Bài này có chú thích:
“Thạch bàn: Vì vần bắt buộc, chúng tôi lấy ý “ngủ thạch bàn” thay gối đầu lên đá mà ngủ. Hiện ở nửa chừng núi Côn Sơn còn có chỗ gọi là Thạc Bàn ở bên suối, tương truyền là Nguyễn Trãi thường hay nằm nghỉ”.
Bản dich thơ Sau loạn đến Côn Sơn… có ưu điểm đã “cày vỡ”, nhưng cũng do bí vần, nên dùng nhiều từ Hán: cố san, tuyền thân… Đã dịch thơ chữ Hán ra tiếng Việt lại dùng thêm chữ Hán vào, ấy là điều nên tránh.
Cuối bài dịch thơ có thêm hai chữ thạch bàn, mà nguyên tác không có.
Hồi những năm sáu mươi của thế kỷ trước, có đến năm năm liền tôi dạy học tại xã Cộng Hoà (Chí Linh, Hải Dương)- xã có Côn Sơn. Từ trường tôi vào đến chùa Hun - Côn Sơn chừng hai cây số. Một lần bão, có cây thông lớn đổ. Trường tôi được làm thêm một lớp, các vì kèo, nóc bằng thông Côn Sơn. Không nhớ là đã đến Côn Sơn bao nhiêu lần, bao nhiêu lần tôi ngẩn ngơ trước cây đại sù sì hoa trắng, trước bia Thanh Hư Động và con suối quanh năm róc rách… Đọc Côn Sơn ca có câu: Côn Sơn có đá tần vần/ Mưa tuôn đá sạch ta nằm ta chơi (Côn Sơn hữu thạch/ Vũ tẩy đài phô bích/ Ngô dĩ vi đạm tịch), lại nghe các cụ truyền lại, trong Côn Sơn có thạch bàn, một phiến đá lớn lắm, phẳng phiu, xưa Nguyễn Trãi thường ra đó ngồi ngắm cảnh, làm thơ, suy tư việc nước… Nhưng hồi ấy rừng rậm, chúng tôi không sao tìm được. Xa Chí Linh chừng hai mươi năm, trở lại, khi di tích Côn Sơn đã được trùng tu, cây rừng đã vãn, người ta mở lối lên, theo suối, lên thượng nguồn, tìm thấy thạch bàn. Đó chính là thạch bàn lớn (còn có thạch bàn nhỏ). Phiến đá này bằng cái nền nhà năm gian, thường gọi là hòn đá năm gian, đã có người đo, nói rộng chừng 200met vuông.
Câu thơ cuối bài Loạn hậu đáo…, nguyên tác chữ Hán của Nguyễn Trãi: Cấp giản phanh trà chẩm thạch miên. Cấp là múc nước, giản là khe suối, phanh là nấu, trà: hẳn là trà xanh, chẩm: gối, thạch: đá, miên: ngủ. Nấu nước suối tinh khiết, trà mới ngon. Uống trà xong, gối đầu lên đá mà ngủ là thú, cái thú của một giấc thanh tịnh sau mười năm binh lửa (1417 - 1427). Cụm từ chẩm thạch miên, hình như có chịu ảnh hưởng của thơ Đường, bài thơ Đáp nhân của Thái Thượng Ẩn Giả, câu: Ngẫu lai tùng thụ hạ/ Cao chẩm thạch đầu miên (Tình cờ đến dưới gốc thông/ Cao đầu gối đá. giấc nồng đến ngay). Ba chữ chẩm thạch miên, dịch là ngủ thạch bàn thì ý hay đã bị mất mát. Dịch ra là ngủ thạch bàn, chỉ là ngủ trên phiến đá phẳng thì mấy kẻ ngưu, tiều thường vẫn ngủ thế, không có gì đặc biệt. Gối đầu lên đá mà ngủ, ngủ được, là phong cách người lính, hoặc thi sĩ, ẩn sĩ.
Hồi ấy, các bậc tiền bối trong nhóm làm sách NTTT - 1976, phần lớn không phải nhà thơ nên dịch thường bí vận, phải dùng nhiều vần gượng, hoặc đổi nội dung đi cho nó vào vận. Trong số 373 chú thích có trên một trăm chú thích dịch sai nguyên tác. Ví dụ, vì bí vần, đã dịch rắn thành rồng (bài 39), vì bí vần, dịch đồng hồ nước thành đồng hồ cát (bài 29)... Tôi có viết bài trao đổi, tạp chí Hán Nôm số 4/ 2002 đã in.
Lại nói về Loạn hậu đáo… , đúng như nhà thơ Fred Marchant viết: có một cảm thức hầu như không thể nói ra về nỗi ân hận và mất mát vẫn đeo đẳng trong người chiến binh hồi hương này. Cần phải có một giấc ngủ. Bên này bên kia thì vẫn là dân chúng, hàng chục vạn người mất: Lạng Sơn Lạng Giang xương chất đầy đường/ Xương Giang Bình Than máu trôi đỏ nước/ Gió mây vì thế phải biến sắc/ Nhật nguyệt thảm đạm đến lu mờ - Cáo Bình Ngô). Đã thế, triều đình lại rối ren, nhũng nhiễu. Mới yên binh lửa được bốn năm thì hai đại công thần, chí thiết của Nguyễn Trãi: Tả tướng quốc Trần Nguyên Hãn và Thái Bảo Phạm Văn Xảo bị hãm hại. Bản thân Nguyễn Trãi bị bỏ ngục mấy tháng… Gối đá ngủ một giấc. Bao khắc khoải, cũng cần quên đi…
Đọc những điều tâm đắc của nhà thơ CCB Mỹ Fred Marchant, thêm thấy sự trường tồn của thơ chữ Hán thơ Nôm, ngôi sao Khuê văn hoá Việt Nam- Nguyễn Trãi. Với bài thơ LOẠN HẬU ĐÁO CÔN SƠN CẢM TÁC, chúng ta cần phải gắng để có một bản dịch thơ xứng đáng hơn. Bài này, dịch ra thơ luật Đường thất ngôn bát cú quá mỏi. Khó nhất là câu cuối. Kẻ viết bài này mạnh dạn, gửi đến các bạn yêu thơ Nguyễn Trãi một bản dịch thơ, thể lục bát:
SAU LOẠN ĐẾN CÔN SƠN CẢM TÁC
Xa quê núi đúng mười năm
Cúc tùng nay đã nửa phần tiêu sơ
Hẹn rừng suối, sao đắn đo
Cúi đầu giữa cát bụi mờ, tự than
Vừa qua làng, ngỡ mơ màng
Chiến tranh chưa dứt, mấy toàn thân đâu
Bao giờ, lều dưới non cao
Trà nước suối, đá gối đầu, ngủ ngon...
Duy Phi dịch
Phủ Lạng Thương 6- 2012

© Tác giả giữ bản quyền.
. Đăng ngày 21.07.2012 theo nguyên bản của tác giả gởi từ Phủ Lạng Thượng.
. TÁC PHẨM CỦA DUY PHI CHỈ TẢI ĐĂNG DUY NHẤT TRÊN NEWVIETART.COM Ở HẢI NGOẠI .
. TRÍCH ĐĂNG LẠI VUI LÒNG GHI RÕ NGUỒN NEWVIETART.COM .