
Định nghĩa theo tiếng Hoa, Trung Quốc tự coi nước mìnhnằm ở vị thế trung tâm toàn cầu, là quốc gia ở giữa thế giới. CờTrung Quốc cóngôi sao lớn, 4 ngôi sao nhỏ như "hầu chầu" viền quanh. Theo lý giảicủa Trung Quốc thì đó là dân tộc lớn nhất là người Hán(ngôi sao lớn), còn 4 dântộc khác là Mãn, Hội, Mông, Tạng (là những ngôi sao nhỏ). Theo nhiều nhà nghiêncứu Đông Phương, hàm ý bên trong của Mao Trạch Đông khi cho ra đời lá cờ này làTrung Quốc phải là nước lớn ở giữa, nằm ở góc trên cao, trong thế võ Thiếu Lâmgọi là “Thượng phong thế”, còn các nước khác cả 4 phương trên thế giới chầuchung quanh.
Riêng tên gọi Trung Nam Hải là nước ở giữa biển NamHải (Trung Quốc ghi trên bản đồ là biển Nam Trung Hoa). Các hồ trong công viêntại Trung Nam Hải cũng đặt tên là Trung Hải (biển ở giữa, gồm cả vịnh Bác Bộ củaViệt Nam, Nam Hải – kéo xuống tận châu Úc, Bắc Hải, vươn lên phía Bắc – vùngbiển Nga, Nhật…). Từ mưu đồ bao chiếm cả vùng biển lớn, trong đó có biển Đôngvề mình, Trung Quốc đã và đang gây ra nhiều cuộc tranh chấp với vùng biển củaNga, tranh chấp đảo Senkaku của Nhật (Trung Quốc gọi là Điếu Ngư), tranh chấpbãi ngầm Scarborough với Philippines, chiếm trọn quần đảo Hoàng Sa, một phầnTrường Sa và liên tục xâm phạm chủ quyền lãnh hải của Việt Nam, tranh chấp chủquyền vùng Aksai Chin, vùng Arunachai Pradesh với Ấn Độ, tranh chấp lãnh hảivới Malaysia, Brunei, vẽ “đường Lưỡi bò” đến tận vùng nội thủy củaIndonesia…chiếm 80% biển Đông.
Trung Nam Hải phản ánh mộng bá vương, bành trướng, báquyền của Trung Quốc xuống toàn bộ vùng Đông Nam Á, đó không những đơn thuần làtư tưởng nước lớn, mà còn là chiến lược đầy tham vọng của nhà cầm quyền Trungnguyên phong kiến. Ngay sau khi thành lập nước CHNDTH (1949), thì tháng 9-1950,tại Hội nghị Quân ủy Trung ương, Chủ tịch Mao Trạch Đông nói: “Chúng ta phảichinh phục trái đất, đó là mục tiêu của chúng ta”.

Mao Trạch Đông-Kissinger
Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh cho biết: Trong cuộc hội đàm với đại biểu Đảng Lao động Việt Nam ở Vũ Hán năm 1963, ông Mao nói : “Tôi sẽlàm Chủ tịch 500 triệu bần nông đưa quân xuống Đông Nam châu Á”. Trong cuộc họp BCH TƯ Đảng Cộng sản Trung Quốc tháng 8-1965, Chủ tịch Mao Trạch Đông khẳng định: “Chúng ta phải giành cho được Đông Nam Á, bao gồm cả miền Nam Việt Nam, Thái Lan, Miến Điện, Malaysia và Singapore… một vùng như Đông Nam châu Á rất giàu, ở đấy có nhiều khoáng sản… xứng đáng với sựtốn kém cần thiết để chiếm lấy…”.
Tại cuộc họp giữa 4 đảng cộng sản Việt Nam, Trung Quốc, Indonesia, Lào tại Quảng Đông tháng 4-1963, Thủ tướng Chu Ân Lai khẩn khoản: “Nước chúng tôi lớn, nhưng không có đường ra, nên rất mong Đảng Lao động Việt Nam mở cho con đường xuống Đông Nam châu Á”.
Thực chất từ trong mưu đồ, các thế hệ trong giới cầm quyền Trung Nam Hải không đơn thuần “mong VN mở cho con đường xuống Đông Nam Á”, mà chính họ muốn đánh chiếm Việt Nam để “Nam tiến” giành toàn khu vực Đông Nam Á. Nói khác đi, Việt Nam là cái gai mà Trung Quốc muốn đốn nhổ để rộng đường tiến chiếm biểnĐông và các nước Đông Nam Á.
Do vậy, trong công cuộc xây dựng CNXH ở Việt Nam, Trung Quốc đã có chủ trương rõ rệt: “Thống soái về chính trị, thuộc lụy về kinh tế,khống chế về quân sự, chiếm cứ bất vũ trang”. Sách lược của Trung Quốc là nhất định phải làm mọi cáchđể Việt Nam sát nhập vào lãnh thổ Trung Quốc, chiếm trọn Việt Nam, cả bán đảo Đông Dương, làm bàn đạp bành trướng về phía Thái Lan, Mianma, Malaysia rồi bao chiếm toàn bộ Đông Nam Á phải thuộc về Trung Quốc- được như thế mới xứng tầm Trung Nam Hải.
Từ chủ đích mang tính chiến lược ấy, Trung Quốc đặt địa danh các tỉnh giáp Việt Nam cũng thể hiện rõ mưu đồ. Có Bắc Kinh, Hà Bắc, tỉnh Quảng Đông, tỉnh Quảng Tây, nhưng riêng tỉnh Quảng Nam thì “đểdành”. Khi nào chiếm được Việt Nam, thậm chí cả Đông Dương thì đặt tên là tỉnh Quảng Nam chăng (?!).
Trướcsự xâm lược của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ vào Việt Nam và Đông Dương, TrungQuốc thấy thế mạnh của đối phương như vậy, cho nên đã liên tục “chơi” trò haimặt. Một mặt giúp Việt Nam để đất nước nhỏ bé phía Nam này thành bia đỡ đạn, giúp giữ yên cho Trung Quốc.Thực dân Pháp và đế quốc Mỹ lo đối phó với Việt Nam, sa lầy nghiêm trọng ở ViệtNam vì vậy Việt Nam trở thành bức “bình phong” che chắn hiệu quả cho TrungQuốc. Mặt khác, Trung Quốc ngầm bắt tay với Pháp và sau này với Mỹ để “chiaphần”, cắt Việt Nam thành 2 đoạn, miền Bắc thuộc Trung Quốc, miền Nam thuộcPháp hoặc Mỹ. Vì thế, cả hai Hiệp định (Giơ-ne-vơ 1955 và Pa –ri 1973), TrungQuốc đều nhúng tay vào, cả trong việc bày kế, thỏa hiệp và xúi giục). Điều đócàng thể hiện đường lối theo Chủ nghĩa Cộng sản của Trung Quốc chỉ là vỏ bọc bềngoài, bản chất là đế quốc Đại hán tham lam và bành trướng xưa nay vẫn không hềthay đổi!.
Sự bất đồng với Liên Xô trước đây là do Trung Quốc từlâu đã muốn tìm cơ hội bắt tay với Mỹ để dẹp bỏ, làm suy yếu Liên Xô, khôngmuốn có một nước Đông Âu lớn bên cạnh mình, đồng thời cũng có chủ trương bànhtrướng cương thổ lên phía Bác. Mối bất đồng Trung-Xô bùng nổ kể từ khi Khrushopbắt đầu thương thảo với Mỹ, TQ lo sợ bị bao vây cô lập nên vội phê phán Chủnghĩa xét lại đối với LX, bên trong thì thực hiện cách mạng văn hóa, hô hào"tự lực cách sinh", chủ trương "đại nhảy vọt" để qua mặtLX, chia rẽ khối đông âu và lôi kéo VN...Trong khi đó, một tay của Trung Quốccũng lén giấu phía sau bắt quan hệ nhằm thỏa hiệp với Mỹ để “ăn chia” nướcViệt, không muốn Liên Xô nhúng tay vào.
Khi nhận thấy Việt Nam có khả năng thực hiện giảiphóng, thống nhất đất nước, Trung Quốc lại ngấm ngầm bắt tay thỏa hiệp với Mỹ,đánh cướp quần đảo Hoàng Sa vào năm 1974, sau đó Trung Quốc dựng lên chế độKhmer Đỏ độc tài, phát xít, tự diệt chủng cho hết cả hơn 7 triệu dân Campuchiahòng thay người Trung Quốc vào chiếm cứ nước này. Trung Quốc dùng chính sách“Miên tự diệt Miên”, “Diệt Hắc hầu thay người Taù sang” (Hắc hầu là loài khỉđen, ám chỉ người Campuchia đen như khỉ).

Xe tăng Trung Quốc ở Campuchia
Chỉ trong hơn 3 năm,bọn phát xít Khmer Đỏ đã tàn sáthết hơn 3 triệu người dân Campuchia. Trung Quốc tuyền chọn bè lũ chóp bu củachế độ diệt chủng Polpot, Iêngxary, Khieuxamphon, cả ông Hoàng Xihanúc, gọi là“Trung ương 3 phái” đưa sang Trung Quốc nhồi sọ, đào tạo, huấn luyện, bày ra kếhoạch lật đỏ Lon non, trang bị cho quân đội Khmer Đỏ mọi thứ đến tận răng. Cùngthời điểm Việt Nam vừa giải phóng miền Nam, Trung Quốc còn lừa nước Lào, mởđường xuyên qua biên giới Trung-Lào, chạy dọc xương sống Việt Nam phía Tây giápLào để nối thông với Campuchia. Đường diệt chủng mới đi được một nửa, TrungQuốc còn cho giúp cho Polpot chiếm đảo Thổ Chu, để rồi chiếm Phú Quốc, từ đóđánh tập hậu Việt Nam từphía Tây Nam.
Nếu cắm chân được vững chắc tại Campuchia, Trung Quốcsẽ tạo ra thế ép Việt Nam từ bốn phía: Tây Nam, phía Lào, phía Bắc và phía Biển Đông. Trung Quốctoan tính, khi diệt hết người Campuchia, ít nhất ban đầu sẽ đưa được 20 triệungười Trung Quốc vào thay thế người Khmer,đứng chân coi như lãnh thổ Trung Quốctrên toàn bộ diện tích Campuchia. Âm mưuđó cũng nằm trong sách lược của TrungQuốc mở vùng định cư mới, “giãn dân”xuống Đông Nam Á. Chiếm được Việt Nam thìTrung Quốc “bóp nghẹt” Lào, chiếm cả Đông Dương, khống chế Thái Lan, Mianma,Malaysia…
Bản đồ quân sự TQ tấn công xâm lược Việt Nam 1979
(lưu ở Hạm đội Nam Hải)
Quân Tình nguyện Việt Nam đã giúp Mặt trận Dân tộcthống nhất Cứu quốc Campuchia(CCP)tiêu diệt Khmer Đỏ giải phóng đất nước, cứuhơn 4 triệu dân còn lại của Campuchia thoát khỏi họa diệt chủng vào ngày7-1-1979.Trước thất bại này,Trung Quốc tức lồng lộn lên như chó sói điên, bởiTrung Quốc cũng đâu có ngờ một mưu đồ chiến lược đã tưởng như đã nằm trong tầmtay, nay bị sụp đổ chóng vánh. Vì thế, chỉ hơn 1 tháng sau, ngày 17-2-1979,Trung Quốc hùng hổ xua quân xâm lược trên toàn tuyến 6 tỉnh biên giới phia Bắccủa Việt Nam, Đặng Tiểu Bình tuyên bố“Dạy cho Việt nam bài học”. Bài học gì, đólà bài học làm mất miếng mồi ngon của Trung Quốc, phá vỡ cả chiến lược “Hậuchiến Việt Nam, thay chân Mỹ chiếm Đông Dương”.
Từ năm 1980 đến nay, Trung Quốc liên tục xâm lấn, quấyrối biển Đông, trực tiếp nhất là với hai “nước láng giềng gần gũi” là Việt Namvà Philippines. Sau khi Việt –Trung “bình thường hóa” quan hệ trở lại năm 1990,nhà cầm quyền Trung Nam Hải (Bắc Kinh) đưa ra chiêu bài đạo đức giả hiệu, lừaphỉnh với cái gọi là “16 chữ và 4 tốt” nhưng vẫn rất hung hăng leo thang gâyhấn ở biển Đông, cắt cáp 2 tàu khảo sát dầu khí của chúng ta, liên tiếp bắngiết ngư dân , bắt tàu cá của ta để đòi tiền chuộc, luôn to mồm tuyên bố mộtcách vô lý chủ quyền "không thể tranh cãi" chiếm gần hết biển Đông vàcác quần đảo của Việt Nam và các nước Đông Nam Á, nhiều lần dọa đánh Việt Namvà Philippines… Những hành động của nhà cầm quyền Trung Nam Hải cố tình gâyhấn, tạo ra các điểm nóng tranh chấp đang gây những bất bình trong dư luận quốctếvà sục sôi tâm huyết của toàn dân Việt Nam vốn có truyền thống quật cườngchống giặc ngoại xâm bảo vệ nền độc lập dân tộc.

Trung Quốc tập trận trên biển Đông
Với việc mời thầu 9 lô mỏ dầu và ngay sau đó Tuyênbốthành lập thành phố Tam Sa, tổ chức bầu cử và lập ra chính quyền gồm 75 thànhviên và Bộ chỉ huy quân đồn trú thành phố Tam Sa, đưa tàu chiến thưởng trực vàtổ chức diễn tập ở Trường Sa, mục đích Trung Nam Hải của Trung Quốc đã quá rõ,cả thế giới đều biết mưu đồ bành trướng xuống Đông Nam Á đang được Trung Quốcráo riết thực hiện. Diễn tập bắn đạn thật của 27 tàu chiến tại Trường Sa, ngaytrên vùng biển chủ quyền của Việt Nam đã trở thành hành động xâm lược trắngtrợn. Bộ mặt thật của Trung Nam Hải đã phơi bày ra hết, coi như mọi sự đã “hainăm rõ mười”.
Đến nước này thì không thể vì bất cứ lý do gì mà còncó thể tin vào cái miệng lưỡi lúc nào cũng "hề hề hảo hảo" ngọt xớtcủa Trung Quốc, còn cố bám riết lấy "16 chữ vàng", "4 tốt"một cách đơn phương để rồi khi nước mất nhà tan dù có trăm lần hối hận cũngkhông thể nào bù đắp được gì (?!). Cần nhận diện cho rõ bản chất và diễn biếncả nghìn năm lịch sử, gần nhất là những sự kiện từ nửa đầu thế kỷ 20 đến nay,để có đối sách phù hợp, nhạy bén và cao tay. Cần phân biệt rõ đâu là đối ngoại,đối trọng, đối tác, đối tượng và cả đối đầu. Nếu vẫn giữ mãi sự cả tin, mấtcảnh giác, thiếu kiên quyết dứt khoát thì sẽ rất nguy hại và xảy ra hậu họakhông lường hết được. Nếu như không có bản lĩnh, thiếu quyết đoán, kém quyếtsách, chủ quan duy ý chí là có tội với dân tộc và với lịch sử.


