TỪ TU THIỀN ĐẾN TU PHẬT





Kỳ Thứ 10

CÔNG ÁN THỨ MƯỜI CHÍN BÌNH THƯỜNG LÀ ĐẠO

*Công Án:

Triệu Châu hỏi Ngài Nam Tuyền:

- Đạo là gì?

Sư đáp:

- Tâm bình thường là đạo.

Triệu Châu hỏi:

- Đến đó được không?

Sư nói:

- Nghĩ đến đã sai.

Triệu Châu tiếp:

- Không nghĩ đến sao biết đó là đạo?

Sư nói:

- Đạo không thuộc chuyện biết hay không biết. Biết mà biết sai thì biết có ăn thua gì ! Nếu quả đến được đạo, bấy giờ cũng như thái hư, trống như khoảng khoát, há có thể gượng cho là trái phải sao ?

Lời giải:

Đúng là "Tâm bình thường là đạo", nhưng để trở về với cái Tâm Bình Thường này Kinh dạy: Phải lâu ngày cần khổ, phải tu, phải hành, phải thí, xả và làm bao nhiêu Hạnh, dễ đâu nói về là về, nói đến là đến ngay được!

Phàm Phu thay vì dùng cái Tâm bình thường, đã dùng cái Tâm Bất bình thường theo nghĩa đạo, là đã nhuộm thêm Ba Độc: Tham lam, Sân Hận, Si mê mà chư Phật đã dùng biết bao nhiêu phương tiện để dạy cho hoá giải, thế mà còn trầy trật, còn rớt tới rớt lui, dễ đâu không nghĩ đến, tự nó sẽ có!

Đành rằng nếu biết mà biết sai thì không có nghĩa gì. Nhưng làm thế nào để Biết đúng? Thế nào là Biết đúng?

Nếu đến được đạo thì như thái hư, trống không, nhưng làm sao để đến?

Những lối dạy tắt như thế liệu có sinh được lợi lạc cho ai, hay chỉ làm cho họ thêm đoạn kiến, cho là chỉ cần "đừng nghĩ tới mọi việc", là xong con đường tu hành? Nếu tu học một thời gian để rồi chẳng còn phân phải trái thì làm sao để hướng dẫn cho lớp người đi sau vì họ cũng cần biết đâu là bờ bên kia? Cách nào để qua? Mà áp dụng, mà thực hành. Đâu phải tưởng rằng đã qua bờ là xong! Bảo rằng đừng nghĩ đến, thì làm sao biết đó là gì? Làm sao biết đường để đến?

Đạo Phật phân minh: Chánh, Tà, Mê, Ngộ, Phàm, Thánh, Địa ngục, Niết Bàn, Chúng sinh, Phật, Chân, Vọng... mỗi mỗi đều có những tính cách khác nhau để người tu phân biệt mà chọn lựa và cả cách thức để bỏ bờ này sang bờ kia bằng những việc làm cụ thể. Kết quả từng bước được hướng dẫn rõ ràng mà đôi khi người tu còn nhầm lẫn, hiểu sai, hành sai. Huống chi cứ cho là bỏ hết, đừng nghĩ tới là xong!

Kết luận: Rõ ràng Ngài Nam Tuyền chưa hiểu hết cái Lý của Đạo, nên nói được mà giải thích không thông. Đạo Phật dạy phải “Đắc cái Vô Sở Đắc”. Có nghĩa là phải Đắc, phải Chứng, nhưng không thấy có MÌNH CHỨNG ĐẮC. Đâu thể đốt giai đoạn, chưa Đắc mà được cái Vô Sở Đắc ngay được?! Người nghe, nếu cứ tin theo đó thì sẽ sinh đoạn kiến, không thể tu tiến được nữa.

CÔNG ÁN THỨ HAI MƯƠI

KẺ ĐẠI LỰC SĨ

*Công Án:

Hoà Thượng Tùng Nguyên nói:

- Kẻ đại lực sĩ, sao nhấc chân không nổi?

Lại nói:

- Nói không do miệng.

Lời giải:

Chắc chắn Hòa Thượng này đã phân rõ Thân, Tâm, đã thấy rằng chủ nhân ông là cái Tâm đang điều khiển cho cái Thân mọi hoạt động: nói, năng, cúi, ngước, nhìn, đi, đứng, nằm ngồi, tới lui... Nhưng thực ra, nếu chỉ một mình cái Tâm cũng không làm gì được, vì ý chí cũng cần có thủ hạ mới sai làm được, vì thế, người đời cũng nói là "lực bất tòng tâm", khi ý muốn mà thân không thực hiện nổi.

Lời nói từ cửa miệng mà ra. Thấy như là do miệng mà nói. Nhưng thật ra là do Thần thức điều khiển. Không phải tự cái miệng có lời, có ý để phát ra. Chứng minh điều này bằng cách nhìn người chết. Lúc đó sự sống, thần thức ra khỏi cái thân rồi, dù tay chân còn nguyên nhưng không hoạt động được. Miệng lưỡi vẫn còn mà đâu có nói được! Cho nên gọi là "nói không phải do miệng".

Dù vậy, cuộc sống là phải phối hợp cả hai, Thân và Thức mới hình thành một con người. Nhưng nếu thuần túy sống theo sự điều khiển của cái Thức Mê thì gọi là Phàm Phu, và người biết chuyển hoá cái Thức để nó trở thành Trí. Sau đó, cũng chính nó điều khiển cho cái thân chỉ suy nghĩ, chỉ làm theo những điều thiện thì gọi đó là người tu hành vậy.

CÔNG ÁN THỨ HAI MƯƠI MỐT

QUE CỨT CỦA VÂN MÔN

*Công Án:

Một Ông Tăng hỏi Ngài Vân Môn:

- Phật là gì?

Sư đáp:

- Que cứt khô.

Lời giải:

Ngài Vân Môn gọi Phật là "que cứt khô", thảo nào sản sinh ra cao đồ là Động Sơn cũng bắt chước gọi Phật là "Ba cân Mè"!

Thầy sao, trò vậy! Tâm, miệng của hai ông này không chứa được thứ gì sạch sẽ thơm tho, giá trị hơn thế sao? Vậy mà cũng lập ra Vân Môn Tông để dạy Thiền! Những lời như thế này mà cũng gọi là Công Án để người sau Tham học thì tội cho Thiền Sinh quá!

Có lẽ Thiền của Tông này toàn sinh ra những Phật như vậy, cho nên sau đó đã thất truyền! Vì nếu tu hành miên mật, Tham, Quán ráo riết để thành “”, thành "que cứt khô" thì ai chịu bỏ công sức để tu làm gì? Lời lẽ thiếu trang nghiêm và kiêu mạn đến thế là cùng! Bạn bè ngang hàng nhau còn không thể gọi nhau như vậy, huống Phật là bậc Giác Ngộ để lại cả một giáo pháp cho đời!

Ăn cơm Phật, ở nhà Phật còn trở lại phỉ báng Phật! Chỉ cần nghe những lời như thế thì đủ biết Thiền Sư này quá ư là cao ngạo, Nhân Thừa còn không có, làm sao có thể gọi là bậc chân tu, càng làm sao đủ đức để dạy người?! Vậy mà Ngài Vô Môn còn không hiểu được đó là những lời xúc phạm, còn lấy đó làm Công Án cho người sau Tham!

Kết luận: Không biết các vị Sư này có học bài nào về Nhân Quả hay không? Người đời còn biết câu: "Kính Thầy mới được làm Thầy". Người đã xưng bậc Thầy còn chẳng coi Đức Đạo Sư ra gì. Nếu những người hậu học cũng bày đặt bắt chước để nói theo Ngài để “báng Phật, chê Pháp” thì bao nhiêu tội, nghiệp ắt là Ngài phải lãnh hết!

CÔNG ÁN THỨ HAI MUƠI HAI

CÂY SÁT CAN CỦA CA DIẾP

*Công Án:

Ngài A NAN hỏi Ngài Ca Diếp:

- Ngoài bộ Y vàng, Thế Tôn còn truyền cho Ngài gì nữa?

Ca Diếp gọi:

- A Nan!

A Nan:

- Dạ

Ca Diếp nói:

- Hãy lật ngược cây sát can ngoài cửa.

Lời giải:

Ngài A Nan học Pháp thuộc làu, nhưng chưa hiểu. Hạnh chưa đủ. Đức chưa tròn. Chính vì thế mà khi chọn người để phú chúc, Thế Tôn phải trao cho Ngài Ca Diếp, vừa là Trưởng Lão, vừa đức hạnh vẹn toàn, lý sự viên dung.

Phật Pháp đâu có phải là bộ Y? Y Bát chỉ là tín vật để người khác nhìn thấy mà biết được rằng đó là người được giao phó trách nhiệm nối truyền Chánh Pháp của người đi trước. Việc “đắc pháp” được Chư Tổ, từ Đức Thích Ca, Truyền cho Tổ đầu tiên là Ngài CA DIẾP, cho đến người cuối cùng là LỤC TỔ HUỆ NĂNG cũng chỉ là TÂM và PHÁP.

Vì Đạo Phật là Đạo chỉ rõ mọi sai lầm, chấp nhất, tạo Nghiệp đều do cái VỌNG TÂM. Tu Phật là để trở về với CHÂN TÂM. Người Thầy cũng là người “Đắc được cái TÂM”, ấn chứng cho người trò nào cũng Thấy được cái TÂM nên Đạo Phật gọi là “Dùng Tâm Ấn Tâm” hay “Lấy Tâm truyền Tâm”, từ thế hệ này sang thế hệ khác, để làm cho ngọn đuốc Chánh Pháp được mồi thêm, sáng mãi. Soi cho hết bóng tối của Vô Minh đang ngự trị giữa cái Tâm mê mờ của con người.

Ngài A Nan lúc đó chưa nhận ra ý nghĩa của việc trao Y Bát. Thấy Y Bát chỉ là vật tầm thường, mỗi ngày Phật vẫn dùng, nên cho rằng hẳn Thế Tôn còn trao cho Ngài Ca Diếp thứ đặc biệt gì khác nữa. Vì thế nên Ngài Ca Diếp bảo Ngài A Nan "hãy lật ngược cây sát can ngoài cửa", như hình thức bảo Ngài nên thay đổi cách nhìn lại cho đúng.

Đức Thế Tôn trước khi nhập diệt, biết rằng Ngài A Nan hiện tại không xứng đáng, chưa đủ đức hạnh, nhưng sau đó sẽ hoàn tất công việc tu hành. Vì thế Ngài đã dặn Ngài Ca Diếp sau đó giao lại Y Bát cho A Nan kế thừa để phát huy Đạo Phật. Kết quả là Ngài A Nan sau đó đã không phụ lòng mong mỏi của Đấng Đạo Sư. Hầu hết các chính Kinh còn lưu truyền cho đến nay đều nhờ Ngài A Nan ghi nhớ, đọc cho các đại đệ tử kiểm tra rồi ghi chép lại.

Đạo Phật chân chính sống mãi, vượt mấy ngàn năm không hề bị đào thải. Dù Y Bát không còn trao, nhưng dòng Chánh Pháp vẫn âm thầm, người đi trước TRUYỀN TÂM lại cho người sau, không lúc nào dứt diệt, nhờ vào tính chất Chân, Thiện, Mỹ. Người tu không thích thế sự. Không màng lợi danh. Không dua vạy nịnh hót. Không bon chen tranh đấu. Chỉ lo tu sửa chính mình, để bản thân mình tốt đẹp mà chung quanh cũng được nhờ. Vì thế mà được gọi là Chánh Pháp, vì không đòi thống lãnh, đối trị người. Chỉ thống lãnh những chúng sinh loạn động nơi nội tâm. Lo đối trị với những cái xấu, cái ác của chính mình, để tâm được trong sáng, thanh tịnh.

Kết luận: Phật Pháp cao quý hơn thế gian pháp nhờ ở việc tu, sửa, không phải ở nơi Y, Bát.

 

... CÒN TIẾP ...






© Tác giả giữ bản quyền.
. Đăng ngày 13.06.2012 theo nguyên bản của tác giả từ Sài Gòn.
. TRÍCH ĐĂNG LẠI VUI LÒNG GHI RÕ NGUỒN NEWVIETART.COM .