CÓ MỘT CUỐN SÁCH NHƯ THẾ ĐÓ

 

Lm. Giuse
NGUYỄN HỮU TRIẾT


2

NHỮNG ĐIỀU GIẢN YẾU VỀ KINH THI,

TẬP CA DAO CỔ CỦA NGƯỜI TÀU

· Nói qua về Ngũ kinh.

Ngũ kinh (năm cuốn sách), cũng như Tứ thư, là những sách gốc của Nho giáo. Nguyên trước có sáu kinh, nhưng vì sự đốt sách của Tần Thủy Hoàng (246-209), một kinh là Kinh nhạc (âm nhạc) mất đi6. Ngũ kinh là:

1. Thi (thơ), do đức Khổng Tử sưu tập và lựa chọn, sẽ nói rõ sau.

2. Thư (nghĩa đen là ghi chép), do đức Khổng Tử sưu tập, trong đó chép điển, mô, huấn, cáo, thệ, mệnh7 của các vua tôi bên Tàu từ đời Nghiêu, Thuấn đến đời Đông – Chu (từ năm 2357 đến năm 771 trước công nguyên).

3. Dịch (nghĩa đen là thay đổi) là cuốn sách tướng số dùng về việc bói toán và sách lý học cốt giải thích lẽ biến hóa của trời đất và sự hành động của muôn vật.

Nguyên vua Phục Hy (4480-4365) đặt ra bát quái (tám quẻ, tức tám hình vẽ); tám quẻ ấy lại lần lượt đặt chồng lên nhau thành ra 64 trùng quái (quẻ kép); mỗi trùng quái có sáu nét vạch (hoặc vạch liền biểu thị lẽ dương, hoặc vạch đứt biểu thị lẽ âm gọi là hào, thành ra 384 hào. Đức Khổng Tử mới nhân đấy mà giải nghĩa các quái, các trùng quái và các hào.

4. Lễ ký (chép về lễ) là sách chép các lễ nghi trong gia đình, hương đảng và triều đình. Hiện cuốn lễ ký còn truyền lại đến giờ phần nhiều là văn của Hán Nho, chứ chính văn do đức Khổng Tử san định về đời Xuân Thu không còn mấy.

----------------------------

6 Chỉ còn lại có một thiên, sau đem vào sách Lễ Ký, đặt là thiên Nhạc ký.

7 Điển: phép tắc; : mưu bàn, kế sách; huấn: lời dạy dỗ; cáo: lời truyền bảo; thệ: lời răn bảo tướng sĩ; mệnh: mệnh lệnh.

5. Xuân Thu (mùa xuân và mùa thu), nguyên là sử ký nước Lỗ, do đức Khổng Tử san định lại, chép công việc theo thể biên niên từ năm đầu đời Lỗ Ẩn Công đến năm thứ 15 đời Lỗ Ai Công (từ năm 722 đến năm 481 trước công nguyên), cộng là 243 năm.

· Lược sử kinh Thi

1. Kinh Thi vốn là những bài ca dao ở nơi thôn quê và nhạc chương ở nơi triều miếu của nước Tàu về đời Thượng cổ. Các thiên trong "Thương tụng" có lẽ làm từ đời nhà Thương (1783-1135), còn các thiên khác đều làm về đời nhà Chu, từ thế kỷ XII đến VI.

Các bài ấy do các nhạc sư sưu tập và đem hát trong khi có yến tiệc và tế lễ.

2. Nguyên trước có đến 3.000 thiên, sau đức Khổng Tử lựa chọn lấy hơn 300 thiên và, theo ý nghĩa các thiên, sắp đặt thành 4 phần.

3. Đến đời Tần Thủy Hoàng, Kinh Thi, cũng như các kinh khác bị đốt, nhưng có nhiều nhà Nho còn nhớ.

4. Đến thế kỷ II trước công nguyên, về đời nhà Hán, có 4 bản kinh Thi xuất hiện, đại thể giống nhau, duy chữ viết có khác. Truyền lại cho đến nay là bản của Mao Công (tức Mao Trường).

· Nội dung của kinh Thi

Kinh Thi có 4 phần gồm 305 thiên (bài thơ), trong đó có 6 thiên chỉ truyền lại đề mục mà không còn bài. Mỗi thiên lấy vài chữ chính trong thiên làm đề mục và chia ra làm nhiều chương.

Bốn phần trong kinh Thi là:

1. Quốc phong Quốc nghĩa là nước (đây là các nước chư hầu về đời nhà Chu), phong nghĩa đen là gió; ý nói các bài hát có thể cảm người ta như gió làm rung động các vật. Vậy quốc phong là những bài ca dao của các dân nước chư hầu mà đã được nhạc quan của nhà vua sưu tập lại.

Quốc phong chia 15 quyển, mỗi quyển là một nước, gồm có:

a. Chính phong (hai quyển Chu nam Thiệu nam8) gồm những bài hát từ trong cung điện nhà vua truyền ra khắp thiên hạ.

b. Biến phong gồm những bài hát của 13 nước chư hầu khác.

2. Tiểu nhã Nhã nghĩa là chính đính, gồm những bài hát dùng ở nơi triều đình. Tiểu nhã chỉ những bài hát dùng trong những trường hợp thường như khi có yến tiệc. Tiểu nhã gồm có 8 thập, mỗi thập có 10 thiên.

3. Đại nhã Đại nhã chỉ những bài hát dùng trong những trường hợp quan trọng như khi thiên tử họp các vua chư hầu hoặc tế ở miếu đường.

Đại nhã gồm có 3 thập, mỗi thập 10 thiên, trừ thập thứ 3 có 11 thiên.

4. Tụng Tụng nghĩa đen là khen, gồm những bài ngợi khen các vua đời trước và dùng để hát ở nơi miếu đường. Tụng có 5 quyển gồm 40 thiên, chia ra làm:

- Chu tụng: 31 thiên (3 quyển đầu)

- Lỗ tụng: 4 thiên (quyển thứ 4)

- Thương tụng: 5 thiên (quyển thứ 5).

· Thể văn trong kinh Thi

1. Các bài trong kinh Thi viết theo thể thơ 4 chữ (thỉnh thoảng có câu 3 chữ hoặc 5 chữ).

2. Cách kết cấu các bài làm theo 3 thể: thể phú, thể tỷ, thể hứng.

· Luân lý trong kinh Thi

1. Đức Khổng Tử đã nói: "Thi tam bách, nhất ngôn dĩ tế chi, viết: Tư vô tà", nghĩa là: Cả 300 thiên kinh Thi, chỉ một câu có thể chùm được, là: Không nghĩ bậy (Luận ngữ: Vi chính II). Vậy người đọc Kinh Thi phải làm thế nào cho lòng mình không nghĩ đến điều xằng bậy, dâm tà để có được những tính tình trong sạch; đó là bài học luân lý của sách ấy, mà cũng là chủ ý của đức Khổng Tử khi ngài san định kinh ấy.

2. Ngài lại nói: "Thi khả dĩ hưng, khả dĩ quan, khả dĩ quần, khả dĩ oán, nhĩ chi sự phụ, viễn chi sự quân, đa chí ư điểu thú, thảo mộc chi danh", nghĩa là: Xem kinh Thi, có thể phấn khởi được ý chí, xem xét được việc dở, phù hợp với mọi người, bày tỏ nỗi sầu oán, gần thì học việc thờ cha, xa thì học việc thờ vua, lại biết được nhiều tên chim, muông, cỏ cây.

Đó là sự ích lợi của việc học kinh Thi.

(Luận ngữ : Dương Hóa, XVII)

· Đọc kinh Thi, biết được những điều gì? – Đọc kinh Thi, ta biết được tính tình, phong tục của người dân và chính trị các đời vua cùng các nước chư hầu ở nước Tàu về đời Thượng cổ. Thí dụ: Đọc Mân Phong, ta biết được tục cần kiệm của người dân nước ấy; Đọc Vệ Phong, ta biết được tục dâm bôn của người dân nước ấy; Đọc Tần Phong, ta biết được sự hối quá của người dân nước ấy; Đọc Đại Nhã, Tiểu Nhã, ta biết được chính trị của nhà Chu thịnh suy thế nào.

· Ảnh hưởng kinh Thi đối với văn chương nước Tàu và nước Nam.

1. Kinh Thi là một cái nguồn thi hứng : các thi sĩ thường mượn đề mục ở đấy.

2. Kinh Thi lại là một cái kho điển tích: các nhà làm văn hay lấy điển hoặc lấy chữ ở đấy. Ta cứ đọc Truyện Kiều thì thấy rất nhiều điển và chữ mượn ở kinh Thi.

Kết luận . – Kinh Thi, cũng như ca dao của ta, là cái nền thơ tối cổ của nước Tàu, trong đó có nhiều bài mô tả tính tình, phong tục dân Tàu một cách chất phác, hồn nhiên, thật là một cái kho tài liệu cho ta khảo cứu vậy. (Dương Quảng Hàm – Việt Nam Văn Học Sử Yếu, Bộ Giáo Dục, Trung tâm học liệu xuất bản năm 1968).

---------------------

8 Chu nam, Thiệu nam: Chu và Thiệu là tên đất (nay là đất huyện Kỳ Sơn, tỉnh Thiểm Tây); Nam là nước chư hầu ở phương nam. Đất Chu, đất Thiệu nguyên là cố ấp của nhà Chu. Đến đời Chu Văn Vương mới chia cho 2 người con là Đán và Thích; Đán được ăn phần đất Chu nên gọi là Chu công, Thích được ăn phần đất Thiệu, nên gọi là Thiệu công.

D. BỘ VEDA CỦA ẤN GIÁO

Thời kỳ Veda : là thời kỳ hình thành bộ kinh Veda, được xác định vào khoảng từ năm 1400 đến năm 1000 trước công nguyên. Đây là thời kỳ mà chủng tộc Aryan từ phương Bắc tràn sang chinh phục Ấn Độ.

Những người Aryan giỏi ngựa xe và biệt tài gươm giáo đã nhanh chóng giành phần thắng trong các cuộc chiến trận.

Veda có từ nguyên trong tiếng Sanskrit là vid, có nghĩa là hiểu biết, kiến thức. Veda còn đồng nghĩa với brahman, tức là nguyên lý vũ trụ, là khởi nguồn và cũng là mục đích của mọi kiến thức. Kinh Veda là tập hợp tất cả những hiểu biết về vũ trụ, thiên nhiên và con người . Đây là sản phẩm của tầng lớp tu sĩ đương thời, cũng tự gọi là những brahman, tức là những người làm nhiệm vụ cầu nối giữa con người và thần linh, chủ trì các cuộc cúng tế, chăm sóc đời sống tinh thần của xã hội.

Kinh Veda được xem là loại văn bản thiêng liêng do con người nghe thấy (shruti) từ thần linh, khác với loại văn bản được con người nhớ lại (smriti) từ lời dạy của những hiền triết. Kinh Veda bao gồm 4 bộ: Rig Veda, Yajur Veda, Sama Veda và Atharva Veda. Có thể nói tất cả các tôn giáo ở Ấn Độ đều bắt nguồn từ kinh Veda, ở khía cạnh là tiếp tục triển khai (trường hợp Bà la môn giáo và Hinđu giáo) hoặc tìm cách phủ nhận các ý tưởng ở đó (trường hợp Phật giáo và Jain giáo). Những câu chuyện về thần linh, những khái niệm tín ngưỡng trong kinh Veda cũng là nền tảng của sự phát triển thần thoại Ấn Độ trong các thời kỳ sau.

Các nhà nghiên cứu đã chú ý một số điểm nổi bật trong kinh Veda như sau:

- Tinh thần chiến sĩ : Thời kỳ Veda là thời kỳ những người Aryan thường xuyên đánh nhau không chỉ với người bản địa mà cả giữa những người Aryan với nhau. Trật tự xã hội thời bấy giờ được hình thành từ sự cạnh tranh giữa những bộ tộc nhỏ, đứng đầu là những "vua" (thật ra chỉ là thủ lĩnh của một nhóm) để giành đất đai, của cải (tính bằng gia súc). Trong một thế giới như vậy, các giá trị chiến sĩ được đề cao.

Các thần linh được cầu nguyện để ban cho chiến công, tiêu diệt kẻ thù. Trong số các thần linh được thờ phụng thời kỳ Veda có thần Indra, đây chính là tính chất chiến sĩ được thần thánh hóa, được miêu tả là người đã uống một lượng lớn chất bổ dưỡng soma và truy bắt, tiêu diệt loài quỷ. Vị thần này đã đóng vai trò quan trọng ở một chuyện kể trong kinh Veda về sự sáng tạo – vũ trụ đã được tạo ra khi Indra đánh bại con rắn cuộn mình bao quanh "đại dương sự sống". Indra và các vị thần tương tự trong tín ngưỡng Veda chính là sự thần thánh hóa chủ nghĩa anh hùng chiến đấu, được coi là một đặc trưng của con người và xã hội Ấn Độ cổ đại.

- Chủ nghĩa tôn sùng tự nhiên : Rất nhiều các vị thần trong kinh Veda đồng nhất với các hiện tượng thiên nhiên hoặc các yếu tố của vũ trụ - đất, không khí và bầu trời. Tên gọi các vị thần cũng chính là tên gọi các hiện tượng tự nhiên, như là mặt trời (Surya, Aditya, Savitar), mặt trăng (Chandra), bầu trời (Dyaus). Trong không khí thì có thần gió (Vayu) và thần sấm sét Indra cùng với đội quân của thần là các Marut, còn ở cõi đất thì có nữ thần đất Prithivi. Trong tất cả các trường hợp, không có sự phân biệt giữa vị thần và hiện tượng tự nhiên: mặt đất cũng chính là Prithivi, gió chính là Vayu, mặt trời chính là Surya… Có những thần khác tượng trưng cho bình minh (Ushas), đêm tối (Ratri), sông ngòi (Sarasvati) và ngay cả thiên tai cũng được thần hóa bằng hình ảnh Nirriti. Các nghi lễ của thời kỳ Veda thường diễn ra theo chu kỳ của thiên nhiên như các tuần trăng và các mùa trong năm.

Các vị thần liên quan đến việc hiến tế bằng lửa có một vị trí quan trọng, trong đó, thần lửa Agni chiếm vị trí trung tâm, Agni là vị thần duy nhất được coi như có mặt ở cả ba cõi vũ trụ: ở cõi đất thần là lửa, ở cõi không khí thần là ánh chớp, ở cõi trời thần là mặt trời. Ngoài ra, Agni còn là sứ giả và là thầy tư tế của chư thần. Các vật phẩm dâng cúng được cho vào miệng của thần Agni (tức ngọn lửa trong lễ hiến tế) và được mang đi (thông qua khói) cho chư thần cùng hưởng.

Vak là vị thần của những lời thần chú, tượng trưng cho sức mạnh của những lời cầu nguyện đồng thời là người ban truyền những ân huệ của chư thần cho con người.

Một vị thần quan trọng khác là thần Soma cũng chính là tên gọi của một sản phẩm từ thiên nhiên. Theo kinh Veda thì đây là một chất nước ép từ một loại thực vật được dùng để dâng lên thần linh và được các thầy tư tế uống trong các lễ hiến tế. Đây chắc chắn là một loại nước uống bổ dưỡng và có lẽ có chất gây hưng phấn. Kinh Veda còn ghi lại lời ca hân hoan của người uống Soma:

"Như cơn gió mãnh liệt, thức uống này đã nâng tôi lên cao. Lẽ nào tôi chưa uống Soma? Thức uống đã nâng tôi vút nhanh như trên một xe ngựa phi nước đại. Lẽ nào tôi chưa uống Soma?… Trong khoảng mênh mông, tôi vượt qua bầu trời, tôi vượt qua mặt đất. Lẽ nào tôi chưa uống Soma?

Nào, tôi sẽ đặt trái đất chỗ này, tôi sẽ đặt trái đất chỗ kia. Tôi thật khổng lồ, thật vĩ đại, tôi bay cùng với những đám mây. Lẽ nào tôi chưa uống Soma? "9.

----------------------

9 Jonathan Z. Smith (ed.), Dictionary of Religion,

Harperr San Francisco, 1995, tr.1116.

- Đề cao nghi lễ hiến tế bằng lửa :

Kinh Veda thường nói đến lễ hiến tế, gọi là yajna. Lễ hiến tế có nghi thức hết sức rườm rà với sự tham gia của nhiều thầy tư tế nhằm dâng các vật phẩm gồm sữa, ngũ cốc, thịt và soma lên các thần linh thuộc ba cõi thế giới.

(Huỳnh Thị Được, Điêu khắc Chăm và thần thoại Ấn Độ, NXB Đà Nẵng 2010)

E. BỘ KINH KORAN CỦA HỒI GIÁO

Đối với đại khối các dân tộc Ả Rập, nguyên bản bằng ngôn ngữ Arabic của kinh Koran là một kiệt tác phẩm thi văn. Kinh Koran không hẳn là một cuốn thơ trường thiên nhưng là một tác phẩm văn xuôi có vần có điệu (poetic rhymed prose) rất thích hợp với khẩu vị văn chương của những người du mục ở nơi hoang dã. Chính vì vậy mà kinh Koran đã mau chóng được truyền bá qua truyền khẩu rộng khắp bán đảo Ả Rập (lớn gấp 8 lần Việt Nam).

Về phương diện tâm linh, kinh Koran là sự nối kết những dòng tư tưởng về một tôn giáo độc thần khởi đầu từ tổ phụ Abraham, qua Mai-sen (Moses) qua Jesus đến thiên sứ cuối cùng là Muhammad. Từ 2000 năm trước Công Nguyên, những người Ả Rập đã biết đến Thiên Chúa của Abraham mà họ gọi là Allah. Điều đó có nghĩa là họ đã thờ Allah từ 27 thế kỷ trước khi có Muhammad và đạo Hồi. Qua nhiều thế kỷ tiếp xúc với văn hóa Do Thái, người Ả Rập đã rất quen thuộc với các nhân vật của kinh Thánh Cựu Ước. Từ thế kỷ 1 đến thế kỷ 7, người Ả Rập tiếp xúc với những người Ki Tô Giáo thuộc đế quốc Byzantine rộng lớn và từ những nước lân bang như Syria, Ai Cập và Ethiopia... Mặc dù rất ít người Ả Rập lúc đó theo Ki Tô Giáo nhưng cũng không cảm thấy xa lạ với Jesus và Gioan Baotixita.

Đọc kinh Koran, chúng ta sẽ thấy những nhân vật quan trọng của hai đạo Do Thái và Ky Tô được Muhammad thường xuyên nhắc tới. Kinh Koran là một tổng hợp những kiến thức tôn giáo đã tiềm tàng sẵn trong đại khối các dân tộc Ả Rập. Sự tổng hợp đó được gọi là Islam, có nghĩa là sự tuân phục tuyệt đối vào Thiên Chúa. (Islam means the absolute submission to God). Người Trung Quốc phiên âm "Islam" thành "Hui" (Hồi) và gọi đạo này là "Hui-jao" tức Hồi Giáo. Kinh Koran trở thành Thánh Kinh (The Holy Book) hoặc sách Mặc Khải (Book of Revelation) của Hồi Giáo.

Đáng lẽ ra đạo Do Thái, đạo Ky Tô và đạo Hồi đều cùng thờ chung một Chúa thì phải có chung một Kinh Thánh duy nhất mới phải. Trong thực tế, mỗi đạo đều có Thánh Kinh riêng và đạo nào cũng tự cho Thánh Kinh của mình mới là chân lý tuyệt đối. Cả 3 đạo đều tự cho Thánh Kinh của mình là những "sách Mặc Khải".

- Kinh Torah (Cựu Ước) được Thiên Chúa mặc khải cho Thánh Mai-sen (Moses) khoảng năm 1250 TCN trên núi Sinai.

- Các sách Tân Ước/Phúc Âm là các sách Thiên Chúa mặc khải cho các Tông đồ, thánh Phaolô và bốn vị Thánh Sử: Matthew, Mark, Luke và John trong thế kỷ 1.

- Kinh Koran là sách Thiên Chúa mặc khải cho tiên tri Muhammad qua trung gian của sứ thần Gabriel trong 22 năm liên tục (610-632).

Trước khi có kinh Koran, người Ả Rập có mặc cảm là một chủng tộc thiếu văn hóa và họ tỏ ra trọng nể người Do Thái và Ky Tô. Cho nên, trong ngôn ngữ Ả Rập có danh từ "Dhimmi" để gọi chung cho Do Thái và Ki Tô. Danh từ này có nghĩa là "những người có sách Thánh Kinh" (People of the Books).

Sự xuất hiện kinh Koran vào đầu thế kỷ 7 đã đem lại cho các dân tộc Ả Rập một niềm tự hào vì từ nay họ có Thánh Kinh viết bằng tiếng Ả Rập. Họ đón nhận đạo Hồi là đạo của dân tộc chứ không phải là đạo ngoại lai. Kinh Koran và đạo Hồi là hai yếu tố quan trọng đem lại sự hứng khởi tinh thần và là chất keo văn hóa nối kết các bộ lạc Ả Rập lại với nhau và biến đại khối Ả Rập thành một lực lượng chính trị và quân sự hùng mạnh trong nhiều thế kỷ.

1 . Công việc biên soạn kinh Koran

Khác với Cựu Ước được viết theo lối văn lịch sử, kinh Koran được viết theo lối văn kể chuyện thông thường (oral recitation). Tổng cộng có 114 chương (suras/chapters) gồm 6616 câu thơ (verses).

Sự phân phối các câu thơ trong các chương không đều nhau. Chương dài nhất có 287 câu thơ, chương ngắn nhất chỉ có 3 câu mà thôi. Mỗi câu thơ cũng dài ngắn bất thường: Câu thơ dài nhất chiếm tới nửa trang sách, câu ngắn nhất chỉ có 2 chữ! Phần lớn kinh Koran (85 chương) được Muhammad viết tại Mecca, còn lại 29 chương viết tại Medina. Muhammad viết Koran trên lá cọ và trên những tấm da súc vật phơi khô.

Sau khi Muhammad qua đời vào năm 632, phần lớn các bản chép tay nói trên bị thất lạc hoặc phân tán rải rác nhiều nơi. Mọi người cảm thấy nguy cơ có thể làm cho cuốn Thánh Kinh của họ bị tiêu vong nếu không gấp rút sưu tầm và thu hồi các nguyên bản của Muhammad. Sau đó, cần phải có người tài giỏi biên tập tất cả các nguyên bản thành một cuốn Thánh Kinh duy nhất.

Để đáp ứng nhu cầu của các tín đồ Hồi Giáo, người có thẩm quyền đầu tiên đứng ra lo việc này là Abu Bakr (632-634). Ông vừa là cha vợ vừa là người đầu tiên kế vị Muhammad (the first caliph) và cũng là vị vua Hồi Giáo đầu tiên thống nhất bán đảo Ả Rập để biến nơi này thành điểm xuất phát, bành trướng Hồi Giáo ra khắp thế giới. Abu Bakr giao cho một thanh niên 22 tuổi tên Zayd đi sưu tầm và gom góp các thủ bản của kinh Koran do Muhammad viết tập trung tại Medina.

Công việc đang được tiến hành tốt đẹp thì Abu Bakr qua đời. Các tài liệu do Zayd thu thập đều được chuyển giao cho vị vua Hồi Giáo kế nhiệm là Umar Khattab. Vị vua này là một nhà quân sự đại tài, chỉ trong 10 năm (634-644) đã mở rộng lãnh thổ của Hồi Giáo ra toàn vùng Trung Đông và Bắc Phi. Vì quá mải mê lo việc quân sự nên vị vua này đã bỏ quên công việc biên tập kinh Koran. Hậu quả nghiêm trọng là ở những địa phương khác nhau người ta truyền miệng những câu thơ của Kinh Koran khác nhau và sự tranh cãi về tính trung thực của kinh Koran càng ngày càng trở nên gay gắt và hỗn loạn. Các cuộc tranh cãi này đã dẫn đến cuộc "thánh chiến" giữa hai phe Hồi Giáo tại Nehavand, gây cảnh thịt rơi máu đổ trong 7 năm (650-657).

Vị vua kế nghiệp thứ ba (the third caliph) là Uthman (644-657) chú tâm đến việc phục hồi kinh Koran. Năm 652, Uthman giao cho Zayd và 3 người phụ tá nhiệm vụ biên tập các bản thảo của Muhammad thu hồi được thành một cuốn sách duy nhất. Sau 5 năm, nhóm biên tập của Zayd hoàn thành nhiệm vụ. Năm 657, tức 25 năm sau khi Muhammad qua đời, vua Uthman công bố bản kinh Koran do Zayd biên tập và gọi nó là "MUSHAF" có nghĩa là "Kinh Thánh chính thức của mọi người Hồi Giáo" (The Official Codex for all Muslims).

Ban biên tập của Zayd chép cuốn Kinh Thánh này thành 4 bản giống nhau để lưu trữ tại 4 thành phố: Medina , Basra, Kufa (Iraq) và tại Damacus (Syria).

Sau đó, Uthman ra lệnh tiêu hủy toàn bộ các bản viết tay của Muhammad trên lá cọ và da thú vật. Công việc này tương tự như hành động của Hoàng đế La Mã Constantine ra lệnh thiêu hủy toàn bộ các sách thánh kinh và các di tích thật của Chúa Jesus sau Công Đồng Nicaea năm 325.

Do sự thiêu hủy các bản viết tay của Muhammad theo lệnh của vua Uthman đã không được thi hành triệt để nên ngày nay người ta đã thu thập được 5 bản chính viết trên da súc vật:

- 2 bản hiện lưu trữ tại thư viện Taskhent ở Uzebekistan.

- 1 bản lưu trữ tại thư viện Tpokabi Thổ Nhĩ Kỳ.

- 1 bản tại bảo tàng viện London.

- 1 bản mới tìm thấy tại Yemen năm 1979.

So sánh các bản chính nói trên với Kinh Koran do Uthman công bố năm 657, người ta đã phát giác có nhiều sự khác biệt. Các học giả nghiên cứu về Hồi Giáo xác nhận: Việc Uthman ra lệnh tiêu hủy các bản viết tay của Muhammad là một tổn thất hết sức nặng nề cho Hồi Giáo. Năm bản viết tay trên da súc vật mà ngành khảo cổ đã thu thập được cũng đủ xác minh một sự thật đáng buồn: Zayd và ban biên tập của ông ta có thể đã không thu thập đầy đủ các thủ bản của Muhammad, khi chép lại có thể đã bỏ sót một số câu thơ của kinh Koran và cuối cùng không có gì bảo đảm là Zayd và ban biên tập đã không tự ý sửa đổi Kinh Koran theo ý riêng của mình.

Tuy nhiên, hầu hết các tín đồ Hồi Giáo hiện nay đã không nêu lên những vấn đề nói trên. Họ vẫn tin rằng bản kinh Koran bằng tiếng Arabic do vua Uthman công bố năm 657 là kinh Koran do Thiên Chúa Allah mặc khải cho Muhammad.

2 . Sơ lược nội dung kinh Koran

Những chương đầu tiên của Kinh Koran nói về Thiên Chúa Allah với những đặc tính siêu việt của Ngài. Vì đạo Hồi là đạo Thiên Chúa thứ ba, xuất hiện sau đạo Do Thái và đạo Kitô nên đạo Hồi đã in đậm những dấu ấn đức tin của hai đạo Thiên Chúa đàn anh. Tôi đã trình bày đầy đủ vấn đề này trong bài "Ảnh hưởng thần học Do Thái - Kitô trong đức tin Hồi Giáo". (Xin đọc "Thực chất đạo Công Giáo và các đạo Chúa", Giao Điểm xuất bản - Xuân 2003, trang 201-232). Ngoài Thiên Chúa ra, Kinh Koran dạy phải tin có các thiên thần và ma quỉ (Satan), tin các sách Mặc Khải của đạo Do Thái và Kitô cùng các vị thiên sứ, tin có ngày tận thế và ngày phán xét cuối cùng, tin mọi kẻ chết đều được sống lại, tin có Thiên đàng, Hỏa ngục, tin mọi việc do Thiên Chúa Allah tiền định nhưng mọi người có ý chí tự do. Tất cả các điều này đã được trình bày đầy đủ qua 32 trang sách dẫn chiếu, vậy tôi xin miễn nhắc lại ở đây.

Khác với Cựu Ước và Tân Ước chỉ đề cập đến vấn đề thiêng liêng hoặc lịch sử, Kinh Koran đồng thời cũng là một bộ luật đầu tiên và cao nhất của Hồi Giáo. Thí dụ:

- Cấm cho vay nặng lãi (Koran 2:275)

- Cấm ăn thịt heo, thịt đã cúng các thần khác, cấm ăn uống máu (tiết canh, huyết) (Koran 5:3).

- Cấm cờ bạc (Koran 5:90)

- Cấm săn bắn trong thời gian hành hương Mecca (Koran 5:93).

- Phải ăn chay trong tháng Ramadan (Koran 2:182).

- Phải rửa chân tay sạch sẽ trước khi cầu nguyện (Koran 5:6).

- Cấm giao hợp với đàn bà có tháng (Koran 2:221).

Trước khi có kinh Koran, phụ nữ Ả Rập giàu có thường lấy nhiều chồng và đa số là những người đàn ông trẻ khỏe. Kinh Koran khẳng định quyền ưu thắng của đàn ông (Koran 4:34) và chính thức bãi bỏ tục đa phu (polyandre).

Bất cứ người đàn bà nào có chồng bị cáo buộc về tội ngoại tình đều bị đem ra cho công chúng ném đá đến chết (Koran 4:15).

Kinh Koran quy định án phạt hết sức nặng nề chống lại bất cứ ai bị kết án: "Chống Thiên Chúa Allah" hoặc "chống Thiên Sứ Muhammad". Người đó sẽ bị đóng đinh vào thập giá hoặc bị chặt hết chân tay (Sura 5).

Tội trộm cắp cũng có thể bị phạt rất nặng. Dù đàn ông hay đàn bà tùy theo nặng nhẹ nếu bị kết án về tội trộm cắp sẽ bị chặt một tay hay hai tay (Koran 5: 3).

3. Những điều nên biết về Hadith, Sunna và Sharia

Vì lý do kinh Koran không phải là sách dễ đọc nên trong các xứ Hồi Giáo, các tín đồ đọc kinh Koran đều cần có người hướng dẫn. Những người hướng dẫn không phải là tu sĩ nhưng là những người học thức chuyên nghiên cứu về kinh Koran. Những bài giảng của họ được gọi là HADITH, có nghĩa là một bài phúc trình (report). Qua nhiều thế kỷ, số bài phúc trình giảng giải về Kinh Koran đạt tới con số rất lớn. Các học sĩ Hồi Giáo chọn lựa các bài hay tập trung lại thành một cuốn sách gọi là SUNNA, có nghĩa là "Tuyển tập các phúc trình" (Collection of Reports). Từ đó, sách SUNNA trở thành một cuốn sách bổ túc cho kinh Koran về mặt tín lý, giáo điều.

Các chính quyền của các nước Hồi Giáo chiếu theo tinh thần và luật pháp nêu trong kinh Koran và sách SUNNA để làm ra bộ luật gọi là SHARIA.

Danh từ này được dịch sang Anh Ngữ là "Islamic Holly Law" có nghĩa là "Thánh Luật Hồi Giáo".

Tất cả các sách Sunna và Sharia đã được hoàn thành vào cuối thế kỷ 9 và đã được viết thành nhiều bản khác nhau tại nhiều nơi khác nhau. Do vậy, các sách này chứa đựng nhiều điều mâu thuẫn, nhất là những giai thoại khác biệt nhau về cuộc đời và lời nói của giáo chủ Muhammad. Đây là một trong những nguyên nhân chính yếu gây ra nạn phân hóa trong đạo Hồi:

Giáo phái Sunni chỉ công nhận những Hadiths (reports) của Bukkhari. Giáo phái Shiite công nhận Hadiths của Kulayni và giáo phái Khariji chỉ công nhận Ibn Habib. Giáo phái này kết án giáo phái kia là xuyên tạc hoặc giả mạo Thánh Kinh Koran và gọi nhau là những kẻ tà đạo (mukhtalaq)! Kết quả là những cuộc thánh chiến đẫm máu giữa các giáo phái này trong nhiều thế kỷ qua.

4. Các bản dịch kinh Koran

Do nhu cầu truyền bá đạo Hồi trong 14 thế kỷ qua, đến nay kinh Koran đã được dịch ra rất nhiều thứ tiếng trên thế giới. Riêng một mình nhà xuất bản Takrike Tarsile Qu'ran, Inc. ở New York đã sưu tập được trên 600 bản dịch khác nhau!

Lịch sử Hồi Giáo ghi nhận bản dịch kinh Koran đầu tiên trên thế giới là bản dịch từ tiếng Ả Rập sang tiếng La Tinh do một người Ý tên là Peter Venerable thực hiện năm 1143. Điều đáng chú ý là bản dịch viết tay của ông hiện vẫn được lưu giữ tại tu viện Kluny (Ý). Đúng 300 năm sau, tức vào năm 1543, bản dịch viết tay duy nhất này được đem in và xuất bản tại Rome.

Nhờ có bản dịch kinh Koran bằng tiếng La Tinh này, Âu Châu mới biết đến cuốn kinh Thánh của đạo Hồi.

- Năm 1616, tại Nuremberg xuất hiện kinh Koran bằng tiếng Hòa Lan dịch từ bản La Tinh.

- Năm 1647, kinh Koran bằng tiếng Pháp được xuất bản tại Paris cũng dịch từ bản La Tinh.

- Năm 1776, tại Petersburg cuốn kinh Koran bằng Nga ngữ được xuất bản, dịch từ tiếng Pháp.

- Đầu thế kỷ 18, một người Anh tên là A.Ross dịch kinh Koran từ tiếng Pháp sang tiếng Anh và xuất bản lần đầu tại Mỹ năm 1737.

Cho tới nay, có nhiều bản dịch khác nhau bằng tiếng Anh. Mặc dầu lối hành văn khác nhau nhưng nội dung vẫn tương tự. Điều đặc biệt là Kinh Koran được xuất bản nhiều triệu cuốn một lúc nên giá bán rất rẻ. Phần lớn các bản kinh Koran được in dưới hình thức sách bỏ túi (pocket books) có giá bán thông thường là 5 Mỹ Kim. Với giá này ai cũng có thể mua về đọc hoặc để tham khảo. Số trang trung bình của sách loại này là 500 trang, chữ in cỡ nhỏ.

5. Nên đọc sách kinh Koran bằng Anh ngữ như thế nào?

Đối với những ai đã từng quen đọc Kinh Thánh Cựu Ước và Tân Ước bằng Anh ngữ thì khi chuyển sang đọc kinh Koran qua bản dịch Anh ngữ sẽ cảm thấy không mấy khó khăn. Tuy nhiên, trong nhiều bản dịch Anh ngữ lại có rất nhiều danh từ chung và danh từ riêng được phiên âm theo tiếng Ả Rập. Nếu không tìm hiểu ý nghĩa của những danh từ này trước khi đọc sách Koran chúng ta sẽ lâm vào tình trạng lúng túng không thể hiểu được nội dung của sách và cũng không biết các nhân vật được nói tới trong Kinh Koran là ai. Lấy một thí dụ điển hình: một nhân vật có tên Ả Rập là ISA được nhắc tới 114 lần trong kinh Koran và nhân vật Myriam được nhắc tới trên 50 lần. Thực ra họ chẳng phải là ai xa lạ: ISA chính là Jesus và Myriam chính là bà Maria, mẹ của ngài.

Để giải quyết khó khăn về các từ ngữ phiên âm theo tiếng Arabic, tôi đề nghị quý vị hãy tìm các bảng GLOSSARY OF ARABIC TERMS thường được in cuối các sách Anh ngữ nói về Hồi Giáo. Quý vị chọn một số từ ngữ quý vị cho là quan trọng để học thuộc lòng trước khi bắt đầu đọc kinh Koran hay các sách viết về Hồi Giáo.

Sau đây là bảng danh sách đối chiếu các tên riêng của Kinh Thánh Cựu Ước và Tân Ước được nhắc lại trong kinh Koran theo phiên âm Arabic. Các tên riêng này được xếp theo nhóm gia đình (chứ không theo thứ tự Alphabet)

NHÓM

Phiên âm ARABIC

Phiên âm ANH NGỮ

Phiên âm VIỆT NGỮ

Thiên Chúa

Allah

Jehovah Elohim/ God

Thiên Chúa

Tổ tông loài

người

Adam

Adam

Ông Adong

Hawaa

Eve

Bà Evà

Gia đình Abraham

Azar

Terah

Cha của Abraham

Ibrahim

Abraham

Ông Abraham

Sara

Sarah

Vợ của Abraham

Ishaaq

Isaac

Con trai của Abraham và bà Sarah, tổ tiên Do Thái

Agar

Hajar

Vợ bé, đầy tớ của Abraham

Ismahil

Ismael

Con của Abraham và Agar, tổ tiên các giống dân Ả Rập (Ismael là vai anh của Isaac)

Gia đình Chúa Jesus

Isa

Jesus

Chúa Giêsu

Myriam

Mary

Đức Bà Maria

Yusuf

Joseph

Thánh Giuse, cha nuôi của Chúa Giêsu

Zakariya

Zakariah

Thánh Giacaria, cha của Gioan Baotixita

Yahya

John Baptist

Thánh Gioan Baotixita (anh họ của Chúa Giêsu)

Các tiên tri Do Thái cũng là các thiên sứ trong đạo Hồi

Al-Yasa

Elisha

Tiên tri Êlisa

Dawood

David

Vua Thánh Đavít

Dhulkiit

Ezekiel

Tiên tri Êdêkien

Haroon

Aaron

Anh của Môsê

Musa

Moses

Thánh Môsê

Idriis

Enoch

Thánh Ênoc

Luut

Lot

Ông Lot (cháu gọi Abraham bằng bác ruột)

Nuh

Noah

Ông Noe

Sulayman

Solomon

Vua Salomon (con David)

Yaquub

Jacob

Cha của 12 con trai, tổ tiên 12 bộ lạc Do Thái

Yunus

Jonah

Tiên tri Giona

Ayyoub

Job

Thánh Gióp

Thánh Kinh

Tawrah

Torah/Old

Kinh Thánh của đạo Do Thái (sách Luật)

Taurat

Old Testament

Cựu Ước của đạo Kitô

Injil

Gospel

Phúc âm

Al-injil

New Testament

Thánh Kinh Tân Ước

Qur'an

Koran

Thánh Kinh Hồi Giáo

Thiên thần, ma quỉ Jibril

Jibreel

Gabriel

Sứ thần truyền tin Gabriel

Meekaeel

Micheal

Tổng lãnh thiên thần Micael

Buraq

Buraq

Con ngựa đầu người có cánh đưa Mohammad về trời tại Jerusalem

Shaitan / Iblis

Satan

Quỉ Sa tăng

Ngoài ra, xin chú ý đến một số chi tiết sau đây:

1. Một số đại danh từ trong các sách Thánh Kinh thường được viết theo cổ ngữ của tiếng Anh. Thí dụ: You được viết thành Thou; Your được viết thành Thy...

2. Các quá khứ phân từ, thay vì viết là ED lại được viết thành TH. Thí dụ:

- He opened - He openeth

- He called - He calleth

- You will - Thou shalt

- You have - Thou hast

3. Các kinh Koran Anh ngữ thường đánh số các chương (sura/chapter) bằng số La Mã ở góc trái trên đầu trang sách. Thí dụ: Sura XXXVII: chương 37, Sura CVIII chương 108, LXXIX: chương 79...

Khi tra cứu một câu trong kinh Koran, thí dụ: "Muhammad is not the father of any of your men but he is the Apostle of Allah and the last of the prophets. Koran 33:40". Xin nhớ số ghi trước là số chương (sura/chapter) số ghi sau là câu thơ (verse). Vậy trước hết xin hãy tìm chương 33 sau đó tìm câu thơ số 40 trong chương này, quý vị sẽ gặp đúng câu thơ được trích dẫn.

Khi đọc các sách về đạo Hồi, chúng ta thường gặp những câu trích dẫn từ kinh Koran, nếu có sẵn một cuốn Koran trong tay để kiểm chứng tính chính xác của sự trích dẫn và sự trung thực của người dịch, thiết tưởng cũng là một điều thích thú.

Để kết thúc bài viết này, tôi xin mượn lời giới thiệu của nhà xuất bản Tahrike Tarsile Qu'ran. Inc. New York nói về kinh Koran: "Kinh Koran có khả năng đem lại cho những người ngoại giáo những điều bổ ích và mang lại tất cả mọi thứ cho các tín đồ Hồi Giáo" – (The Qur'an offers at least something to non-believers and everything to believers).

(Charlie Nguyễn, tài liệu lấy từ Internet …)

***

Đối với những bộ sách vĩ đại trên, người viết tài hèn trí mọn chỉ biết "kính nhi viễn chi" và cũng chỉ biết mượn ngòi bút của những nhà thông thái để ghi lại (có ghi rõ các tác giả và tài liệu trích dẫn), với mục đích là để các độc giả có một cái nhìn bao quát, đồng thời có thể phần nào giúp độc giả hiểu thêm về những điều cơ bản của các tôn giáo lớn, nhờ đó mà hy vọng bớt đi được những kỳ thị, hiểu lầm không đáng có và biết sống chan hòa trong sự kính trọng lẫn nhau.

Riêng với bộ sách Thánh Kinh, dù sao đi nữa người viết cũng là kẻ "có đạo", tuy không phải là nhà chuyên môn nghiên cứu Kinh Thánh, nhưng cũng được học hỏi đôi điều qua sách vở và các nhà chuyên môn, nhất là qua việc đọc, suy niệm, nghiền ngẫm Thánh Kinh mỗi ngày, nên cũng mạo muội trình bày đôi điều hoàn toàn không có tính giáo khoa, mà chỉ là ghi nhận Thánh Kinh như một hiện tượng văn học và xã hội với những bằng chứng mang tính khách quan để rộng đường suy luận. Việc tiếp nhận như thế nào thì hoàn toàn tùy thuộc ý chí và tự do của độc giả. Có thể ban đầu quý vị bị "sốc", nhưng rồi một lúc nào đó lại ngộ ra và dễ dàng đón nhận như trường hợp tiến sĩ Nguyễn Như Ngọc, nguyên giáo sư triết học duy vật, thành viên Viện Khoa học Vật lý, Viện Khoa học Nguyên tử Việt Nam:

“Tôi sinh ra và lớn lên trong lòng miền Bắc nước Việt Nam XHCN. Suốt 10 năm trung học phổ thông tôi luôn luôn được dạy rằng vũ trụ này tự nhiên mà có, không có ông Trời nào hết. Rồi tôi vào học ngành Vật lý của trường Đại học Tổng hợp Hà Nội. Tôi phải học Triết học Duy vật một cách có hệ thống, trong đó sợi chỉ đỏ xuyên suốt là quan điểm vật chất có trước, vật chất quyết định ý thức. Chỉ những gì con người cảm nhận được trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua các giác quan mới tồn tại (hay hiện hữu).

Như thế hệ thống triết học này đương nhiên chối bỏ sự hiện diện của Thiên Chúa, vì không ai có thể sờ đụng được hoặc cảm nhận được Ngài nhờ giác quan của mình. Lúc bấy giờ tôi cảm thấy điều này là đúng. Ai tin có Thiên Chúa, tôi đều coi là duy tâm, là mê tín dị đoan cả.

Sau khi tốt nghiệp, tôi làm nghề dạy học. Tôi vừa phải dạy vật lý vừa thông qua môn học này để giáo dục tư tưởng triết học này cho sinh viên. Vì thực tâm tin ở sự đúng đắn của hệ thống triết học này, nên tôi giảng dạy rất say sưa, không thấy gò bó gì cả. Mười ba năm dạy học là mười ba năm tôi bước đi trên con đường xa cách Thiên Chúa và chống lại đường lối của Ngài.

Năm 1976, tôi trở thành nghiên cứu sinh ở Hungary. Có chút bằng cấp nước ngoài rồi, tôi không dạy học nữa mà xin về làm ở Viện Vật lý thuộc Viện Khoa học Việt Nam. Về sau, tôi được cử làm trưởng phòng của Phòng Nghiên cứu Vật lý Hạt nhân, trong đó có sáu phó Tiến sĩ cùng làm việc.

Chúng tôi đã từng ký kết và thực hiện hợp đồng với Cơ quan Nguyên tử Quốc tế (International Atomic Energy Agency) cộng tác nghiên cứu các phản ứng tổng hợp hạt nhân vào mục đích hòa bình. Tôi đã đi dự một số hội nghị khoa học quốc tế để báo cáo về các công trình nghiên cứu này.

Bước đường sự nghiệp của tôi, tuy chưa bằng ai, nhưng đối với tôi, có thể là toại nguyện. Chỗ làm việc của tôi thật lý tưởng.

Vì nhiều lý do, năm 1989, nhân một chuyến đi công tác nước ngoài, tôi đã xin ở lại Đức. Một hôm tôi đã gặp một nhà truyền đạo Hà Lan tên là Henk Wolthaus . Ông đến phát sách Kinh Thánh cho mọi người. Sau khi nói chuyện với ông một lát, tôi xin ông một quyển Kinh Thánh bằng tiếng Anh (vì không có Kinh Thánh bằng tiếng Việt) và một vài cuốn sách nhỏ khác. Tối hôm đó, tôi bắt đầu đọc thử các sách mới xin để xem sao.

Ngay từ dòng đầu Kinh Thánh tôi đã thấy vô lý . "Ban đầu Đức Chúa Trời đã dựng nên trời đất" (St 1,1). Lương tri tôi bật lò xo. Đó là phản ứng tự nhiên của một người đã sống gần 50 năm trong định kiến không tôn giáo. Nhưng rồi tôi nhớ lại, chính nhà bác học Newton cũng cho rằng sở dĩ các thiên thể chuyển động nhịp nhàng được là nhờ "cái hích đầu tiên của Thiên Chúa" mà ngày trước tôi đã từng phân tích cho sinh viên đây là quan điểm hoàn toàn sai lầm. Tự nhiên tôi nghĩ rằng Newton, người phát minh ra định luật hấp dẫn vũ trụ được coi là phát minh vĩ đại nhất của lịch sử văn minh nhân loại lại có thể kém như thế ư? Và tôi tự trả lời: "Không thể được, chắc là vì mình dốt, không hiểu được ông ta. Có lẽ Đức Chúa Trời có thật". Rồi tôi đọc tiếp câu chuyện Chúa sáng tạo vũ trụ trong vòng sáu ngày. Tất cả như một câu chuyện thần thoại dành cho trẻ con. Khi đọc tới Tân Ước, tôi cảm thấy có nhiều điều không thể chấp nhận được. Có thể tin chăng một người mù được sáng mắt, người cùi được sạch, người què được lành, người chết đã có mùi sống lại chỉ nhờ những lời phán? Ai có thể đi bộ trên mặt nước, ra lệnh bắt bão tố vô tri phải dừng?

Những phép lạ đầy dẫy trong Kinh Thánh làm cho cái đầu quen suy nghĩ theo kiểu vô tôn giáo của tôi không sao hiểu nổi. Đúng lúc ấy trong đầu tôi nảy ra một câu hỏi, mà bây giờ tôi biết chính Chúa đã đến gỡ rối cho tôi.

Câu hỏi đó là: "Sức mạnh nào khiến cho hàng tỷ người trên thế giới, trong đó có hầu hết các nhà khoa học vĩ đại, mà tôi ngưỡng mộ, tin Kinh Thánh? Họ cuồng tín hay chính mình ngu dốt?".

Từ những cuốn sách mỏng xin của người truyền đạo Hà Lan, tôi đã đọc được những câu bất hủ sau:

· Charles Dickens (Anh, 1812-1879) viết: "Kinh Thánh Tân Ước chính là cuốn sách tốt nhất đã từng hoặc sẽ được biết đến trên thế giới";

· Ngài Isaac Newton (Anh, 1642-1727), nhà khoa học mà tôi đầy lòng khâm phục, đã kết luận: "Trong Kinh Thánh có nhiều biểu hiện chắc chắn về tính có thực hơn trong bất cứ một câu truyện nào chống lại sách đó";

· Victor Hugo (Pháp, 1802-1885) viết: "Nước Anh có 2 cuốn sách: Kinh Thánh và Shakespeare. Nước Anh sinh ra Shakespeare, còn Kinh Thánh làm nên nước Anh";

· Albert Einstein (Đức, 1879-1955), nhà vật lý được coi là vĩ đại nhất của thế kỷ 20, đã phát biểu: "Khoa học không có tôn giáo là mù lòa. Tôn giáo mà thiếu khoa học là què quặt".

Lúc bấy giờ tôi chưa hiểu được nhiều; nhưng Chúa biết tôi là người từng được học và làm khoa học, nên đã dùng tiếng nói của chính các nhà khoa học thật lớn để mở mắt cho tôi.

Tôi nhớ đến một câu nói của Newton: Sau khi ông đã phát minh ra "Định luật hấp dẫn vũ trụ" kỳ diệu, nhiều người đã hỏi ông làm cách nào mà ông đã có thể phát minh ra định luật vĩ đại như vậy, Newton vừa cười vừa trả lời: " Đó là nhờ tôi đã đứng trên vai những người khổng lồ ".

Chúa như đang nhắc nhở tôi "Hãy đứng lên vai những người khổng lồ này thì con sẽ nhận ra chân lý của Ta". Quả nhiên tôi đã bị Ngài chinh phục dễ dàng. Cái tư tưởng không tôn giáo được tích lũy công phu và sử dụng bao nhiêu năm nay, bị đánh bật khỏi đầu óc tôi. Xưa nay tôi vẫn nghĩ đơn giản: "Không có Đức Chúa Trời, vì không ai chứng minh được sự hiện diện của Ngài". Nhưng bây giờ tôi lại biết đặt câu hỏi mới: "Ai đã chứng minh được Đức Chúa Trời không hiện hữu?". Tất cả chỉ dựa vào cảm giác của con người; mà cảm giác thì không phải là một chứng minh khoa học.

Người đang đứng ở trái đất thì nói rằng mặt trăng xoay quanh trái đất; nhưng quan sát viên đứng ở mặt trăng sẽ bảo trái đất quay quanh mặt trăng.

Ai đúng? Hơn nữa, có nhiều cái hiện hữu mà ta không thể nhận biết bằng cảm giác, chẳng hạn như trí khôn con người. Không có và không thể có một máy móc nào đo được trí khôn. Vì vậy quan niệm "có Chúa hay không có Chúa" là vấn đề Đức tin , nằm ngoài phạm vi của khoa học, của cảm giác.

Nói theo ngôn ngữ khoa học, đây là những "tiền đề" (Axioms).

Thật ra, tiền đề "có Chúa" dễ tin hơn tiền đề "không có Chúa" nhiều.

Nhà bác học Newton đã làm một mô hình hệ thống mặt trời rất đẹp để ngay trên bàn làm việc. Một hôm, có một người bạn không tôn giáo đến thăm. Ông bạn khen mô hình đẹp quá và hỏi: "Ai đã làm nên vậy?". Newton cười hóm hỉnh trả lời: "Tự nhiên mà có đấy thôi!". Ông bạn không tin. Newton trả lời: " Thế tại sao cậu lại tin cả vũ trụ vĩ đại chuyển động nhịp nhàng này tự nhiên mà có không cần Đấng Sáng Tạo?".

Tương tự, nếu đi làm về mà thấy có cơm dẻo canh ngọt trên bàn thì nhất định chúng ta phải tin rằng có bàn tay một người nào đó đã dọn sẵn. Chân lý đó thật quá đơn giản, vậy mà tại sao nhiều người (kể cả tôi trước đây) lại theo tiền đề "không có Chúa". Kinh Thánh có câu trả lời "vì tên ác thần của đời này (ma quỷ) đã làm cho tâm trí họ ra mù quáng" (2Cr 4,4).

Tính muôn màu muôn vẻ của thiên nhiên, tính di truyền kỳ diệu: Hạt giống nào sinh cây trái đó; vẻ đẹp tuyệt vời của những nàng hoa; sự hài hòa và hoàn thiện của cơ thể con người; sự hùng vĩ của bầu trời đầy sao. Tất cả những sự mầu nhiệm đó cộng với những ý kiến của các vĩ nhân mà tôi hằng kính phục đã cho tôi nhận ra một Đức Chúa Trời toàn năng, toàn trí và toàn tài. Dần dà tôi cũng tin Kinh Thánh là Lời Hằng Sống của Đức Chúa Trời, vì dù đã được viết bởi hơn bốn mươi tác giả, ở những địa điểm khác nhau, trải qua khoảng thời gian 1500 năm, nhưng Kinh Thánh là một thể thống nhất. Từ đầu chí cuối Kinh Thánh nói về một chủ đề duy nhất, đó là kế hoạch cứu rỗi của Đức Chúa Trời dành cho nhân loại. Thực ra đây cũng là vấn đề của đức tin, là tiền đề thứ hai cho mọi người theo Chúa.

Một trong những khái niệm khó giải nhất là khái niệm Đức Chúa Trời có Ba Ngôi một thể (Tam vị nhất thể).

Cảm tạ Chúa đã tạo tôi thành một người nghiên cứu vật lý, nên điều này đối với tôi lại rất dễ chấp nhận khi so sánh với nước. Nước cũng có ba trạng thái là rắn, lỏng và hơi. Ba trạng thái vật chất ấy đều có cùng bản chất là H2O, có thể nói 3 là 1, 1 nhưng là 3. Ở đâu có 1 là có cả 3 trạng thái. Điều thật khó hiểu lại trở thành dễ hiểu, quá rõ ràng, mặc dù đây chỉ là một sự so sánh khập khiễng, một sự minh họa rất đại khái mà thôi.

Khi đã có những niềm tin cơ bản ấy (thừa nhận cả 2 tiền đề) thì mọi thắc mắc về các phép lạ đều được giải đáp dễ dàng. Đức Chúa Giêsu chính là Đức Chúa Trời hiện thân làm người như chúng ta. Như vậy, Người là Đấng Sáng Tạo. Chính Ngài đã tạo nên vũ trụ này, vốn là một phép lạ vĩ đại nhất, thì những phép lạ khác trong Tân Ước, như đi trên mặt nước, gọi người chết sống lại… đối với Ngài không có gì là khó thực hiện”.

(Bài của tiến sĩ Phan Như Ngọc, pnngoc@gmx.net; www.hoptinhhoply.org)


Nếu quý độc giả thấy tập này có một chút gì tốt đẹp, hữu ích thì xin tiếp tay phổ biến cho bạn bè, con cháu, người thân quen bằng cách photo ra ít bản tặng họ, hay ít là chuyền tay tập này cho một người khác. Người viết hết lòng cám ơn.


_______________________________________

Tân Bình, ngày 20 tháng 04 năm 2012
© Tác giả giữ bản quyền.
. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả từ Tân Sa Châu SàiGòn ngày 13.06.2012.
. Xin vui lòng ghi rõ nguồn Newvietart.com khi trích đăng lại.