BẢO VỆ VÀ PHÁT HUY
GIÁ TRỊ VĂN HÓA
CỦA THIỀN PHÁI TRÚC LÂM YÊN TỬ


PGS.TS. Đặng Văn Bài
Th.s. Hoàng Thị Hoa


Lời dẫn của NVA

Sáng ngày 22- 6- 2012 tại Hội trường Khách sạn La Thành- Hà Nội đã diễn ra Hội thảo Bảo tồn và phát huy giá trị văn hoá của Mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm do Quỹ Hợp Tác & Phát Triển (C&D website: cdfund. org.vn) tổ chức, với sự tham gia của các học giả, nhà văn hoá thuộc Ban tôn giáo Chính phủ, Hội di sản văn hoá Việt Nam, Uỷ Ban UNESSCO Việt Nam, Thượng toạ Thích Kiến Nguyệt trụ trì Thiền viện Trúc Lâm Tây Thiên, Thiền viện Trúc Lâm Phượng Hoàng Bắc Giang đang xây dựng, UBND tỉnh Bắc Giang, Huyện Yên Dũng tỉnh Bắc Giang…
Nhà văn Mai Thục (cố vấn Quỹ Hợp Tác & Phát Triển) đã chuyển cho chúng tôi một vài bài tham luận cơ bản về sự trấn hưng Phật giáo thời Trần, Thiền Trúc Lâm Yên Tử Việt Nam do Phật Hoàng Trần Nhân Tông sáng lập, mà chùa Vĩnh Nghiêm là chốn Tổ của Thiền phái Trúc Lâm.

Paris,22.06.2012
NEWVIETART.COM

1. Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử - niềm tự hào của văn hóa Việt Nam

1.1. Là tôn giáo du nhập sớm nhất vào Việt Nam, Phật giáo đã nhanh chóng thích ứng với các yếu tố tín ngưỡng bản địa, với phong tục tập quán và lối sống của người Việt Nam. Và do đó, Phật giáo đã tìm được chỗ đứng vững chắc trong mọi mặt đời sống xã hội, cũng như có đóng góp tích vực thúc đấy quá trình phát triển văn hóa và để lại dấu ấn sâu đậm trong kho tàng di sản văn hóa dân tộc. Theo số liệu thống kê của Cục Di sản văn hóa, tính đến cuối năm 2011, cả nước ta có 767 ngôi chùa trên tổng số 3167 di tích được xếp hạng cấp quốc gia.

Chắc chắn không ai xác đáng hơn Albert Einstein khi ông nhận xét về giá trị vượt trội của Phật giáo trong thời đại ngày nay “Nếu có một tôn giáo nào đó đương đầu được với các nhu cầu của khoa học hiện đại thì đó là Phật giáo. Phật giáo không cần xét lại quan điểm của mình để cập nhật hóa với những khám phá mới của khoa học, Phật giáo không cần từ bỏ quan điểm của mình để xu hướng theo khoa học, vì Phật giáo bao hàm cả khoa học cũng như vượt quá khoa học. Phật giáo là chiếc cầu nối liền tôn giáo với các tư tưởng khoa học, cây cầu Phật giáo đã kích thích con người khám phá những tiềm năng lớn lao nằm sâu bên trọng chính con người và môi trường sống xung quanh, Phật giáo vượt thời gian và mãi mãi có giá trị”. Nhận xét trên chứng tỏ Einstein đã sớm phát hiện được sức sống mãnh liệt của Phật giáo. Đó cũng là cơ sở để chúng ta lý giải vì sao Phật giáo lại thấm nhuần được các yếu tố tín ngưỡng dân gian và các nguyên tắc đạo lý thiêng liêng của dân tộc để góp phần làm nên bản sắc văn hóa Việt Nam như:

- Đức Phật Thích Ca đến Việt Nam đã trở thành hình tượng của ông Bụt gần gũi, thiêng liêng mà từ bi hết mực (Tấm Cám).

- Yếu tố tín ngưỡng bản địa (nội sinh) đã kết hợp khéo léo với Phật giáo Ấn Độ (ngoại sinh) để tạo ra Phật tứ pháp với hình ảnh là Phật Mẫu Man Nương - vị Phật riêng cho người Việt Nam.

- Ở Việt Nam, Phật giáo cũng dung nạp được với Nho và Lão tạo thành “Tam giác đồng nguyên”, “thiết chế tôn giáo tiền Phật hậu Thánh hoặc tiền Thánh hậu Phật”.

- Phật giáo Việt Nam đã duy trì được sự chung sống hòa bình với gần như tất cả các tôn giáo lớn của nhân loại có mặt ở Việt Nam. Theo PGS.TS. Đỗ Quang Hưng “ngoài 6 tôn giáo chính (Phật giáo, Đạo giáo, Nho giáo, Tin lành, Ấn độ giáo…), còn có hơn một chục tôn giáo mới được nhà nước công nhận từ 2006 trở lại đây (Tịnh độ cư sỹ phật hội, Tứ ân hiếu nghĩa, Bửu sơn kỳ hương, Đạo ba hai và nhiều hệ phái tin lành CMA). Điều đó càng cho thấy tính đa dạng tôn giáo ở nước ta cũng như khả năng pha trộn văn hóa của các tôn giáo với văn hóa dân tộc”.

Có thể nói, Phật giáo đã góp phần tạo nên nét đa dạng trong văn hóa Việt Nam, Và trong chừng mực nào đó, Phật giáo đã trở thành yếu tố máu thịt của văn hóa dân tộc, đóng vai trò là thứ “phễu lọc” văn hóa, điểm tựa tâm linh cho người Việt Nam chống lại sự đồng hóa của hệ tư tưởng Nho giáo Trung Hoa trong suốt thời kỳ Bắc thộc cũng như sau này.

1.2. Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử - một nét đặc sắc của văn hóa Việt Nam

Trúc Lâm là Thiền phái bản địa đầu tiên của Việt Nam đã thực hiện thành công việc “Việt Nam hóa” các thiền phái ngoại nhập phù hợp với hoàn cảnh lịch sử của đất nước. Thiền phái Trúc Lâm đã dung hội được cả ba thiền phái của Ấn Độ và Trung Hoa thâm nhập vào Việt Nam (thiền phái Tỳ ni đa lưu chi, thiền phái Vô Ngôn Thông và thiền phái Thảo Đường) đặt nền móng cho việc xây dựng và củng cố Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất theo phương châm của Trần Nhân Tông “Chưa rõ thì chia làm ba giáo, hiểu rồi thì cùng ngộ một tâm”. Điều đó chứng tỏ, Thiền phái Trúc Lâm dung dưỡng được các yếu tố Phật giáo Ấn Độ và Trung Hoa, triết lý Nho giáo và đạo Lão, đồng thời kế thừa và sáng tạo tư tưởng thiền học của các thiền sư Việt Nam mà tiêu biểu là từ Trần Thái Tông và sư phụ là Tuệ Trung thượng sĩ. “Từ tư tưởng thiền tùy tục của Thường Chiếu đến biện tâm của Trần Thái Tông tiến tới hòa quang đồng trần của Thượng sĩ sau cùng là tùy duyên lạc đạo của Trần Nhân Tông”.

Điều đặc biệt là Thiền phái Trúc Lâm được sáng lập bởi Trần Nhân Tông – một ông vua đương triều đã bỏ lại ngai vàng và quyền lực vào núi Yên Tử tu hành rồi chứng ngộ thành Đệ nhất Tổ. Ở Trần Nhân Tông, chúng ta tìm thấy phẩm chất siêu đẳng của một nhân cách lớn, tấm gương đạo đức trong sáng có sức hấp dẫn tới đông đảo công chúng và phật tử đương thời (anh hùng dân tộc, Phật hoàng, nhà cải cách tôn giáo, nhà triết lý…).

Thiền phái Trúc Lâm ra đời đáp ứng được yêu cầu lịch sử đặt ra là phải có hệ tư tưởng độc lập với Trung Hoa làm chỗ dựa tinh thần để xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc – sức mạnh của tinh thần Đại Việt. Do đó chúng ta đã hoàn thành xuất sắc sứ mệnh lịch sử là dựng nước, giữ nước và mở rộng bờ cõi về phía Nam.

Phật giáo Việt Nam, đặc biệt là Thiền phái Trúc Lâm luôn tuân thủ triết lý nhập thế Phật giáo, góp phần xây dựng Nhà nước Đại Việt, tham gia “vào gánh vác việc đời, không xa lánh cõi đời”. Bằng tinh thần nhập thế tích cực, các thiền sư Trúc Lâm đã dùng Phật giáo làm phương tiền phò vua, giúp nước và cứu người. Tinh thần “nhập thế” của Trúc Lâm tam tổ là gắn “đạo với đời” làm cho Phật giáo luôn đồng hành với dân tộc. Với triết lý nhân văn đó, Thiền phái Trúc Lâm đã dung hợp được hai yếu tố “bác học” và “dân gian”, dễ dàng thấm sâu vào tâm thức của đông đảo các tầng lớp cư dân trong xã hội. Đó là một thiền phái Phật giáo mang đậm nét bản sắc văn hóa dân tộc và trở thành “máu thịt” của văn hóa Việt Nam. Thực tế lịch sử Đại Việt cho thấy, tư tưởng triết lý của Thiền phái Trúc Lâm là tu dưỡng thân tâm mình để phụng sự lợi ích dân tộc, lợi ích cộng đồng, đất nước có độc lập thì Phật mới có điều kiện hưng thịnh.

Các vị tổ Trúc Lâm đã giản lược hóa việc tu tập mà không câu nệ vào nghi thức. “Bụt ở trong nhà, chẳng phải xa”, “tịnh độ là lòng trong sạch, chớ còn ngờ hỏi đến Tây phương;óc đã là tính sáng soi, mưa phải nhọc nhằn tìm về cực lạc” hay như “biết chân như, tin bát nhã, chớ còn tìm Phật tổ Tây Đông; chứng thực tướng nên vô vi, nào nhọc hỏi kinh thiên Nam Bắc”. Thiền phái Trúc Lâm không phân biệt tu sĩ tu ở chùa và cư sĩ tu tại gia. Cả hai hình thức tu tập đều hướng đến mục tiêu chung là tìm lại, thức tỉnh “bản tính Phật” trong tâm của từng cá nhân bằng cách thực hành từ bi và trí tuệ.

Trúc Lâm là một thiền phái thuần Việt, do một vị minh quân người Việt – Trần Nhân Tông sáng lập ra, trên cơ sở kế thừa tư tưởng thiền học của các thiền sư danh tiếng, đức cao, vọng trọng của Việt Nam, kết hợp với những tinh hoa Phật giáo Ấn Độ và Trung Hoa. Có thể coi đây là một thành tựu văn hóa lớn của Việt Nam, góp phần tạo nên sự đa dạng văn hóa của nhân loại nói chung và Phật giáo thế giới nói riêng.

2. Chùa Vĩnh Nghiêm và Mộc bản kinh Phật là thành tựu văn hóa vật thể và phi vật thể của Thiền phái Trúc Lâm

2.1. Chùa Vĩnh Nghiêm – một trong những trung tâm truyền bá phật pháp của Trúc Lâm Tam Tổ

Theo các nguồn tư liệu: bia ký, thư tịch và kết quả điều tra, thám sát khảo học tại chùa Vĩnh Nghiêm, ta có thể bước đầu xác định, chùa khởi dựng từ trước thời Lý. Đến vua Lý Thái Tổ (1010 – 1028) được xây dựng khang trang hơn mang tên ban đầu là chùa Chúc Thánh. Đến thời Trần chùa Vĩnh Nghiêm phát triển thành một trong bốn trung tâm của Phật giáo Trúc Lâm (Yên Tử, Quỳnh Lâm, Vĩnh Nghiêm và Thanh Mai).

Trong bài “Sự ra đời và phát triển của Trung tâm Phật giáo Vĩnh Nghiêm”, Nguyễn Xuân Cần cho rằng, với hàng chữ Hán trên cây đòn nóc tòa thượng điện “Khởi Diên Ninh ngũ niên, tuế thứ Mậu Dần, đông thập nguyệt Ất Mão, sóc thập ngũ nhật, Kỷ Tỵ, nhập nội thí tính, phán phủ, tăng tự trí tín thượng sĩ Sùng kính tặng hiến pháp nhãn”, có thể xác định vào năm 1456 chùa Vĩnh Nghiêm đã có ngôi thượng điện như hiện nay.

Một điều chắc chắn là, giai đoạn hưng thịnh nhất của chùa Vĩnh Nghiêm được gắn với Pháp Loa khi ông phụng chiếu đến trụ trì chùa vào tháng 9 năm Quý Sửu (1313) và chính thức đặt văn phòng của giáo hội tại đó. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử Phật giáo Việt Nam, tăng sĩ có hồ sơ tại giáo hội trung ương. Theo Nguyễn Lang “Tính đến 1329, số tăng sĩ đã được xuất gia trong những giới đàn do giáo hội Trúc Lâm tổ chức dưới quyền lãnh đạo của Pháp Loa là trên 15.000 vị. Về tự viện, năm 1313 có tới trên 100 ngôi chùa lệ thuộc vào giáo hội Trúc Lâm. Pháp Loa đã làm rất nhiều việc xây dựng”.

Chùa Vĩnh Nghiêm được các nhà nghiên cứu lịch sử văn hóa xem như là một thứ “tượng đài” tôn vinh các vị Tam Tổ Trúc Lâm trong đời sống dân gian. Bởi vì ngôi chùa đã gắn với các sự kiện lịch sử quá trình hoằng dương phật pháp Trúc Lâm của Trần Nhân Tông, Pháp Loa và Huyền Quang. Đồng thời chùa Vĩnh Nghiêm còn liên quan đến vị sư trụ trì là Thiền sư Thích Thanh Hanh (1840 – 1936) – người đã tổ chức san khắc mộc bản và ấn hành kinh phật tại chùa từt năm 1873 – 1935 và được vinh danh là Thiền gia pháp chủ có công thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam khi đã ngoài 90 tuổi.

Cũng có thể coi chùa Vĩnh Nghiêm là một “bảo tàng sống” về văn hóa Phật giáo Việt Nam.

- Ngôi chùa cổ, tồn tại hơn 700 năm nay và có giá trị tiêu biểu về kiến trúc nghệ thuật và cảnh quan môi trường theo nguyên tắc phong thủy truyền thống.

- Tại chùa Vĩnh Nghiêm còn lưu giữ được nhiều cổ vật có giá trị cao về mặt lịch sử, văn hóa và khoa học (tượng Phật, hoành phi, câu đối, bia ký, chuông, khánh, mõ…).

- Đặc biệt phải kể tới bộ sưu tập mộc bản kinh Phật – kho “sách quý giá” về tư tưởng, triết lý của Thiền phái Trúc Lâm.

- Hội giỗ tổ chùa Vĩnh Nghiêm/chùa Đức La tổ chức vào ngày 14 tháng 2 âm lịch hàng năm nhằm tôn vinh và tưởng niệm ba vị sư tổ Thiền phái Trúc Lâm.

Với nhiều mặt giá trị tiêu biểu nên ở trên, chùa Vĩnh Nghiêm xứng đáng được bảo tồn và phát huy như là một thành tựu văn hóa của Phật giáo Việt Nam nói chung và Thiền phái Trúc Lâm nói riêng.

2.2. Kho mộc bản kinh Phật chùa Vĩnh Nghiêm – Di sản ký ức thế giới khu vực châu Á – Thái Bình Dương

Theo tài liệu trong hồ sơ mộc bản đăng ký là Di sản ký ức thế giới khu vực châu Á – Thái Bình Dương, kho mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm có 3050 tấm ván rời, được khắc in kinh, sách, giới luật Phật giáo và là bộ sưu tập mộc bản duy nhất hiện còn lưu giữ được của Thiền phái Trúc Lâm. Bộ sưu tập ván kinh Phật chùa Vĩnh Nghiêm được UNESCO công nhận là Di sản ký ức thế giới khu vực châu Á – Thái Bình Dương theo ba tiêu chí: tính xác thực, tính độc đáo, quý hiếm và vai trò, ý nghĩa trong khu vực.

Các nhà khoa học Việt Nam tương đối đồng thuận trong việc xác định các mặt giá trị tiêu biểu của kho mộc bản kinh Phật chùa Vĩnh Nghiêm như sau:

- Với tư cách là di sản ký ức, kho mộc bản phản ánh rõ quá trình hình thành, phát triển cũng như tư tưởng, triết lý nhân văn của Thiền phái Trúc Lâm.

- Về mặt học thuật, kho mộc bản là nguồn tư liệu quý giá giúp chúng ta lý giải được nhiều vấn đề liên quan tới lịch sử Phật giáo, khoa học, kỹ thuật, văn hóa, nghệ thuật, triết học và ngôn ngữ v.v…

- Mộc bản được khắc và in bằng hai thứ chữ Hán và Nôm, cho phép các nhà sử học, ngôn ngữ học nghiên cứu quá trình Việt Nam hóa chữ Hán (Trung Hoa) sang chữ Nôm (loại chữ tượng hình do người Việt sáng tạo trên cơ sở chữ Hán). Quá trình sáng tạo này khẳng định tinh thần tự tôn của quốc gia Đại Việt thời Lý - Trần.

Theo thống kê của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Bắc Giang, trong hồ sơ Mộc bản, thì trong số 23 nước trên thế giới đã có tới 650 ngôi chùa thiền viện mang màu sắc Thiền phái Trúc Lâm đã xuất hiện và đang hoạt động hiệu quả, riêng nước Mỹ đã có tới 371 và các nước Châu Á (ngoài Việt Nam) cũng có 13 chùa thiền viện được tạo dựng. Con số thống kê nói trên cho thấy, tư tưởng và triết lý nhân văn của Thiền phái Trúc Lâm (biểu hiện cụ thể trong nội dung Mộc bản kinh chùa Vĩnh Nghiêm) đang có ảnh hưởng sâu rộng không những ở Việt Nam mà còn lan tỏa ra nhiều nước trên thế giới.

3. Định hướng bảo tồn và phát huy.

Cần có sự nỗ lực chung của toàn xã hội, góp phần bảo vệ và phát huy di sản văn hóa của Thiền phái Trúc Lâm.

3.1. Nguyên lý cơ bản nhất trong hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa là, phải nhận diện và khẳng định vị trí của nó trong đời sống xã hội đương đại và tương lai. Có nghĩa là, di sản văn hóa phải thực sự có ích với cộng đồng, tác động tích cực giúp cộng đồng giải quyết được những vấn đề bức xúc xã hội đang đặt ra.

Phật giáo ở Việt Nam nói chung và Thiền phái Trúc Lâm nói riêng, luôn đề cao lối sống có trí tuệ và tình thương yêu đồng loại. Thiền phái Trúc Lâm với kim chỉ nam là “tinh thần nhập thế”, luôn “đồng hành cùng dân tộc”, sống “tốt đời đẹp đạo” đã góp phần không nhỏ vào việc củng cố ý thức liên kết cộng đồng, tinh thần yêu nước, ý thức độc lập tự cường - yếu tố quan trọng làm nên “sức mạnh Đại Việt” trong suốt quá trình dựng nước và giữ nước. Do đó, việc bảo vệ và phát huy giá trị văn hóa truyền thống của Thiền phái Trúc Lâm cần được triển khai theo hai hướng cơ bản là:

Một là, hoằng dương phật pháp làm cho tư tưởng và triết lý sống của Thiền phái Trúc Lâm thực sự thấm sâu vào trong nhận thức của các tầng lớp cư dân trong xã hội.

Hai là, giản lược hóa các nghi lễ và hình thức tu tập để chuyển hóa tư tưởng và triết lý sống của Phật giáo nói chung và Thiền phái Trúc Lâm nói riêng thành hành động thiện nguyện của đông đảo các Phật tử trong cả nước nhằm:

+ Khẳng định tôn chỉ Thiền phái Trúc Lâm là tích cực nhập thế.

+ Phụng sự lợi ích dân tộc, trung thành với Tổ quốc Việt Nam.

3.2. Bảo vệ và phát huy giá trị “Mộc bản kinh” chùa Vĩnh Nghiêm với tư cách là di sản ký ức của thế giới khu vực Châu Á - Thái Bình Dương là hành động thiết thực hoằng dương tư tưởng và triết lý sống của Thiền phái Trúc Lâm.

Như chúng ta đã biết, với một bộ sưu tập hơn 3.000 bản kinh phật bằng chất liệu gỗ thì yêu cầu đầu tiên là phải xây dựng một tàng thư với các trang thiết bị kỹ thuật hiện đại nhằm bảo quản lâu dài cho hôm nay và mai sau. Mộc bản kinh chỉ là phần vỏ vật chất hay là “thứ mang vác” chuyển tải tư tưởng và triết lý nhân văn của Thiền phái Trúc Lâm. Do đó, bảo quản lâu dài bộ sưu tập Mộc bản kinh chùa Vĩnh Nghiêm cũng tức là bảo tồn di sản tinh thần của Thiền phái Trúc Lâm.

Thứ nữa, cần sưu tầm và in khắc các bản khắc còn thiếu để hoàn thiện bộ sưu tập Mộc bản kinh và cho in ấn phát hành rộng khắp trong cả nước bằng phương thức dịch thuật, giải nghĩa cho phổ cập với công chúng trong toàn xã hội.

Cuối cùng, cần dựa trên cơ sở font chữ Nôm trên mã Uicode (ký hiệu NomNa Tonglight.ttf) được Hội Bảo tồn chữ Nôm (the Vietnamese Nom preservation foundation, USA) lấy mẫu chữ Nôm từ sách Thiền tông bản hạnh là một phần của mộc bản văn khắc ở chùa Vĩnh Nghiêm để thực hiện việc số hóa toàn bộ nội dung bộ sưu tập mộc bản, góp phần qua máy tính truyền bá di sản ký ức thế giới của chùa Vĩnh Nghiêm cho bè bạn khắp năm châu (hình thức bảo tồn tĩnh).

3.3. Ngôi chùa và Thiền viện Trúc Lâm là những thiết chế văn hóa Phật giáo điển hình - không gian văn hóa tâm linh, nơi khởi nguồn, dung dưỡng và phát huy giá trị tư tưởng và triết lý sống của Phật giáo cần được quan tâm bảo tồn.

Thực tế cho thấy, ở Việt Nam có hai hệ thống thiết chế văn hóa Phật giáo đang thực hiện tốt chức năng hoằng dương phật pháp và hướng dẫn tu tập theo Thiền phái Trúc Lâm là:

- Hệ thống chùa Trúc Lâm (những ngôi chùa nổi tiếng đã được xếp hạng cấp quốc gia như Yên Tử, Quỳnh Lâm, Vĩnh Nghiêm, Thanh Mai, Côn Sơn…).

- Hệ thống Thiền viện Trúc Lâm trong nước và nước ngoài.

Từ thực tế đó, có thể đề xuất hai giải pháp bảo vệ và phát huy tương ứng sau đây:

Một là, tiếp tục nghiên cứu làm rõ các mặt giá trị tiêu biểu của các ngôi chùa Trúc Lâm; xây dựng hồ sơ khoa học trình Thủ tướng Chính phủ ra quyết định công nhận di tích quốc gia đặc biệt (tương tự trường hợp chùa Côn Sơn, hải Dương). Đồng thời, liên kết với các địa phương có chùa Trúc Lâm xây dựng quy hoạhc tổng thể bảo tồn và phát huy giá trị với tư cách là một “Hành trình di sản - du lịch tâm linh” tiêu biểu của cả nước.

Hai là, tiếp tục ủng hộ việc xây dựng các Thiền viện Trúc Lâm ở trong nước và nước ngoài nhằm góp phần tích cực vào việc hoằng dương tư tưởng, triết lý sống, đặc biệt và văn hóa đạo đức Phật giáo để chuyển hóa các giá trị tinh thần của Phật giáo nói chung và Thiền phái Trúc Lâm nói riêng thành hành động thiện nguyện cụ thể trong đời sống thường nhật của mọi công dân Việt Nam là ước nguyện và là mục tiêu mà chúng ta cần theo đuổi.


PGS.TS. Đặng Văn Bài
Th.s. Hoàng Thị Hoa


© Tác giả giữ bản quyền.
. Đăng tải theo nguyên bản của tác giả ngày 27.06.2012.
Trích đăng lại vui lòng ghi rõ nguồn Newvietart.com