Ngày 15-3-1397, vua Trần Thuận tông ban lệnh dời đô về phủ Thanh Hóa. Đến tháng 11, xa giá nhà vua cùng vợ con và triều đình dời Thăng Long vào đến Thanh Hóa, nhưng không đến thành An Tôn mà về cung Bảo Thanh đã được Quý Ly cho xây dựng ở hương Đại Lại - quê hương của Hồ Quý Ly (nay thuộc xã Hà Đông, huyện Hà Trung). Tại cung Bảo Thanh, ngày 15-3 năm Mậu Dần (1398), Hoàng thái tử An (mới 3 tuổi) lên ngôi (tức Trần Thiếu Đế) đổi niên hiệu là Kiến Tân năm thứ nhất. Cùng ngày hôm ấy, xa giá vua về thành An Tôn. Vua ngự ngai vàng, trăm quan chầu lạy, tổ chức lễ mừng, “ban yến cho các quan từ ngũ phẩm trở lên, cho phép con trai, con gái dạo xem ở cửa Nam thành cả ngày lẫn đêm”. Từ đây, thành An Tôn chính thức trở thành kinh đô của nhà Trần từ năm 1398 – 1399, sử gọi là Tây Đô.
Tháng 3 năm Canh Thìn (1400), Hồ Quý Ly phế truất Thiếu đế An làm Bảo Ninh vương, giành lấy ngôi vua, đặt niên hiệu Thánh Nguyên năm thứ nhất, đổi quốc hiệu từ Đại Việt thành Đại Ngu (Ngu: sự yên vui) và thành Tây Đô trở thành quốc đô của nước Đại Ngu từ năm 1400 đến 1407. Với tư cách là quốc đô của triều nhà Hồ, thành Tây Đô là nơi đã diễn ra những quyết sách về chế độ chính trị, kinh tế - xã hội, văn hóa, giáo dục, quân sự - quốc phòng, nhằm làm cho nước Đại Ngu nhanh chóng được cường thịnh, thoát khỏi những khủng hoảng trầm trọng của đời sống xã hội cuối vương triều Trần để lại. Tuy nhiên, không phải từ khi nắm được hoàn toàn chính quyền trong tay Hồ Quý Ly mới thực hiện cải cách mà trước đó, kể từ năm 1396, sau khi được cử giữ trọng trách “Quốc tổ nhiếp chính” trong vương triều nhà Trần, Hồ Quý Ly đã bắt đầu thực hiện một số chính sách cải cách cả về mặt văn hóa, giáo dục, kinh tế, tài chính. Trên lĩnh vực kinh tế - xã hội: Ngay sau khi lên ngôi vua, cùng với việc tiếp tục thực hiện chính sách hạn điền, phát hành tiền giấy đã được ban hành từ năm 1396, Hồ Quý Ly đã ban hành hàng loạt chính sách, luật lệ như: thuế thuyền buôn (1400), chính sách hạn nô (1401), kiểm biên dân số trong cả nước, đặt lại các thuế ruộng đất (1402), thuế nhân đinh (1402), quy định việc khai báo và quản lý ruộng đất; lập kho dự trữ thóc gạo; thống nhất trong cả nước các đơn vị đo lường như: cân, thước, thưng, đấu; định giá tiền giấy cho mua bán với nhau (1403),v.v... Về văn hóa, giáo dục: Hồ Quý Ly rất quan tâm đào tạo con người qua giáo dục khoa cử Nho giáo, đồng thời với ý thức dân tộc sâu sắc, ông có thái độ coi trọng chữ Nôm. Từ năm 1396, dưới triều Trần, Hồ Quý Ly đã cho chấn chỉnh lại chế độ thi cử, mở rộng việc học ở lộ, phủ, châu tại các tỉnh đồng bằng; cho làm sách Quốc ngữ thi nghĩa (dịch Kinh thi ra chữ Nôm) để giảng dạy cho hậu phi và cung phi... Đến tháng 8 năm Canh Thìn (1400), sau 5 tháng lên ngôi vua, tại kinh đô Tây Đô, Hồ Quý Ly tổ chức thi Thái học sinh (tương đương với tiến sĩ sau này) lấy đỗ 20 người. Trong số đó, sau này có người trở thành nhà văn hóa lớn như Nguyễn Trãi, có người trở thành nhà văn, nhà thơ nổi tiếng như Lý Tử Tấn, Vũ Mộng Nguyên...
Năm 1404, nhà Hồ lại định thể thứ thi chọn nhân tài: lấy tháng 8 âm lịch hàng năm tổ chức thi cử: tháng 8 năm nay thi hương, người đỗ được miễn lao dịch; tháng 8 năm sau thi ở bộ Lễ, người đỗ được tuyển bổ; tháng 8 năm sau nữa thi hội, ai đỗ thì bổ Thái học sinh; tháng 8 năm tiếp theo lại bắt đầu thi hương. Chỉ trừ những quân nhân, phường chèo, người có tội là không được thi. Đến năm 1405, nhà Hồ đã tổ chức kỳ thi chọn nhân tài, lấy đỗ 170 người trong đó có Hồ Ngạn Thần và Lê Củng Thần sung làm Thái học sinh lý hành (chưa chính thức) và 6 người sung làm Tư Thiện đường học sinh (nhà học của Thái tử). Với các kỳ thi đó, thành Tây Đô - quốc đô triều Hồ, chỉ trong 7 năm đã trở thành một trung tâm văn hóa của đất nước mà các thế kỷ trước chỉ có ở thành Thăng Long, quốc đô của triều Lý và triều Trần có được mà thôi. Về lĩnh vực quân sự, củng cố quốc phòng: Sau đợt kiểm biên dân số trong toàn quốc (tháng 4 - 1401), nhà Hồ xây dựng được lực lượng thường trực tương đối lớn. Nhiều xưởng chế tạo vũ khí và kho quân khí được xây dựng. Một trong những đóng góp quan trọng của nhà Hồ là việc chế tạo ra các loại súng và pháo, đặc biệt nhất là súng Thần cơ do Hồ Nguyên Trừng chế tạo. Những chiến thuyền lớn (thuyền Cổ lâu) được đóng và xây dựng cả một hệ thống công trình phòng thủ quốc gia có quy mô lớn như thành Tây Đô, thành Đa Bang,v.v... Cũng ở tòa thành đá Tây Đô, vào năm Nhâm Ngọ (1402), Hồ Hán Thương thân chinh cầm 20 vạn quân thủy bộ, voi ngựa vào phương Nam để mở rộng lãnh thổ của nước Đại Ngu.Như vậy, Thành Nhà Hồ chính thức trở thành kinh đô của nhà Trần từ năm 1398 đến 1399, nhà Hồ từ năm 1400 đến 1407. Các quyết sách xây dựng và bảo vệ đất nước trong thời gian từ năm 1398 đến năm 1407 đều được đưa ra tại đây. Với hệ thống công trình kiến trúc cung điện, đền đài của vương triều ở trong vòng thành đá như cung Nhân Thọ, điện Hoàng Nguyên, cung Phù Cực, đàn Xã Tắc, Đông Thái miếu, Tây Thái miếu,v.v... cùng các tuyến giao thông được hình thành cùng với sự phát triển của phố phường, chợ và các ngành nghề thủ công ở bên ngoài thành đá đã làm biến đổi bộ mặt của một vùng quê dần trở thành một trung tâm chính trị, kinh tế - văn hóa của cả nước.
Thành Nhà Hồ, ngay từ khi được đặt viên gạch nền móng đầu tiên đã tự nó xác lập cho mình những kỷ lục ngoạn mục. Đó trước hết là thời gian xây dựng, khi những công trình chủ yếu của tòa thành được hoàn tất chỉ trong vòng 3 tháng. Trong lịch sử các kinh thành Việt Nam, đây có lẽ là trường hợp “vô tiền khoáng hậu”! Và, đi cùng với kỷ lục về thời gian, Thành Tây Đô được đánh giá là “hiện tượng đột khởi” về kỹ thuật khai thác, chế tác và xây dựng tòa hoàng thành bằng đá không chỉ ở Việt Nam mà cả khu vực vào cuối thế kỷ 14, đầu thế kỷ 15. Trên vùng đồng bằng rộng lớn thuộc địa phận huyện Vĩnh Lộc, Thành Nhà Hồ được quy hoạch gồm hai vòng thành bao bọc lẫn nhau. Nếu khẳng định rằng tòa thành này “là kinh đô điển hình của một vương triều quân chủ Việt Nam, đó là một mô hình kinh đô vừa mang một số đặc trưng chung của phương Đông, vừa mang tính truyền thống của quy mô kinh đô Việt Nam, vừa có nét khác biệt của một vương triều đang đẩy mạnh công cuộc cách tân đất nước”, thì kết cấu hai (hoặc ba) vòng thành chính là đặc trưng chung của hầu hết các kinh đô phương Đông như Trung Quốc, Nhật Bản hay Hàn Quốc. Song, nổi bật hơn cả, nơi tập trung tinh hoa trí tuệ của Đại Việt cuối thế kỷ 14 đều thể hiện ở tòa thành đá (hoàng thành). Theo các nhà khảo cổ, khối lượng đá dùng để xây thành ước tính trên 25.000 m3, khối lượng đất đắp trên 100.000 m3. Những con số ấy khiến Lu-i Bê–ra–xi phải thốt lên: “Người An Nam là những người khổng lồ đào đất”. Mặt tường vừa là nơi chịu đựng sự công phá khốc liệt của quân địch và thiên nhiên, vừa là nơi phô bày những kỳ công về kỹ thuật, mỹ thuật và sức mạnh của tòa thành. Do đó, nó được tính toán xây dựng cực kỳ công phu bằng loại vật liệu bền vững, nhất là các khối đá vôi lớn, có hình khối chữ nhật, nặng từ 10 đến 16 tấn và những khối rất lớn, nặng trên 26 tấn. Mặt ngoài và mặt bên các khối đá được đẽo gọt vuông thành, sắc cạnh và được xếp so le theo hình chữ “công” nhằm tạo thế liên kết giữa các khối đá theo cả hai chiều ngang – dọc. Tường thành hơi thu nhỏ dần theo kiểu “thượng thu, hạ thách” (trên thu, dưới choãi) tạo thế chịu lực vững chắc theo chiều thẳng đứng của tường thành. Mặt trong các khối đá được chế tác và chèn xếp theo kiểu “nanh sấu” với các khớp nối ăn sâu vào lõi tường, dày tới 4 m, khoảng trống giữa các khối đá này là đá dăm và đất sét nện chặt. Còn mặt trong thành là các lớp đất trộn sỏi đầm nện chắc chắn theo từng lớp có độ dốc thoải dần vào phía trong. Giữa hai lớp thành là phần lõi tường được sử dụng các khối đá tự nhiên chèn ốp theo từng lớp đá xây mặt tường phía bên ngoài. Kết quả khảo sát, đo đạc của các nhà khảo cổ học cho biết, Thành Tây Đô có quy mô lớn, riêng hoàng thành có hình gần vuông, mỗi cạnh trên dưới 800 m và chu vi trên 3,5 km. Thành mở 4 cửa theo hướng Nam – Bắc – Đông – Tây, các cửa xây theo kiểu vòm cuốn, bằng đá, riêng cửa Nam là cửa chính có 3 cổng ra vào, dài trên 34 m, cao hơn 10 m. Trải qua thời gian trên 6 thế kỷ, nhiều đoạn tường thành đã bị bào mòn và có chỗ bị sạt lở, nhưng di tích còn lại vẫn dày khoảng 4 - 6m, chân thành rộng trên 20 km... Tổng thể Thành Nhà Hồ có hình thế “Thạch bàn – Long xà” (thế đất như bàn đá, có rồng chầu rắn cuộn), là thế đất đẹp có vị trí bền vững lâu dài. Sự kiên cố của tòa thành cùng với điều kiện giao thông, địa thế tự nhiên đã tạo nên.
(Theo tư liệu lịch sử Thanh Hoá)
