TỪ TU THIỀN ĐẾN TU PHẬT





Kỳ Thứ 11

CÔNG ÁN THỨ HAI MƯƠI BA
KHÔNG NGHĨ THIỆN ÁC

*Công Án:

Lục Tổ bị Thượng Tọa Huệ Minh đuổi theo đến núi Đại Diễu Lĩnh, Tổ thấy Huệ Minh đến, liền quẳng Y Bát trên tảng đá mà nói:

- Áo này vốn để làm tin, há tranh đoạt được ư? Ông cứ việc lấy đi.

Huệ Minh toan lấy áo lên, thấy nặng trịch như núi, tần ngần run sợ nói:

- Tôi đến cầu Pháp, chẳng phải vì áo. Xin hành giả khai thị cho.

Tổ nói:

- Không nghĩ thiện, không nghĩ ác. Ngay lúc ấy thì mặt mũi xưa nay của Thượng Toạ Huệ Minh là gì?

Huệ Minh liền ngộ, khắp mình đẵm mồ hôi, khóc lóc sụp lạy nói:

- Ngoài mật ý, mật ngữ đó ra, Ngài còn truyền thọ ý chỉ gì nữa chăng?

Tổ nói:

- Điều tôi nói với ông đây không có chi là mật. Nếu ông tự quay nhìn mặt mũi chính mình, thì bí mật chính là ở phía bên ông.

Huệ Minh thưa :

- Tôi tuy ở trong Tăng chúng học Ngài Hoàng Mai thực chưa từng xét kỹ mặt mũi mình. Nay đội ơn ngài trỏ cho lối vào, như người uống nước, nóng lạnh tự hay. Giờ đây Ngài là thầy tôi vậy.

Tổ nói:

- Nếu được như thế, tất tôi cùng ông đều là học trò của Hoàng Mai. Nên tự giữ gìn cho khéo.

Lời giải:

Do không biết tu là gì? Tu để làm gì? Chỉ biết rằng nếu được truyền Y Bát là cả một vinh dự lớn, vì thay mặt Tổ, cầm nắm Chánh Pháp, dạy dỗ cả ngàn tăng chúng, uy tín lẫy lừng, nên khi nghe tin Y Bát đã được Lục Tổ mang đi, thì cả mấy trăm người còn lại trong Chùa rần rần kéo nhau đi tìm để tranh đoạt! Cho đến khi dở không lên, mới biết rằng Y Bát không phải là vật tầm thường có thể tranh dành, Huệ Minh hoảng sợ mới xin được nghe pháp!

Dù Huệ Minh đã chạy đến rượt đuổi Lục Tổ với đầy đủ tà tâm, ác ý, nhưng Phật Pháp và người tu Phật bao giờ cũng bao dung, "Sông mê quay đầu là bờ". Sám hối là hết tội. Nên Lục Tổ cũng sẵn sàng giảng cho nghe.

Trước khi giảng, Ngài bảo: "Ông đã vì Pháp mà đến đây thì khá dứt hết trần duyên, chớ sanh một niệm tưởng. Tôi sẽ nói rõ Phật Pháp cho Ông nghe".

Đó là căn bản tất yếu để học hỏi. Vì có nghe với cái Tâm thanh tịnh thì mới có thể tiếp thu tốt điều người giảng đang nói. Nếu Huệ Minh muốn nghe pháp. Nhưng nghe với cái Tâm cầu mong chứng đắc, đầy lao xao, động dậy chắc cũng không thể hiểu được gì! Và chúng ta cũng chỉ nên nghe pháp với cái Tâm như thế mới mong được lợi lạc.

Tổ nói cho Huệ Minh : "Không nghĩ thiện, không nghĩ ác, chính trong lúc ấy là tỏ cái bản lai diện mục của Thượng Toạ vậy".

Cái Bản Lai Diện Mục hay cái Chân Tánh của mỗi người vốn như như, không động. Như gương soi khắp, chiếu khắp mà không phân biệt để yêu, ghét riêng tư hoặc giận hờn bực tức vì những hình ảnh không vừa ý soi vào. Đó là cái mà mỗi người tu đều phải cố gắng để trở về. Công năng đó gọi đó là tu hành. Phải làm các Hạnh Xả, Thí, Lục Độ, Bát Chánh Đạo, những phẩm trợ đạo v.v.. lại phải Thiền Định, Quán Soi, Tư Duy, để tìm cho được cái Lý đúng, sau đó áp dụng phần Lý này vào cuộc sống cho phù hợp với mục đích mà mình đang muốn đạt tới.

Sở dĩ người tu loay hoay làm đủ thứ mà không thành công là vì không rõ mục đích của Đạo Phật, và chưa có cái Phát Tâm chân chính. Thật vậy, quan sát cái Ngồi Thiền của Đức Thích Ca và của những người thời sau này ta thấy ra rõ ràng. Dù cũng là Ngồi khoanh tay, xếp chân, mắt lim dim... tại sao Đức Thích Ca ngồi có 49 ngày đêm mà đắc Đạo, còn người nay ngồi hoài không đắc? Nếu cho rằng do ngồi liên tục 49 ngày đêm mới đắc đạo thì chư Tổ về sau có người nào ngồi lâu như thế. Thậm chí Ngũ Tổ và Lục Tổ còn không dạy về Thiền! Lục Tổ cũng chỉ chẻ củi, giả gạo, đâu có thì giờ để Ngồi mà cũng đắc đạo?!

Do đó, trước khi Thiền thì chúng ta cần hiểu rằng Thiền chỉ là phương tiện để Đức Thích Ca tập trung tư tưởng mà tìm ra thủ phạm đã xây ngôi nhà Sinh Tử. Ngài có đối tượng để tìm, nên khi gặp thì biết là mình đã thành công. Người ngày nay ngồi khơi khơi, chẳng biết để làm gì? Không biết rằng dù cái Thân không còn hoạt động vì bị trói lại đó, nhưng cái Tâm chạy nhảy khắp nơi. Chính vì thế mà buông ra thì đâu lại vào đó. Hoặc có người bị hôn trầm. Ngồi vào là ngủ. Đó là ngủ ngồi, đâu có phải Thiền Định? Đâu có phải nhập định? Do đó, người chưa biết rõ về Thiền, chưa đắc Thiền mà cứ ham làm Thầy rồi mở ra dạy người khác Thiền, coi chừng người học bị tẩu hoả nhập ma thì tội cho họ, mà mình sẽ lãnh nghiệp không hay!

Mục đích THIỀN của Đức Thích Ca đã đạt được, là đã Thấy được cái CHÂN TÂM, sau đó Ngài mới lập ra phương tiện để hướng dẫn cho đệ tử. Muốn Thiền được thành công, người tu phải có người đã chứng đắc hướng dẫn. Thêm vào đó là phải hành rất nhiều phương tiện của Đạo để hỗ trợ. Bao giờ đầy đủ thì cũng sẽ thấy được cái CHÂN TÁNH, hay CHÂN TÂM. Do đó, người mới vào tu không thể áp dụng ngay câu: "Không nghĩ Thiện, không nghĩ ác" để rồi khi hiểu được ý nghĩa của câu này, tưởng đó là Thấy Tánh!

Ta nên nhớ rằng: Chư Tổ hay người đi trước chỉ nêu ra cái căn bản về tính chất của cái Chân Tánh cho người sau nắm lấy, để theo hướng đó mà tìm thì với sự cố gắng, kiên trì, chắc chắn sẽ gặp được. Đó là kết quả của bao nhiêu chuỗi việc: Soi, Quán, Tư Duy, thực hành. Không phải để chúng ta hiểu cái ý đó rồi tưởng mình đã đạt được!

Huệ Minh đã nhờ lục Tổ nhắc để "Quay vào trong" mà tìm, vì mật ẩn đó bên trong mỗi người. Được Đạo hay không là ở công phu thanh lọc cái Tâm của mình. Y, BÁT là hình tướng dành cho người bên ngoài hướng về. Người tu chân chính phải là người không màng danh, lợi. Chỉ lo tu sửa cho bản thân. Khi đã hiểu Phật pháp, thì việc giảng nói cho người sau là trách nhiệm, để làm cho ánh sáng Phật Pháp được lan tỏa. Không phải để được danh, lợi, hay hơn thua, cao thấp. Người mới vào tu hành, việc của Mình còn lo chưa xong mà nghĩ đến việc độ cho bá tánh làm chi? Do đó, cái khởi ý tưởng tranh dành là do cái Vọng Tâm điều khiển. Nếu không dẹp bỏ thì làm sao về được với cái Chân Tâm?!

CÔNG ÁN THỨ HAI MƯƠI BỐN
LÌA KHỎI NÓI NĂNG

*Công Án:

Một ông Tăng hỏi Ngài Phong Huyệt

- Nói hay im lặng đều là vặt vãnh, làm sao khỏi vướng mắc?

Sư đáp:

- Giang Nam nhớ mãi ngày xuân ấm.

Hoa lừng trong chốn chá cô kêu.

Lời giải:

Hỏi đông, đáp tây! Nếu cứ đáp như thế thà đừng hỏi, đừng đáp còn hơn!

Đây thường là lối tiếp cơ của những vị tự xưng là Thiền Sư thời đó. Cũng vì thế mà số đệ tử đắc pháp quá hiếm hoi cho đến đi vào tiêu diệt của môn phái! Cứ tự do Tham, tự do nghĩ. Không hướng dẫn. Không chỉ vẽ. Không nêu được lẽ đúng, sai!

Tổ Đạt Ma dạy: “Nếu tự mình sáng tỏ được thì chẳng cần học, khác với kẻ mê trắng đen không phân rõ lại lếu láo tuyên lời Phật dạy, báng Phật, chê Pháp”. Càng bí truyền càng chóng bị thất truyền! Chẳng hiểu do Thầy ích kỷ hay trong đó cũng có nhiều Thầy dốt, vì họ không mở miệng ai biết là họ biết hay không?!

Học trò hỏi cách để áp dụng Phật Pháp. Thầy trả lời bằng hai câu thơ thuộc về thế gian pháp! Phải chi Thầy cũng nhớ Pháp Phật như "nhớ ngày xuân ấm, và tiếng chá cô kêu ở Giang Nam" có lẽ hay biết mấy! Lục Tổ dạy trong Pháp Bảo Đàn Kinh: “Nếu chẳng biết cái ý chỉ của Phật Pháp, tự mình lầm còn khá, sợ e lại khuyên dạy người khác”. Các Thiền Sư hình như không có đọc Kinh nên chẳng chút để ý tới lời nhắc nhở của Tổ!. Cũng không trách được về sau con cháu không còn đường để nối truyền tông chỉ. Không rõ những người kế thừa thời nay có kịp nhìn lại để chân chỉnh hay không?!

CÔNG ÁN THỨ HAI MƯƠI LĂM
TOÀ THỨ BA NÓI PHÁP

*Công Án:

Hòa Thượng Ngưỡng Sơn nằm mơ thấy đến chỗ Phật Di Lặc, ngồi toà thứ ba. Có một tôn giả bạch chùy thưa :

- Hôm nay đến phiên toà thứ ba thuyết pháp.

Sư liền đứng dậy bạch chùy nói :

- Pháp Ma Ha Diễn rời bốn câu lý luận, dứt hết trăm cách phủ nhận. Nghe cho kỹ.

Lời giải:

Chưa kịp giảng pháp, nằm mơ mới nói được cái đề đã đem ra làm Công Án ắt để người khác bàn sao thì bàn!

Đã đành Pháp Đại Thừa không phải là "Tứ Cú, Bách Phi", nhưng người học đạo ít ra cũng phải biết nghĩa của Tứ cú: "Có, Không, vừa có, vừa không. Không phải Có, không phải Không ? là như thế nào? Áp dụng vào đâu ? Phủ định tất cả là như thế nào? Tại sao cho rằng Phật thuyết để rồi phủ định, làm cho người nghe sinh đoạn kiến, cho rằng nếu thế thà không cần thuyết còn hơn.

Các Thiền sư vẫn thích lối tu tắt. Cho rằng pháp môn của mình là “Đốn Giáo”, nghĩ rằng mình sẽ dắt người sau đi nhanh hơn các môn phái khác! Tiếc rằng bản thân họ vì chưa thấu hiểu Phật Pháp nên không có phương tiện, làm người nghe không thể nào theo đó mà hành trì để vào đạo được. Hơn nữa, TU là SỬA, Tu đâu phải chỉ Nghe và Hiểu Pháp?

Phật Pháp là Pháp Giải Thoát. Nhưng để Giải Thoát trước phải thấy điều gì ràng buộc, rồi phải dùng Phương Tiện của Đạo mà tháo gỡ. Kinh còn dạy rõ phải Thiền như thế nào, Quán như thế nào? Quán những gì để có thể trừ được Vô Minh, hoá giải những buộc ràng. Phật đâu có nói xong là phủ nhận ngay như Ngài Nguyệt Khê đã luận?!

Kết luận: Phật Pháp tuy Không rời, nhưng cũng không dính các Pháp. Không khẳng định mà cũng không phủ định, mà là để hành, để áp dụng. Hành cho được, xong rồi mới Xả. Không phải để lý luận, để hiểu, để nói!

 






© Tác giả giữ bản quyền.
. Đăng ngày 17.07.2012 theo nguyên bản của tác giả từ SàiGòn.
. TRÍCH ĐĂNG LẠI VUI LÒNG GHI RÕ NGUỒN NEWVIETART.COM .