PHẬT GIÁO THỜI TRẦN

THÂN THẾ SỰ NGHIỆP
PHẬT HOÀNG TRẦN NHÂN TÔNG


BÙI HỮU DƯỢC


Lời dẫn của NVA

Sáng ngày 22- 6- 2012 tại Hội trường Khách sạn La Thành- Hà Nội đã diễn ra Hội thảo Bảo tồn và phát huy giá trị văn hoá của Mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm do Quỹ Hợp Tác & Phát Triển (C&D website: cdfund. org.vn) tổ chức, với sự tham gia của các học giả, nhà văn hoá thuộc Ban tôn giáo Chính phủ, Hội di sản văn hoá Việt Nam, Uỷ Ban UNESSCO Việt Nam, Thượng toạ Thích Kiến Nguyệt trụ trì Thiền viện Trúc Lâm Tây Thiên, Thiền viện Trúc Lâm Phượng Hoàng Bắc Giang đang xây dựng, UBND tỉnh Bắc Giang, Huyện Yên Dũng tỉnh Bắc Giang…
Nhà văn Mai Thục (cố vấn Quỹ Hợp Tác & Phát Triển) đã chuyển cho chúng tôi một vài bài tham luận cơ bản về sự trấn hưng Phật giáo thời Trần, Thiền Trúc Lâm Yên Tử Việt Nam do Phật Hoàng Trần Nhân Tông sáng lập, mà chùa Vĩnh Nghiêm là chốn Tổ của Thiền phái Trúc Lâm.
N.V.A hân hạnh giới thiệu dưới đây bài tham luận của Ths. Bùi Hữu Dược , Vụ trưởng vụ Phật giáo Ban Tôn giáo Chính phủ

Paris,29.06.2012
NEWVIETART.COM

I. PHẬT GIÁO VIỆT NAM THỜI TRẦN

 

Đạo Phật được truyền vào nước ta từ khá lâu, triết lý của Phật giáo phù hợp với đạo đức và lối sống của người Việt, vì thế Phật giáo đã được đông đảo nhân dân ta đón nhận, tin theo. Trải qua nhiều thế kỷ, đến thời Lý, Phật giáo đã phát triển mạnh, trở thành quốc giáo. Các dòng Thiền lớn như Tỳ Ny Đa Lưu Chi, Vô Ngôn Thông, Thảo Đường... đã có ảnh hưởng sâu rộng trong đời sống xã hội. Sang thời Trần, ở thế kỷ XIII và đầu thế kỷ XIV, Phật giáo tiếp tục phát triển đến cực thịnh. Tư tưởng Phật giáo lúc này đã chi phối mạnh mẽ mọi mặt đời sống văn hóa, tinh thần của dân tộc ta. Sự phát triển đỉnh cao ấy của Phật giáo thời Trần đã thể hiện một số nét mang tính đặc trưng trong quan hệ Phật giáo với xã hội:

Thống nhất Phật giáo để đoàn kết nhân tâm: Để phát triển đất nước và chống giặc ngoại xâm, nhà Trần thực hiện đoàn kết nhân tâm, phát huy sức mạnh toàn dân tộc, bài học mà các triều đại phong kiến trước đó đã áp dụng thành công. Và để tiến xa hơn trong đoàn kết nhân tâm, nhà Trần thực hiện thống nhất các tông phái Phật giáo đương thời nhằm trước hết đoàn kết trong giáo sỹ Phật giáo, qua đó thống nhất tư tưởng, tăng cường sức mạnh đoàn kết dân tộc. Đây là nét độc đáo, đóng góp to lớn của nhà Trần đối với lịch sử dân tộc nói chung, đối với Phật giáo Việt Nam nói riêng. Từ đời Lý, ba Thiền phái: Tỳ Ni Đa Lưu Chi, Vô Ngôn Thông và Thảo Đường đã phát triển mạnh. Đến đời nhà Trần càng có ảnh và có xu hướng hòa nhập, biểu hiện từ sự kiện đặc biệt trong Phật giáo: Chùa Lục Tổ thuộc phái Tỳ Na Đa Lưu Chi đã mời Thiền sư Thường Chiếu thuộc phái Vô Ngôn Thông về làm trụ trì. Đây là cơ duyên cho sự thống nhất giữa hai Thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi và Vô Ngôn Thông. Tiếp đến qua ảnh hưởng của Trần Thái Tông, Tuệ Trung Thượng Sĩ, ba dòng Thiền trên đã dần hội nhập. Đến Trần Nhân Tông hoàn chỉnh việc nhập ba phái thiền, Phật giáo Việt Nam lúc này có thể gọi là “nhất tông”,  đó chính là Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử mà Trần Nhân Tông được xem là sơ Tổ, người có công quan trọng để thống nhất Phật giáo vào thời điểm ấy. Nối tiếp sơ Tổ, nhị Tổ Pháp Loa, tam tổ Huyền Quang đã làm cho thiền phái Trúc Lâm Yên Tử phát triển, vùng Yên Tử trở thành trung tâm Phật giáo Việt Nam. Để từ thời ấy trong nhân gian đã truyền tụng câu:  

                   

“Dù ai quyết chí tu hành,
Chưa về Yên Tử chưa thành quả tu"

 

Lấy Đạo đức Phật giáo làm nền tảng đạo đức xã hội:   Tuy đến nay chưa tìm thấy một tài liệu cụ thể nào ghi nhận Phật giáo thời Trần là quốc giáo. Song, nghiên cứu tư tưởng của các vị vua đầu triều Trần, cũng như ảnh hưởng của Phật giáo lúc ấy đối với xã hội, cho thấy Phật giáo thời này thực sự là nền tảng của đạo đức xã hội. Lê Quát và Trương Hán Siêu là hai nhà nho đương thời, thường chỉ trích Phật giáo, nhưng hai ông đã thừa nhận Phật giáo qua văn bia còn để lại:

“Cái thuyết hoạ phúc của nhà Phật sao mà cảm động lòng người sâu sắc đến thế?Trên từ vương công, dưới đến thứ dân, hễ nói đến việc bố thí cúng dường Phật sự thì dù hết của, hết tiền cũng không tiếc. Ngày hôm nay được cúng dường vào việc xây chùa, dựng tháp thì lấy làm hân hoan như là ngày hôm mai sẽ được báo ứng tốt đẹp. Thế nên từ trong kinh thành đến ngoài châu phố, khắp nơi thôn cùng ngõ hẻm, không cần ra lệnh mà cũng tuân theo, không bắt phải thề mà vẫn giữ đúng. Hễ chỗ nào có nhà thì ở đó có chùa Phật. Chùa hư nát thì sửa lại, lâu đài chuông trống chiếm đến phần nửa cư dân. Sự hưng thịnh của đạo Phật quá dễ dàng mà sự tôn sùng thì rất mực” (Lê Quát, văn bia chùa Thiên Phúc).

“Tượng giáo đặt ra là để đức Phật dùng làm phương tiện tế độ chúng sinh, khiến cho người ngu không biết, người mê không ngộ nương vào đó mà trở về con đường thiện... Vì thế những nơi u nhã thanh kỳ trong nước, chùa chiền đã chiếm một nửa” (Trương Hán Siêu, văn bia chùa Khai Nguyên).

Cả hai ông đã khẳng định Phật giáo lúc bấy giờ hưng thịnh và thâm nhập trong mọi tầng lớp nhân dân. Giáo lý từ bi cứu khổ, nhân quả, thiện ác đã thấm nhuần sâu sắc đến mỗi người trong xã hội. Chúng ta còn được biết Phật giáo phát triển mạnh mẽ và phát huy tốt mọi khía cạnh tích cực, tiến bộ trong đời sống và để đáp ứng những nhu cầu của thời đại qua các tác phẩm như Khóa hư lục, Thượng Sĩ Ngữ lục, Tam Tổ hành trạng,...Một xã hội mà ông vua người đứng đầu nước không chỉ là nhà chính trị xuất chúng còn là nhà lãnh đạo tinh thần đạo đức mẫu mực và là nhà hiền triết, như Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông,... Họ là những con người vừa có kiến thức thế học vững chắc, vừa có trình độ Phật học uyên thâm, dùng đạo Phật phục vụ cho mục đích chính trị vì hạnh phúc của nhân dân. Sự dung hợp giữa chính trị quốc gia với Phật giáo đã thúc đẩy nhau phát triển, chứng tỏ Phật giáo lúc bấy giờ đóng vai trò vô cùng quan trọng với nhân dân làm nền tảng cho đạo đức tinh thần.

Sự hòa hợp gắn bó đạo với đời:  “Trong núi vốn không có Phật, Phật chỉ ở trong tâm”, câu nói của Quốc sư Trúc Lâm khuyên Trần Thái Tông khi nhà vua có ý định xuất gia, đã khởi đầu cho tinh thần hướng nội của Phật giáo thời Trần. Tư tưởng đó đã được Trần Nhân Tông thực hiện và phát triển, thể hiện qua Cư trần lạc đạo:

“Bụt ở trong nhà;
Chẳng phải tìm xa.
Quên mất gốc nên ta tìm bụt
Đến cốc mới hay chính bụt là ta”.

   

Phật giáo lấy Tâm làm cốt lõi cho sự giải thoát. Tinh thần đó được các vị vua như Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, và các quan tướng nhà Trần thấm nhuần sâu sắc và vận dụng thàng công trong quá trình dựng nước, giữ nước, đã tạo được sự hòa thuận muôn nhà, toàn dân đoàn kết.

Đặc điểm to lớn nhất của Phật giáo thời Trần là hướng nội và nhập thế. Trần Thái Tông vừa lo việc triều chính vừa học đạo, hành Thiền. Ông nói “Đạo bất viễn nhân”, nên đạo phải được thể nghiệm ngay trong lòng cuộc đời, lấy chúng sinh làm đối tượng để phụng sự. Bởi vậy mà các vua đời Trần, đã “ lấy ý muốn của nhân dân làm ý muốn của mình”. Đất nước cần, nhà sư lên ngựa cầm giáo xông pha trận mạc, để cứu an cho dân, cho nước, thắng giặc về chùa lại thực hiện vừa tu hành vừa xây dựng đất nước.

Đối với Thiền sư thời Trần, tu hành không cần xa lánh cuộc đời vào nơi hang cùng, núi thẳm. Các Thiền sư thời Trần đã làm được việc tu hành giữa đời thường, họ đã thực hiện pháp tu nhập thế, điều ấy đã tạo ra sức mạnh của đời, sức mạnh độc đáo từ nhập thế của Phật giáo đời Trần.         

Phật giáo gắn độc lập, tự cường, sáng tạo:   Thắng lợi to lớn trong kháng chiến chống ngoại xâm càng làm cho nền độc lập dân tộc thêm vững chắc. Độc lập về chính trị đã tạo điều kiện cho độc lập về văn hóa trong thời kỳ này, biểu hiện qua sự phát triển mạnh mẽ của chữ Nôm, chữ viết mang đặc trưng dân tộc được sử dụng để sáng tác văn học. Về tôn giáo, tuy nguồn gốc, ảnh hưởng từ Phật giáo Ấn Độ và Trung Hoa, nhưng các Thiền sư Việt Nam thời này đã khéo léo vận dụng, dung hợp giá trị Phật giáo với truyền thống dân tộc để tạo nên một Phật giáo Việt Nam thống nhất, độc lập tự chủ.

Trong giai đoạn này, cuộc đấu tranh giữ nước mang đậm tính dân tộc và tính nhân dân, nền văn hóa thời kỳ này cũng phát triển rực rỡ với sự độc đáo thể hiện bản sắc dân tộc sâu sắc. Từ Phật giáo Ấn Độ và Trung Quốc, các nhà sư Việt Nam đã chắt lọc những tinh hoa để đúc kết thành nền Phật giáo Việt Nam. Các pháp môn tu Thiền, Tịnh độ, v.v... mang những sắc thái riêng biệt; Trần Thái Tông soạn nghi thức sám hối lục thời, khác xa với các cách thức sám hối có trước đó; Tịnh Độ cũng được trình bày mới và thực tiễn hơn. Theo Trần Nhân Tông:

Tịnh độ là lòng trong sạch,
đâu còn ngờ hỏi đến Tây phương;
Di Đà là tính sáng soi, mựa phải nhọc tìm về Cực lạc.

Quá trình chấp nhận, gạn lọc tinh hoa của những người đi trước để sắp xếp, trình bày lại cho mạch lạc, dễ hiểu và hợp với đời sống Việt Nam, từ ý tưởng độc đáo của Trần Thái Tông:

“Vắt đất cục thành vàng ròng cho quốc gia;
khuấy sông dài thành sữa ngọt đãi Trời, Người”.

Những Tư tưởng ấy đã trở thành một trong những đặc trưng nổi bật độc lập, tự cường, sang tạo của thời Trần có ảnh hưởng sâu xa từ triết lý Phật giáo. 

Khoan dung cùng phát triển bản chất của Phật giáo thời Trần:

Phật giáo đầu Trần như trên đã nói, có địa vị quốc giáo, các vua Trần là Phật tử thuần thành. Tuy nhiên, không vì thế mà đạo Phật thành tôn giáo độc tôn, bài xích các tôn giáo khác. Ngược lại, đạo Phật thời này, trong lúc phát triển mạnh mẽ đã tỏ ra thân thiện, cởi mở và bao dung đối với các tôn giáo khác như Nho giáo và Lão giáo. Nhà Trần một mặt thúc đẩy phát triển Phật giáo, mặt khác khuyến khích tạo điều kiện cho Nho giáo và Lão giáo phát triển trong tinh thần dung hợp Tam giáo đồng nguyên. Điều này xuất phát từ nhu cầu khách quan của sự phát triển xã hội phong kiến đương thời, lấy Nho giáo làm nền tảng tư tưởng trị nước, lấy tinh thần đại đồng, bao dung của Phật giáo, đặc biệt là tinh thần vô chấp của Thiền tông làm nền tảng đạo đức xã hội. Việc nhà Trần cho xây dựng Văn miếu để thờ Khổng Tử và 72 vị Tiền hiền, mở các kỳ thi Tam giáo, việc các nhà sư có trình độ Nho học uyên thâm,... đã nói lên điều đó. Về mặt tư tưởng, tinh thần Tam giáo đồng nguyên, được Trần Thái Tông nêu lên một cách cụ thể. Trong bài Phổ khuyến phát bồ đề tâm, Trần Thái Tông viết:

“Vị minh nhân vọng phân Tam giáo,
Liễu đắc để đồng ngộ nhất tâm”.

(Nghĩa là khi chưa tỏ ngộ, người ta thường nhầm lẫn phân biệt tam giáo nhưng chừng đã đạt được chỗ gốc cội rồi thì cùng ngộ một tâm). Hoặc trong bài Giới sát sinh văn nhà vua nêu lên sự tương đồng của tam giáo về mặt hành thiện:

“Nho điển thi nhân bố đức,
Đạo kinh ái vật hiếu sinh,
Phật duy giới sát thị trì”.

Đã thấy cả Khổng, Lão, Phật đều có điểm quý trọng, như Đức Phật đã nói “Tất cả chúng sinh đều có Phật tính” Phật giáo không chỉ xem mọi người đều có Phật tính mà ngay cả những cành cây, ngọn cỏ,... cũng đều có tính Phật. Cái nhìn viên dung, phóng khoáng đó của Phật giáo đã xóa đi sự ngăn cách giữa con người với tự nhiên. Từ quan niệm vượt lên sự phân biệt giữa thiện ác, tốt xấu đó của Phật giáo, mà Trần Thái Tông có cái nhìn rất thoáng:

“Trong hang quỷ vẫn là lâu đài Di Lặc;
dưới hắc sơn chẳng khác cảnh giới Phổ Hiền”.

Phật giáo thời Trần với tư tưởng viên dung, phóng khoáng như thế đã tạo nên sự hòa đồng giữa mọi lớp người trong xã hội, một yếu tố hết sức quan trọng để tạo nên sự đoàn kết dân tộc.     

    

Thiền - Giáo đồng hành:  Theo tinh thần truyền thống thì Thiền chủ trương: “Giáo ngoại biệt truyền, bất lập văn tự”. Do đó, nhiều Thiền phái chỉ đặc biệt chú trọng đến việc tọa Thiền và tham cứu thoại đầu, rất ít quan tâm đến việc học hỏi kinh điển vì cho rằng như thế sẽ làm tăng kiến giải, trở ngại sự ngộ đạo. Khác hẳn với truyền thống đó, Thiền phái Trúc Lâm - Thiền phái Việt Nam thời Trần, chủ trương vừa tu Thiền vừa học kinh điển. Ngay từ Trần Thái Tông, trong Khoá hư lục đã từng bàn đến phương pháp tham Thiền và luận về pháp môn Tịnh độ, vừa đặt ra những khóa lễ sám hối để hành trì trong mỗi ngày. Theo Trần Thái Tông thì Thiền và Tịnh không tách rời nhau. Tuệ Trung Thượng Sĩ, một Thiền sư đắc đạo cũng đã đề cập đến Tịnh độ, trong Thượng Sĩ Ngữ lục ông viết:

“Đức Phật Di Đà ẩn đáy lòng
Pháp thân châu biến khắp Tây Đông”

Trần Nhân Tông  thường giảng Truyền Đăng Lục và viết trong Cư trần lạc đạo rằng “Tịnh độ là lòng trong sạch, chớ còn ngờ hỏi đến Tây phương, Di Đà tính sáng soi, mựa phải tìm về cực lạc”; Pháp Loa từng giảng kinh Pháp Hoa, kinh Niết Bàn, kinh Lăng Già, kinh Lăng Nghiêm

      

Có thể nói thời Trần, Thiền và Giáo không hề tách rời nhau, tu và học luôn luôn đồng hành. Đây là một đặc điểm cơ bản của Phật giáo thời Trần, nó tạo nên sự dung hợp, nhất quán, không xảy ra tình trạng cực đoan, cố chấp, mâu thuẫn giữa Giáo và Thiền; nhờ vậy mà phát huy tốt nhận thức thống nhất, tập hợp sức mạnh đoàn kết dân tộc.         

II. THÂN THẾ SỰ NGHIỆP PHẬT HOÀNG TRẦN NHÂN TÔNG

Nói tới Trần Nhân Tông, không thể không đề cập tới Trần Thái Tông – Trần Thánh Tông, hai vị Hoàng đế đầu đời Trần với những những chủ trương và ảnh hưởng rất lớn đối với Phật giáo Việt nam từ đó về sau:

Vua Trần Thái Tông (1218- 1277) là người đã khai sáng ra triều đại nhà Trần oanh liệt. Trần Thái Tông tên là Trần Cảnh, sinh năm Mậu Dần niên hiệu Kiến Gia thứ tám (1218) Triều Lý. Ông, cha làm nghề đánh cá, nhờ có công dẹp loạn, họ Trần dần dần có thế lực. Đời Lý Cao Tông, Trần Cảnh mới tám tuổi được Lý Chiêu Hoàng nhận làm chồng và truyền ngôi cho, lấy hiệu là Thái Tông. Từ đây sự nghiệp nhà Lý kết thúc, lịch sử chuyển sang giai đoạn nhà Trần. Năm Trần Thái Tông lên 20 tuổi, Lý Chiêu Hoàng 19 tuổi đang là Hoàng hậu, bị Trần Thủ Độ ép Trần Thái Tông giáng Chiêu Hoàng làm công chúa, lấy Thuận Thiên là vợ Trần Liễu (anh ruột Trần Thái Tông) làm Hoàng Hậu. Vì Trần Thủ Độ nôn nóng Trần Thái Tông có con để kế thừa, mà Chiêu Hoàng chậm con, trong lúc đó Thuận Thiên đang mang thai.

Dằn vặt nội tâm, đêm tháng tư năm 1236, Trần Thái Tông bỏ ngai vàng lên núi Yên Tử, tham kiến Thiền sư Trúc Lâm, thưa với sư rằng: “ Trẫm còn thơ ấu, đã sớm mất mẹ cha, chơ vơ đứng trên sĩ dân, không có nơi nào để nương tựa. Lại nghĩ rằng sự nghiệp đế vương đời trước hưng phế bất thường cho nên mới vào đây, chỉ muốn cầu thành Phật, chứ chẳng muốn tìm gì khác”. Vua đã nhận ra được sự nghiệp đế vương hưng phế bất thường và cuộc đời thị phi danh lợi, vì để tranh dành địa vị quyền lực mà không trừ những thủ đoạn xấu xa tàn ác. Trong đám hỗn độn đó vị vua trẻ muốn đến với đạo. Nhưng ý nguyện của nhà vua không thành. Trần Thủ Độ và các quần thần bô lão đi tìm và gặp nhà vua tại núi Yên Tử. Biết duyên vua với triều chưa đoạn, Thiền sư Trúc Lâm đã nói với nhà vua: “Phàm làm đấng nhân quân, thì phải lấy ý muốn thiên hạ làm ý muốn của mình, lấy tâm thiên hạ làm tâm của mình. Nay thiên hạ muốn đón bệ hạ về, bệ hạ không về sao được? Tuy nhiên sự nghiên cứu nội điển xin bệ hạ đừng phút nào quên”.

Sau khi nghe lời Trần Thủ Độ và lời khuyên của Thiền sư Trúc Lâm, vua buộc lòng về cung. Trần Thái Tông vừa làm vua, vừa nghiên cứu kinh Phật. Dưới thời vua Trần Thánh Tông, chùa Phổ Minh và nhiều công trình Phật giáo đã được xây dựng, nhiều sách quý được biên soạn. Trần Thánh Tông trên ngai vàng được 36 năm, năm 1258 nhường ngôi lại cho con là Trần Thánh Tông rồi lên làm Thái thượng hoàng. Từ đây vua nổ lực tu trì, ngài đem tinh hoa cốt lõi của đao Phật dạy dân. Trần Thánh Tông mất năm Đinh Sửu, thọ 59 tuổi.

Trần Thái Tông (1240- 1290) sau khi kế vị cha, Trần Thái Tông đã thể hiện là một ông vua tài năng, đức độ qua việc đưa đất nước đi lên, vua biết dẫn lối cho muôn dân bằng đạo đức. Bản thân vua nhờ thuấm nhuần giáo lý nhà Phật nên luôn chủ động được mình. Trần Thái Tông đã xem ngai vàng như “chiếc giày rách”. Suốt mấy mươi năm ngồi trên ngai vàng, Vua luôn lấy đức chăn dân, xây dựng đất nước, khi đúng lúc phải thời, ung dung rời ngôi báu trao lại cho con. Với đời vua xứng đáng là bậc minh quân, Với đạo là sứ giả của Như Lai. Trần Thái Tông là một vị vua đã để lại nhiều chiến tích vẻ vang cho lịch sử nước nhà. Trong thời Ngài làm vua đất nứớc hưng thịnh, thái bình. Lúc Trần Thái Tông còn ở ngôi vua giặc Nguyên sang xâm lược nước ta lần thứ nhất bị quân dân ta đánh bại. Khi nhường ngôi cho Trần Nhân Tông lên làm Thái thượng hoàng, giặc Nguyên sang đánh nước ta lần thứ hai. Nền độc lập và toàn vẹn lãnh thổ của tổ quốc đã được bảo vệ và củng cố một phần lớn là nhờ vua Trần Thánh Tông cùng với con mình là vua Trần Nhân Tông. Hòa quện đạo với đời Trần Thánh tông đã làm sáng tỏ lâu dài tinh thần nhập thế của đạo Phật, bằng sự phát triển trọn vẹn, với những đức tính từ bi, khoan dung, độ lượng, hùng lực về nhiều mặt : chính trị, kinh tế, văn học, xã hội, mặt nào cũng được thấm nhuần tinh thần Phật giáo.

Trần Nhân Tông ( 1258- 1308) vua đời- vua đạo: Trần Nhân Tông là con trưởng của Trần Thánh Tông và Nguyên Khánh Thiên Cảm hoàng thái hậu, tên là Trần Khâm, sinh ngày 11 tháng 11 năm Mậu Ngọ (1258). Năm 16 tuổi (1274 ) được lập làm Hoàng thái tử. Sống trong cảnh quyền uy, nhung lụa nhưng tâm ngài vẫn thích đi tu. Năm 21 tuổi (1279 ), Trần Nhân Tông lên ngôi Hoàng đế. Tuy ở địa vị cửu trùng mà ngài vẫn giữ mình thanh tịnh để tu tập. Vua tôn thờ Tuệ Trung  Thượng Sĩ làm thầy và hết lòng trọng đãi. Ngài nhập tư tưởng thiền, lại có tâm hồn nghệ sĩ và khí tiết hào hùng trong việc trị nước an dân. Trần Nhân Tông là vị vua anh minh đức độ. Tất cả những đức tính cao cả, trí tuệ, từ bi, bình đẳng, uy dũng đều kết tinh trong con người của Ngài. Nhà vua luôn lấy đức trị dân, trong nước trên thuận dưới hòa, lấy ý dân làm nền tảng xây dựng nước nhà, vui trong niềm vui của dân tộc.

Những khi giặc Nguyên sang xâm chiếm, vua phải xếp việc kinh kệ để lo giữ gìn xã tắc. Nhờ tình đoàn kết nhân dân, ngài đã hai lần đuổi được quân Nguyên giữ gìn trọn vẹn đất nước. Sau trận chiến thắng thứ hai, non nước thái bình Thượng hoàng Trần Thánh Tông có hai câu thơ kỷ niệm.

“Xã tắc hai phen bon ngựa đá
Non song thiên cổ vững âu vàng”.

Năm Quý Tỵ (1293), vua Trần Nhân Tông nhường ngôi lại cho con là Trần Anh Tông, lên làm thái Thượng hoàng. Ở ngôi Thái thượng hoàng để chỉ dạy cho con được sáu năm, sau đó Ngài xuất gia tu đạo Phật ở núi Yên Tử. Ở đây, ngài tu theo hạnh đầu đà (khổ hạnh) lấy hiệu là Hương Vân Đại Đầu Đà (sau này đổi hiệu là Trúc Lâm Đầu Đà ). Trần Nhân Tông là người truyền thừa chính thức của phái Yên Tử, thuộc hệ thứ sáu, tiếp nối vị Tổ thứ năm là ngài Huệ Tuệ. Ngài là người sáng lập thống nhất các thiền phái đương thời thành thiền phái Trúc Lâm, thiền phái riêng mang đặc điểm Phật giáo Việt Nam còn tồn tại tới ngày nay. Trần Nhân Tông viên tịch tại am Ngọc Vân núi Yên Tử, vào ngày 01 tháng 10 năm Hưng Long thứ 16 (1308 ), thọ 51 tuổi.

Trần Nhân Tông là con người vẹn toàn cả đời lẫn đạo. Làm vua tài năng, nhân hậu, Tu hành là một vị thiền sư, một nhà lãnh đạo tinh thần siêu xuất nhưng rất bình dị. Sự nghiệp của Trần Nhân Tông về đời lẫn đạo được nhân dân tôn vinh đánh giá rất cao. Vì thế trong đời Ngài là vua anh minh, trong đạo Ngài được suy tôn hiệu là Đại Thánh Trần Triều Trúc Lâm Đầu Đà Tĩnh Tuệ Giác Hoàng Điều Ngự Phật Tổ.

Thân thế và sự nghiệp của Trần Nhân Tông được cả người trong đạo lẫn ngoài đời tôn vinh bởi Ngài là anh hùng dân tộc, nhà văn hóa vĩ đại của non sông đất nước ta, là người đã sáng lập Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử Việt Nam - thiền phái duy nhất trong lịch sử Việt Nam có sơ tổ là một thiền sư người Việt. Cuộc đời và sự nghiệp của Ngài được lịch sử oai hùng của dân tộc khắc ghi trong những trang chói lọi nhất bởi vì:

Thứ nhất, Phật hoàng Trần Nhân Tông là một hoàng đế anh hùng của dân tộc, lên ngôi lúc 21 tuổi. Dưới triều đại của Ngài, hai hội nghị lịch sử là Hội nghị Diên Hồng và Hội nghị Bình Than đã được mở ra vì đoàn kết nhân dân quyết tâm cứu nước. Ngài là vua lãnh đạo quân dân thời đó hai lần đánh tan giặc Nguyên - Mông. Lần đầu vào năm 1285 đánh bại đại binh của nhà Nguyên, thái tử Thoát Hoan phải chui vào ống đồng mới trốn được về nước, chém đầu nguyên soái Toa Đô, giết đại tướng Lý Hằng và tùy tướng Lý Quán tại trận. Lần thứ hai vào năm 1288 ở sông Bạch Đằng, quân ta đóng cọc gỗ nhọn, dụ thuyền giặc đến theo nước thủy triều lên, rồi tung quân đánh lớn, khiến quân xâm lược Nguyên thua to rút chạy. Quân ta thu 400 thuyền, bắt sống nguyên soái Ô Mã Nhi, Tích Lê Cơ, tham chính Sầm Đoàn, Phàn Tiếp,... Quân ta đại thắng.

Vua nhân từ, sau thắng giặc, ra lệnh đại xá thiên hạ, miễn thuế toàn phần cho những nơi bị giặc đốt phá. Trong thời gian nắm quyền, vua Trần Nhân Tông đã có nhiều chính sách chính trị nổi bật. Bên trong thì thi hành các đợt ân xá tù nhân, tổ chức lại việc giáo dục nâng cao trí tuệ, chăm lo y tế nâng cao sức vóc cho dân, thi quan chức chọn người hiền tài giúp nước, nghiêm khắc với hoàng gia để làm gương ch dân; bên ngoài có những đối sách mềm mỏng với phương Bắc, bảo vệ chủ quyền độc lập, xây dựng và phát triển đất nước, mở rộng biên cương Tổ quốc về phương Nam. Lúc làm thái thượng hoàng và là thiền sư, ông đã dành thì giờ đi nhiều làng mạc, khuyến khích người dân về lối sống đạo đức, bỏ các tệ nạn mê tín dị đoan...

Thứ hai, Trần nhân Tông là nhà văn hóa lớn của Việt Nam. Dưới thời Ngài, cải tiến chế độ thi cử, khuyến khích phát triển chữ Nôm qua sáng tác thơ văn, chỉ đạo biên soạn các bộ sách quan trọng, cùng những hoạt động khuyến khích hiền tài, trí thức đã thực sự góp phần đẩy mạnh phát triển của nền văn hóa Đại Việt. Những thành công về lĩnh vực văn học, sau 700 năm, đến thế kỷ 20 vẫn được các tác gia có uy tín ghi chép. Như Trần Trọng Kim qua Việt Nam sử lược nêu rõ “đời vua Nhân Tông có nhiều giặc giã, tuy vậy việc văn học cũng hưng thịnh lắm. Xem bài hịch của Hưng Đạo vương, thơ của ông Trần Quang Khải và của ông Phạm Ngũ Lão thì biết là văn chương đời bấy giờ có khí lực mạnh mẽ lắm. Lại có quan Hình bộ thượng thư là ông Nguyễn Thuyên khởi đầu dùng chữ Nôm mà làm thơ phú (Văn tế cá sấu)”. Chính Phật hoàng cũng sáng tác các tác phẩm như: Thiền lâm thiết chủy ngữ lục, Đại hương hải ấn thi tập, Tăng già toái sự, Thạch thất mị ngữ (do ngài Pháp Loa soạn lại).

Thứ ba, Trần Nhân Tông là ông tổ Thiền tông Việt Nam. Trước ngài, một số hệ phái Thiền tông xuất phát từ Trung Hoa truyền sang như thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi, thiền phái Vô Ngôn Thông, thiền phái Thảo Đường với các vị tổ thiền sư là người Trung Quốc hoặc Ấn Độ. Đến thời Phật hoàng Trần Nhân Tông thì các Thiền phái trên nhập làm một là thiền Trúc Lâm Yên Tử và là phái thiền đầu tiên - duy nhất đến nay có sơ tổ là Hoàng đế Việt Nam. Đến nay, những vị chủ trương khôi phục Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử đời Trần đã nhận định “ Giá trị Phật giáo ở Ấn Độ thật siêu xuất, giá trị Phật giáo Việt Nam cũng phi thường, mới đủ sức thuyết phục một ông hoàng, một ông vua đi tu. Ở Việt Nam đời Trần ông vua đi tu Phật (Trần Nhân Tông), ông trạng nguyên đi tu Phật (Huyền Quang), chúng ta thử xét giá trị đời ấy cao siêu đến ngần nào. Phật pháp đã cao siêu, người tu cũng đáng kính, cho nên Phật giáo rất thịnh hành trong thời Trần. Chúng tôi nhằm khôi phục Phật giáo đời Trần cốt nâng cao Phật giáo Việt Nam hiện nay là như thế”. ( Hòa thượng Thích Thanh Từ)

Những điều nêu trên về Phật hoàng Trần Nhân Tông đủ thấy Ngài là con người của lịch sử, cho dù Phật hoàng đã nhập Niết bàn từ hơn bảy thế kỷ qua...Giờ đây lịch sử vẫn vinh danh và hàng năm vào ngày Ngài nhập niết bàn, Phật giáo và cả nước lại tổ chức Đại lễ tưởng niệm Ngài, tưởng niệm một vị vua đời - vua đạo Phật./.


BÙI HỮU DƯỢC
Vụ trưởng vụ Phật giáo
Ban Tôn giáo Chính phủ


© Tác giả giữ bản quyền.
. Đăng tải theo nguyên bản của tác giả ngày 30.06.2012.
Trích đăng lại vui lòng ghi rõ nguồn Newvietart.com