ngũ Lĩnh - sông Tây Giang) nhưng vẫn chưa yên, sau cùng tới đồng bằng Bắc Bộ (sông Hồng) thì mới trụ lại lâu dài. Một dân tộc không ngừng chiến đấu để sinh tồn và phát triển suốt 25 thế kỷ cho thấy ý thức dân tộc và tinh thần yêu nước luôn được giữ vững cao độ. Đây là một quá trình chịu đựng gian khổ với nhiều hy sinh mất mát không nhỏ nhưng không bị đồng hóa hay tiêu diệt. Đó là dân tộc biết tiếp thu tinh hoa văn hóa ngoại lai nhưng không bị đồng hóa trong quá trình hội nhập và chung đụng, giao tiếp mà không bị hòa tan làm mất cội nguồn. Có nhìn lại quá trình vừa chiến đấu vừa tự bảo vệ để xây dựng và vừa di chuyển liên tục trong 25 thế kỷ qua một địa bàn suốt chiều dài của đất nước Trung nguyên của Hán tộc hàng ngàn cây số, chúng ta mới cảm nhận hết sức chiến đấu, sự đoàn kết và tinh thần dân tộc Việt Nam luôn đáng tự hào, một truyền thống quý giá.

Chính nhờ vào tinh thần hòa hiếu “muốn làm bạn với mọi dân tộc” và chỉ chiến đấu để tự bảo vệ nền độc lập dân tộc, sự vẹn toàn lãnh thổ nên suốt trên bước đường di tản xuống phương Nam của dân tộc Việt nên có nhiều dân tộc khác cùng đi theo để được đùm bọc, chở che và tương trợ. Vì thế, khi dân ta định cư ở vùng Bắc Bộ thì các dân tộc anh em khác kéo theo nương nhờ và làm phên dậu như ngày nay hiện hữu của nhiều dân tộc sống hòa hợp để cùng chung sức xây dựng và bảo vệ đất nước Việt Nam. Đó là ta đi trước họ đi theo sau và nhận chung cội nguồn, đều là anh em. Trong quá trình dựng nước và giữ nước, dân ta có kinh nghiệm xương máu để nhận định rằng : khi ta mạnh thì họ tạm ngưng nhưng khi ta suy yếu hoặc nội tình rối reng thì họ lại phát động tiếp cuộc xâm lược mới để thôn tính với mưu đồ bành trướng, chiếm đóng và khai thác sản vật làm giàu cho chính quốc…

Sau thời đại Hùng Vương, các triều đại phong kiến phương Bắc lại tiếp tục phát động chiến tranh xâm lược để thôn tính nước ta và đặt bộ máy cai trị như một quận huyện làm nên ba thời kỳ Bắc thuộc kéo dài gần 10 thế kỷ như đã nói (111-939). Thế nhưng, dân Việt không chịu bó tay để bị xiềng xích và làm tôi mọi. Cho nên trong thời kỳ Bắc thuộc nào cũng có nhiều cuộc nổi dậy để đánh đuổi ngoại xâm giành độc lập cho đất nước, dân tộc. Trong Bắc thuộc lần thứ nhất, khởi đầu là Hai Bà Trưng giành độc lập trong 4 năm ngắn ngủi (40-43) nhưng chứng tỏ chí khí anh hùng của nữ giới, ứng với câu ngạn ngữ :”Giặc đến nhà, đàn bà cũng phải đánh”. Trong Bắc thuộc lần hai có thêm bà Triệu và anh trai đứng lên chiến đấu tuy bất thành nhưng cho thấy tinh thần yêu nước và quật khởi kiên cường của người dân trước họa ngoại xâm. Trong thời kỳ này lại có thêm anh hùng Lý Bôn (Bí) nổi lên đánh đổ sự cai trị của nhà Lương (Trung Hoa) tự xưng Nam Việt đế, đặt tên nước là Vạn Xuân. Sau đó có thêm Triệu Quang Phục và Lý Phật Tử chống lại sự đô hộ của nhà Tùy.

Nhà Đường cai trị nước ta thời Bắc thuộc lần thứ ba có Mai Thúc Loan tức Mai Hắc Đế và Phùng Hưng tức Bố Cái đại vương.khởi nghĩa đánh chiếm nhiều nơi cho đến Khúc Thừa Dụ, Dương Diên Nghệ và Ngô Quyền tiếp tục nổi dậy với kết quả là châm dứt thời kỳ Bắc thuộc thứ ba giành lại nền tự chủ cho đất nước. Kể từ đây, nước ta đã được độc lập và các chế độ phong kiến nội địa tiếp tục thay nhau cai trị gồm có nhà Ngô (939-965), nhà Đinh (968-980), nhà Tiền Lê (980-1009), nhà Lý (1010-1225), nhà Trần (1225-1400), nhà Lê (1428-1788), nhà Hậu Lê (1533-1788), thời kỳ Trịnh-Nguyễn phân tranh, nhà Nguyễn Tây Sơn (1788-1802), nhà Nguyễn (1802-1945).

Trong thời kỳ độc lập, tự chủ với gần 10 triều đại phong kiến nói trên kéo dài 10 thế kỷ. Đáng lẽ, dân nước Việt đã có biên cương, lãnh thổ và vua chúa trị vì giống như các triều đại phong kiến phương Bắc thì phải được tôn trọng chủ quyền lẫn nhau. Thế nhưng, họ lại dòm ngó và thừa cơ hội thuận lợi là không ngừng mở nhiều cuộc chiến tranh xâm lược để tiếp tục đặt ách thống trị của nước lớn. Biết đánh là thua nhưng họ vẫn đánh vì tư tưởng “Đại hãn” và chiến lược “Bành trướng”. Hình như họ vẫn cay cú với lịch sử 30 thế kỷ kháng chiến thắng lợi của dân tộc Việt Nam.

4-Những cuộc xâm lược dưới các triều đại phong kiến nội địa :

Nước ta mới bắt đầu xây dựng nền độc lập, tự chủ sau gần 10 thế kỷ Bắc thuộc và vừa thoát khỏi tình trạng loạn “Thập nhị sứ quân” với sự thắng lợi của Đinh Bộ Lĩnh tức vua Đinh Tiên Hoàng lập ra nước Đại Cồ Việt non trẻ (970) sau đó chuyển sang nhà Tiền Lê (980-1009) thì nhà Tống khởi binh xâm lược nhưng bị đại bại trên bộ ở Chi Lăng (tỉnh Lạng Sơn) và trên thủy ở Bạch Đằng Giang (Hải Phòng). Kế tiếp, khởi đầu triều đại nhà Lý (1010-1225) với kinh đô mới Thăng Long, nhà Tống lại đưa quân chinh phạt cùng lúc với việc đánh phá biên giới phía nam của Chiêm Thành nhưng bị tướng Lý Thường Kiệt đánh bại ở sông Như Nguyệt đồng thời đất nước được mở rộng ở phía nam với việc vua Chiêm thua trận dâng tặng vùng đất thuộc tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị.

Khi nhà Trần (1225-1400) thay nhà Lý ở nước ta thì nhà Tống phương Bắc bị người ngoại tộc Mông Cổ xâm chiếm lập ra nhà Nguyên. Tư tưởng bành trước cộng thêm tư tưởng Đại hãn tiếp tục là mối họa của Việt Nam. Tới ba lần nhà Nguyên phát động xâm chiếm nước ta nhưng đều bị bẻ gãy bởi sự đoàn kết nhất trí của triều đình nhà Trần, sự đồng lòng của nhân dân và tài thao lược của tập thể tướng lĩnh được Trần Hưng Đạo chỉ huy.

Tới thời Hậu Trần, lấy cớ Hồ Quý Ly soán ngôi vua mà nhà Minh thay thế nhà Nguyên đưa quân sang đánh chiếm Đại Việt và đô hộ suốt 10 năm với chính sách khắc nghiệt, tàn bạo nhất, phá hoại nền văn hóa dân tộc Việt cả vật thể và phi vật thể. Nhóm anh hùng hào kiệt đất Lam Sơn (Thanh Hóa) quy tụ lại, trong đó có mưu trí của Nguyễn Trãi được Lê Lợi phát động cuộc khởi nghĩa thành công lật đổ nền thống trị của nhà Minh.

Trong thời Hậu Lê, sau một thời gian dài xảy ra cuộc phân tranh Nam Bắc mưu bá đồ vương của chúa Nguyễn ở Đàng Trong và chúa Trịnh ở Đàng Ngoài, ba anh em anh hùng áo vải Tây Sơn nổi lên tập hợp lực lượng nông dân, lao động để đánh đổ hai Chúa giành quyền giữ ngôi vua thay thế nhà Hậu Lê suy vong. Thừa cơ hội này, Thanh triều (Mãn Thanh) sau khi hoàn thành công cuộc thống trị toàn bộ Trung Nguyên cử hàng chục vạn quân tinh nhuệ thuộc các tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây, Vân Nam ồ ạt tràn sang biên giới can thiệp vào nội bộ nước ta chiếm đóng Thăng Long, vơ vét của cải và sát hại dân lành vô tội. Sau khi đánh tan cuộc xâm lược mới của quân Xiêm ở Rạch Gầm - Xoài Mút (Tiền Giang) Quang Trung Nguyễn Huệ nhanh chóng đưa đại quân ra Bắc giải phóng Thăng Long chiến thắng nhà Thanh xâm lược (1789).

Nghĩ mình là nước nhỏ nên vua Quang Trung vẫn phải nhúng nhường gởi sớ xin giảng hòa. Vua Thanh theo thói cũ nước lớn nên phong cho Quang Trung làm An Nam quốc vương. Sau đó Quang Trung qua đời, triều đình Tây Sơn lần lượt suy vi để cho Nguyễn Phúc Ánh chinh phục từ Nam ra Bắc và lên ngôi vua lấy niên hiệu Gia Long năm 1802. Vua đầu triều Nguyễn vẫn theo lệ cũ, nước nhỏ triều cống nước lớn và xin thụ phong, đổi tên nước là Việt Nam. Từ đó trở về sau, Việt Nam vẫn giữ lệ cũ đối xử với nhà Thanh cho đến khi thực dân Pháp đưa quân viễn chinh sang xâm chiếm nước ta vào năm 1858 và tới năm 1884 thì hoàn thành cuộc chiếm đóng Nam Kỳ và Bắc Kỳ và ký với triều đình Huế hòa ước Patenôtre, ký với Bắc Kinh ở Thiên Tân hòa ước Fourrier để quân Thanh ở ba tỉnh Lạng Sơn, Cao Bằng và Lào Cai rút về nước, chấm dứt vĩnh viễn quan hệ Việt Nam – Trung Hoa. Thực tế tới ngày 27/4/1885 năm Quang Tự nhà Thanh thứ 11, quân nhà Thanh mới rút hết khỏi Việt Nam, công nhận nền bảo hộ của Pháp đối với Việt Nam, sau khi quân Pháp tổ chức chiến tranh ác liệt với quân Thanh ở Lạng Sơn và Đài Loan (VNSL sđd, chương XIII, trang 572-577). Ngược lại, qua hòa ước này, Pháp và Hoa hòa hoãn trở lại để buôn bán với nhau, thu lợi về mặt kinh tế.

Trước đó, triều đình nhà Thanh có mưu đồ cùng Pháp chia đôi Bắc Kỳ bằng cách đưa quân chiếm đóng ba tỉnh biên giới nói trên. Nhưng thực dân Pháp biết nội tình nhà Thanh không còn thực lực vì đang ở vào giai đoạn bị các nước phương Tây và Nhật chia nhau xâu xé nên không nhượng bộ Trung Hoa mà đưa quân đánh chiếm toàn bộ các tỉnh biên giới phía Bắc của Việt Nam. Cuộc chiến này xảy ra trong thời gian ngắn nhưng tổn thất của hai bên khá nặng nề. Rốt cuộc nhà Thanh đành hòa dịu với Pháp thông qua hòa ước Thiên Tân.

Biên giới Việt – Hoa được Pháp đặt định và cắm cột mốc từ thời đó để kiểm soát hai bên qua lại và buộc phải có giấy thông hành. Nay thì hai nhà nước Việt Nam – Trung Quốc đã có nhiều thỏa hiệp để sửa lại và cắm cột mốc mới cho phù hợp với quyền lợi và tình cảm của hai nước Cộng sản anh em. Nhưng biên giới trên biển lại xảy ra nhiều rắc rối chưa được hai bên giải quyết. Đó là quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa ở biển Đông thuộc Việt Nam từ xa xưa tới nay bởi vì vùng biển của Trung Quốc chỉ tới đảo Hải Nam ngang vịnh Bắc Bộ của Việt Nam mà thôi, trong khi vùng biển Đông của Việt Nam bao gồm quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa có chủ quyền từ thời nhà Hậu Lê (chúa Trịnh, chúa Nguyễn), nhà Nguyễn sau 1802. Đầu triều nhà Nguyễn đã có đội Hoàng Sa thường xuyên hoạt động ở Hoàng Sa lấy dân của xã An Vĩnh huyện Bình Sơn tỉnh Quảng Ngãi. (Tạp chí Xưa-Nay số 102 – 2001)

5-Những cuộc xâm lược thời kỳ dân chủ nhân dân :

Tới năm 1972 thời gian diễn ra hội nghị hòa đàm Paris thì Trung Quốc mới đưa quân tới đánh chiếm Hòang Sa cho tới nay do hải quân VNCH trấn giữ lúc đó. Đây là động thái Trung Quốc xâm chiếm vùng hải đảo của Việt Nam. Lúc ấy, do hai miền Nam Bắc còn đang kẹt trong cuộc chiến giải phóng miền Nam nên Hoàng Sa tạm thời để Trung Quốc chiếm giữ. Chính phủ Sài Gòn (VNCH) lúc đó đã đưa ra nhiều bằng chứng cho quốc tế thấy Hoàng Sa thuộc Việt Nam. Còn chính phủ HàNội (VNDCCH) nghĩ là Trung Quốc anh em sẽ giao trả lại cho Việt Nam sau khi thống nhất đất nước.

Nhưng đó là bề ngoài, còn bề trong nước lớn từ triều đại phong kiến qua dân quốc đến cộng sản, không ai chịu từ bỏ ý định coi Việt Nam như chư hầu bằng mọi cách và mọi cơ hội, kể cả đối với các chế độ kế thừa sau này.

Sau triều đình nhà Thanh sụp đổ, chế độ dân quốc do Tưởng Giới Thạch lãnh đạo thay thế. Sau khi phát-xít Nhật đầu hàng đồng minh, Tưởng Giới Thạch đã nhanh chóng đưa Trung Hoa dân quốc cấu kết với Mỹ, Pháp để chiếm đóng Viêt Nam mặc dù Việt Nam dân chủ cộng hòa đã được thành lập do Đảng Cộng sản lãnh đạo sau khi Tổng khởi nghĩa thắng lợi (tháng 8/1945), thực dân Pháp bị Nhật đảo chính. Không ngờ hội nghị Posdam của các nước đồng minh thắng Nhật diễn ra từ ngày 17/7 đến ngày 2/8/1945 đã quy định cho quân đội Trung Hoa vào Việt Nam để giải giới phát xít Nhật theo âm mưu của Pháp, Mỹ. Lập tức họ Tưởng vẫn còn mang nặng tư tưởng Đại hãn nên lập kế hoạch “Hoa quân nhập Việt”. Theo đây, quân Tưởng đã cho lập ra một cơ quan chuyên trách về Việt Nam gọi là “Việt Nam Cách mạng chỉ đạo thất” đặt tại Đệ tứ quân khu (Quảng Tây – Vân Nam) dưới sự chỉ đạo của tướng Trương Phát Khuê, Tiêu Văn, Lư Hán và tuyên truyền cho một số người Việt sống ở các tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây, Vân Nam và dọc biên giới Trung – Việt, các tổ chức chính trị phản động như Việt cách của Nguyễn Hải Thần đi theo.

Giữa tháng 3/1945, Tiêu Văn tới Côn Minh tổ chức hai đạo quân chuẩn bị tiến vào Việt Nam với 20 vạn quân ở tỉnh Vân Nam và Quảng Tây do Trương Phát Khuê chỉ huy. Đây là cuộc xâm lăng Việt Nam trong hòa bình hợp pháp. Đảng Phục quốc và Việt cách phản động làm nhiệm vụ dọn đường trước. Tổng bộ Việt Minh biết được âm mưu này nên đã tổ chức một số chiến sĩ cách mạng nòng cốt xâm nhập vào nội bộ để giác ngộ và phân ly bị tan rã. Ngày 22/8/1945, 4 quân đoàn Trung hoa quốc dân đảng vượt biên giới Trung – Việt do tướng Long Vân chỉ huy cùng với Tiêu Văn và Lư Hán theo bốn ngã tới Hải Phòng, Quảng Ninh, Cao Bằng, Lạng Sơn, Lào Cai. Sau đó tới Hà Nội để giải giáp quân Nhật nhưng có mưu toan lật đổ chính quyền cách mạng non trẻ VNDCCH. Để đối phó với tình hình nguy hiểm “lưỡng đầu thọ địch” này, Chính phủ VNDCCH đã thực hiện chủ trương “hòa để tiến” nên ký hiệp định sơ bộ ngày 6/3/1946 đồng ý cho 15.000 quân Pháp vào thay thế quân Trung Hoa Tưởng và sẽ rút dần trong 5 năm. Chính phủ còn thực hiện khẩu hiệu “Hoa – Việt thân thiện” với ý nghĩa “Chúng hung hăng tiến công ta. Ta không đánh lại nhưng vận động nhân dân không hợp tác” nhằm mục đích “Lúc thì tạm hòa hõan với Tưởng để rảnh tay đối phó với thực dân Pháp, lúc thì tạm hòa hõan với Pháp để đuổi cổ quân Tưởng và quét sạch bọn phản động tay sai của Tưởng, giành thời gian để củng cố lực lượng, chuẩn bị toàn quốc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược…” và Việt Nam đã thành công. (Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, sơ thảo năm 1981, trang 480).

Trong thời gian khó khăn đó, nhân dân Việt Nam đã mưu trí, dũng cảm và kiên trì giành thắng lợi trong sự nghiệp kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược và Trung hoa dân quốc của Tưởng Giới Thạch đã nhường chỗ cho Công hòa nhân dân Trung Hoa ra đời do Đảng cộng sản Trung Quốc lãnh đạo.

Nền cai trị của thực dân Pháp kéo dài gần 100 năm (1858 – 1954) rồi đế quốc Mỹ tạm chiếm hai mươi năm (1955 – 1975) đều đã cáo chunng từ sau ngày miền Nam được giải phóng và thống nhất đất nước.

6-Kết luận :

Tóm lại, trên bốn ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ nước, di chuyển trên một địa bàn rộng lớn kéo dài hàng ngàn cây số, dân tộc Việt Nam vừa kháng chiến thành công chống lại nhiều cuộc xâm lược vừa nổi dậy lật đổ nhiều chế độ cai trị của nhiều quốc gia, gần có xa có : trước bốn ngàn năm là hàng trăm cuộc ngoại xâm của các triều đại phong kiến phương Bắc và nặng nề nhất là ba lần Bắc thuộc kéo dài gần cả ngàn năm. Từ đầu công nguyện sau năm 43 cho đến năm 1945, các triều đại phong kiến nội địa luôn luôn bị các triều đại phong kiến phương Bắc nối tiếp nhau đưa quân sang chinh phạt để áp đặt nền thống trị nhưng đều bị đánh bại. Duy chỉ có triều đại Minh chiếm đóng nước ta chỉ được mười năm là bị nhân dân đứng lên lật đổ dưới sự lãnh đạo của Bình Định Vương Lê Lợi.

Tới đầu thế kỷ thứ XIX, thực hiện chủ nghĩa thực dân đi tìm thuộc địa, thực dân Pháp từ châu Âu đưa đòan quân viễn chinh với sự tham gia của Tây Ban Nha đánh chiếm nước ta đặt nền đô hộ từ năm 1858-1860 tới năm 1945-1954 thì kết thúc do chiến thắng Đại Biên Phủ dẫn đến hiệp định đình chiến Genève (20/7/1954) buộc thực dân Pháp rút hết quân về nước và trao trả nền độc lập cho Việt Nam. Tới đây, đế quốc Mỹ nhảy vào dựng nên chính phủ VNCH để đối đầu với chính phủ VNDCCH kéo dài cuộc chiến tranh xâm lược thêm hai mươi năm nữa mới chấm dứt bằng hiệp định hòa bình Paris năm 1972. Chỉ tới 30/4/1975, chế độ Sài Gòn (VNCH) sụp đổ tiêu vong thì đất nước Việt Nam mới được thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ có trên 54 dân tộc anh em sống chung hòa bình.

Từ sau năm 1975, Việt Nam và Trung Quốc là hai nước cộng sản anh em nhưng bản chất đại hãn và bành trướng của nước lớn nên hễ có cơ hội nào thuận lợi là anh “dạy” cho em một bài học nhớ đời. Đó là chiến tranh Hoa – Việt kéo dài hai năm 1978-1979 khi Trung Quốc đưa quân đánh chiếm các tỉnh giáp ranh phía Bắc tương tự như đã từng thực hiện hồi thời đụng đầu với Pháp năm 1884. Dù sao, đây vẫn là một cuộc chiến tranh xâm lược giống như bao nhiều cuộc chinh phạt thời phong kiến. Việc chiếm đóng Hoàng Sa hồi năm 1972 tới nay mà không giải quyết trao trả cho phía Việt Nam thì vẫn hiểu đó là một cuộc xâm chiếm và chiếm đóng bất hợp pháp, bất chấp công ước quốc tế về luật biển và chủ quyền của Việt Nam.

Dân tộc Việt Nam là một dân tộc hiếu hòa và trọng tình trọng nghĩa nên sau mỗi lần đánh thắng ngoại xâm và lật đổ ách thống trị nước lớn là đề nghị giải hòa, luôn giữ mối giao hảo hữu nghị tốt đẹp. Có điều khi bị chiếm đóng hay và đô hộ thì sớm muộn nhân dân Việt Nam vẫn tìm cách đứng lên giành lại độc lập và chủ quyền phần đất liền hay hải đảo bị chiếm đóng bất hợp pháp. Thời kỳ Bắc thuộc ba lần gần một ngàn năm, bị thực dân Pháp và đế quốc Mỹ chiếm đóng gần trăm năm, nhân dân Việt Nam vẫn đứng lên phá tan xiềng xích giành độc lập, tự do. Đối với một Hoàng Sa bị chiếm đóng thì sớm muộn nhân dân vẫn có thể giành lại được bằng mọi hình thức thương lượng hòa bình theo luật pháp quốc tế dưới sự giám sát và giúp đỡ của tổ chức ASEAN và Liên hợp quốc.

Dân tộc Việt Nam có một quá trình chống ngoại xâm và lật đổ nhiều nền đô hộ lâu dài của ngoại bang trên bốn ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ nước thì chắc chắn sẽ có nhiều kinh nghiệm, mưu trí, ý chí và tinh thần quật khởi để bảo vệ nền độc lập và sự toàn vẹn lãnh thổ mà tiền nhân đã dày công xây dựng và gìn giữ.



_____________________________________________________

(28/7/2012)


© Tác giả giữ bản quyền.
. Đăng ngày 29.07.2012 theo nguyên bản của tác giả chuyển từ Sài Gòn.
. TRÍCH ĐĂNG LẠI VUI LÒNG GHI RÕ NGUỒN NEWVIETART.COM .