- VỊNH HẠ LONG - RẠNG DANH DÒNG GIỐNG TIÊN RỒNG

VỊNH HẠ LONG 86 NĂM TRƯỚC

Nằm trong tỉnh Quảng Ninh. Đây là vùng đất có nhiều thắng cảnh, nhiều di tích lịch sử - văn hóa nổi tiếng như vịnh Hạ Long, núi Bài Thơ, chùa Long Tiên, núi Yên Tử, đền Cửa Ông, bãi biển Trà Cổ…Trong suốt thời trung đại, Tồ tiên ta đã có nhiều bài thơ đề vịnh miền thắng địa này. Bước sang thế kỷ 20, nhiều tác giả như Nhàn Vân Đình, Trần Trọng Kim, Vân Đài…đã có nhiều bài viết thể loại Du ký ghi chép qua các chuyến du lịch Quảng Ninh – Hạ Long, phác họa được nhiều cảnh quan và thực trạng đời sống kinh tế - xã hội một thời.
Với ý nghĩa là vùng đất biên viễn Hải Đông có lịch sử lâu đời nhưng lại mới được khai mở, phát triển, hiện đại hóa từ đầu thế kỷ nên xứ Quảng Ninh đã sớm thu hút, hấp dẫn du khách.

1- Trần Trọng Kim với bài “Sự du lịch đất Hải Ninh”
(Đây là bài diễn thuyết ở Hội Khai trí Hà Nội vào ngày 29-4-1923) Là một trong những phác thảo du ký sớm nhất kiểu này. tác giả đã khảo sát khá chi tiết tình hình đời sống xã hội ở vùng đất đang bước đầu được công nghiệp hóa – đặc biệt nhấn mạnh vẻ sinh động và hiện đại của thị tứ Hòn Gai: “Hòn Gai là đất tư của công ty lấy Than. Trước đây là đất bỏ hoang mà bây giờ thành ra một nơi rất phồn thịnh, phố xá cũng nhiều, người làm ăn, phu phen đi lại thật là đông. Xe lửa chờ than chạy đi chạy lại cả ngày đêm, ở dưới bến thì tàu các nước đến lấy than, tàu nước Anh, nước Mỹ, nước Nhật ngày nào cũng có vài ba chiếc chực sẵn ở đấy”(trang 383). Đọc lại mấy dòng mô tả quang cảnh nơi phố than cách nay gần một thế kỷ mà thấy gần gũi như buổi bây giờ.
Đoạn tiếp theo Trần Trọng Kim mô tả miền đất tận cùng biên giới theo cách gọi đương thời: “Mông Cái là tỉnh lị tỉnh Hải Ninh, có dinh quan Sứ, quan Đạo, cũng như các tỉnh mạn ngược. Có chợ, có phố, tất cả nhà Khách và nhà ta tính cả lại cũng được độ 60. 70 nóc gì đấy…”(tr. 385). Ngoài việc ghi chép lại nhiều hủ tục lạc hậu như tệ mua bán vợ, tục cúng bái, tác giả còn nêu rõ lối sống và sự giao dịch của cư dân miền biên giới, từ đó nhấn mạnh cả những hạn chế trong cách thức sản xuất và cạnh tranh kinh tế của người mình: “Về đường công nghệ thì cả tỉnh Hải Ninh chỉ có nghề làm bát ở Mông Cái là thịnh nhất. Nhưng đấy là của Khách (người Hoa) chứ ta không có phần gì. ..Tôi xem nước nào cũng lo làm những đồ cần dùng cho người trong nước để giữ lấy mối lợi, không cho người ta tranh chiếm mất. Mà nước mình từ xưa đến nay cứ nghiễm nhiên đem tiền đi mua của người mà dùng, mà không biết nóng ruột….Chứ người mình không làm được cái gì ra trò cả. Có làm thì xấu xí mà bán lại đắt, thì còn cạnh tranh với người ta sao được…Ta phải lưu tâm về cái vấn đề ấy mà tìm cách làm ăn thế nào, chứ cứ chịu ép một bề mãi, thì không biết đời nào cho khá được (tr. 391-392). Quả là “Biết rồi, khổ lắm…”. Đọc lời người xưa mà chúng ta tưởng như câu chuyện của người trong cuộc hôm nay! Biết bao giờ, bao giờ…cho đến tháng mười…

2 -“Quảng Yên du ký” của Nhàn Vân Đình
(Bài này đăng trong Nam phong, số 168, tháng 1-1932) Trong bài này thì cách diễn tả có phần dung dị hơn, gần với cuộc du ngoạn núi sông, thăm thú cảnh vật đất trời nhiều hơn. Tác giả tả lại sống động chuyến đi bằng đường thủy:
“Quá nửa ngày tới tỉnh Quảng Yên, không kịp vào phố ngắm qua con đường thẳng dẫn vào tỉnh, cây cối um tùm, cành cao bóng mát, lảng vảng một vài viên lính cảnh sát đứng sẵn hỏi giấy tờ tùy thân và khám xét những khách lên xuống một cách nghiêm nhặt cẩn thận.
Từ đây trở đi, tầu chen núi, núi chen bể, bể khoe bể sâu, bể có núi thêm tình, dẫu không Tiên mà vẫn nổi danh, không Long mà vẫn linh dị, bậc nhân giả, bậc trí giả vui sướng biết bao.
Buổi chiều 5 giờ 30 tới Hòn Gai, trời sụp tối, gió cuốn mạnh, đèn điện đã giật, còi mỏ đã rúc, lẽ ra trăng mồng 6 lên cao, ngặt vì tiết đại tuyết tới nơi, thường lệ bao giờ cũng u ám ảm đạm, vì vậy tờ mờ không tỏ. Những bọn phu than hết giờ ra về, kinh pha Thổ, đường trong lẫn đường ngoài, cười nói hát xướng, cợt nhợt bằng phỉ” (tr.85)
Khi đi qua Hòn Gai, Cẩm Phả min. (mine, mỏ), Cẩm Phả bo (port, cảng), Mông Dương… Nhàn Vân Đình đều có làm mấy bài thơ đề vịnh phong cảnh. Khi đứng bên đền Cửa Ông, tác giả quan sát và ghi lại hình ảnh công cuộc hiện đại hóa: “Thẳng Đền trông ra có một con đường đá xây quai bờ bể, dài chừng nửa cây số, từ mặt đường tới mặt nước cao chừng 9, 10 thước đứng thẳng như bức thành dựng. Làm như vậy để tầu lớn áp mạn cho tiện, trực tiếp ngay với mặt đường, không phải màn cầu và phà. Mé đường lại có chiếc phà sắt rất cao, đặt máy xe điện ở trên, khi nào có tầu ăn than, tới nơi hòm than tháo ngay mảnh sắt sau ra, dần dần rót thẳng xuống” (tr.88).
Tiếp đó, tác giả tả lại con đường từ đền Cửa Ông tới mỏ Mông Dương với những ấn tượng khá hãi hùng, khơi gợi sự tò mò mạo hiểm:
“Bóng thỏ thay đêm” Tiếng gà đổi sáng, trông vào đồng hồ kim chỉ giờ sắp báo 7 giờ ngày 9 tháng Chạp năm 1929, kẻ thân nhân đãi cơm nước xong, cùng nhau mượn đường sang chơi Mông Dương…Hai con đường bộ đã nói ở trên, ta đều quan sát tới cả, vì kẻ hướng dẫn cho ta, đường sá không quen, gặp đâu đi đấy. Lúc mới theo mấy chú tiều phu xông đột, đi tắt vào con đường rừng, bảo con đường này tuy khó đi thật, song so với con đường đá, chóng hơn gần 6 cây số. Càng đi càng hiểm trở, thấy hiểm trở cũng ngại lòng, kẻ thân nhân nghe ra gót đã chồn, sắc đã mệt, tự ta xem ra cái lá gan mạo hiểm cũng thấy núng. Thôi thì đành bỏ đường tắt mà đi đường cái, bỏ đường ám muội mà noi theo con đường chính đại quang minh” (tr.89).
Qua đoạn dẫn trên, chúng ta có thể thấy rõ tác giả thiên du ký đang tường thuật, kể lại chuyến du ngoạn với tất cả những điều tai nghe mắt thấy, những trải nghiệm và cảm xúc riêng tư qua từng thời khắc, từng chặng đường cụ thể. Đặt trong bối cảnh những thập niên đầu thế kỷ XX, công cuộc khai thác thuộc địa của người Pháp đã tạo nên một nhịp sống mới. làm thay đổi cảnh quan thiên nhiên vốn bao đời tĩnh lặng. Chính nhờ thế mà những trang du ký về miền đất Hòn Gai – Cẩm Phả - Móng Cái thấp thoáng không khí công nghiệp hóa. In đậm những suy tư trăn trở của tác giả về sự đan xen, cạnh tranh Tây – Tầu hỗn tạp.

3- “Hành trình chơi núi An Tử” của Nguyễn Thế Hữu
(Bài này đăng trong Nam phong, số 105, tháng 5-1926, tr. 325-334 và số 106, tháng 6-1926, tr. 443-445) Cùng với việc mô tả cuộc du ngoạn qua các chùa Lân Giải, Hoa Yên, Vân Tiêu, Bảo Sát, Một Mái, Thiền Định, Cầm Thực, Tháp Mẫu…, tác giả phác họa khung cảnh chùa Đồng trên đỉnh non cao, giữa bốn bề mây gió.
Đồng thời với việc tả quang cảnh rừng núi, khe suối, dốc đá, tượng thờ, câu đối, chuyện ăn măng nướng và mua gừng gió, tác giả thốt lên bàng hoàng: “Ơ hay, lúc nãy trèo lên còn trông thấy nóc chùa, bây giờ trông trở xuống thì một trời một mình ta, mù tịt chẳng nhận được lối đi, rồi nghe rào rào như gió cuốn mây chạy, ngẩng trông lên ngọn cây thấy lá im phăng phắc, sau tôi nhận ra mới biết là mình đứng trên mây, đương mưa ở dưới lưng chừng núi”. Hoặc có khi thanh thản đi tìm loài trúc hoa: “…Tôi vào rừng trúc hoa để kiếm mấy cây gậy…chỉ riêng một khu này có trúc hoa mà thôi, còn trúc xanh có kể hàng rừng…Tôi hỏi ra mới biết cái nào tía mới là trúc hoa, cái nào trắng ấy là trúc xanh, ăn cũng được nhưng mà đắng….”

4- “Bốn năm trên đảo Các Bà” của nữ sĩ Vân Đài
(Tạp chí Tri Tân số 149, tháng 7-1944) Mở đầu du ký là lời kể của nữ sĩ về chuyến ra đảo: “Năm 1935, lần đầu tiên ra Các Bà. Hôm ấy vào một sáng hè, vòm trời xanh đậm màu lơ và khí trời bắt đầu oi ả. Một ngọn gió đưa từ xa lại, chiếc buồm treo trên cột thuyền thong thả quay ngang…Chậm chậm tiến lên, thuyền dần dần xa bến. Gió bể gieo vào thuyền một thứ không khí khác thường, nhưng rất trong sạch… Cửa bể con con của Các Bà bệ vệ như một chiếc ngai vàng, mở rộng hai tay để che chở những con thuyền phiêu bạt. Bao bọc chung quanh những giải núi xanh, Các Bà đã lọt vào giữa lòng khu đất ấy. Tất cả trông như một cái vòng tròn. Trước vòng tròn mở ra một cửa đón thuyền ra vào, trông thật là một nơi rất an ổn cho những thuyền bè trong những ngày sóng gió”…
Tiếp đó nữ sĩ kể lại lời truyện về lai lịch tên hòn đảo: “Tiện đây tôi xin nói qua về cái tên Các Bà, mà nhiều người vẫn gọi lầm là Cát Bà như người ta gọi Cát Hải vậy. Các Bà xưa kia vẫn có một tên mà người Khách gọi là Appovan và người Nam gọi là Các Bà, do lấy tên một ngôi mộ của hai nữ thần không tên, chết ở đâu, trôi về và hiển linh tại đấy. Ngôi mộ ấy gọi là ngôi mộ của Các Bà, người ta lập miếu thờ và người ta muốn biểu dương cái uy linh cùa các bà, nên lấy tên Các Bà đặt tên cho hòn đảo”…(Nhưng ngày nay, người ta vẫn gọi là Cát Bà, có lẽ vì đảo có Cát nhiều! Trước đây thuộc tỉnh Quảng Yên và khu Hòn Gai, đến năm 1956 mới tách về Hải Phòng)…)

Với bốn năm sống trên đảo, nữ sĩ Vân Đài đã có cái nhìn khái quát, toàn cảnh về vẻ đẹp thần tiên và hùng vĩ của Vịnh Hạ Long: “Xưa nay người Nam ta đi xem phong cảnh vịnh Hạ Long đã nhiều, nhưng thật ra, biết cảnh vịnh Hạ Long rất ít. Hạ Long không phải chỉ có cái hang Đầu Gỗ, hang Surprise và vài ba hang khác…Kỳ quan của tạo hóa ở đất nước này, cho ta thấy từ Các Bà về Hòn Gai – hơn hai mươi cây số tất cả - một cảnh Thiên thai nơi hạ giới. Những non nước u tịch, những sơn thủy hùng vĩ, những cảnh đẹp mờ ảo nhưng cao siêu. Bao nhiêu cái đẹp hoàn toàn chọn lọc chỉ riêng nơi đây mới có thể cho ta vừa ý được. Trùng điệp những ngọn núi xanh, không cao lắm, chằng chịt những cây cối cằn cỗi với thời gian, nhưng vẫn giữ một màu tươi mới mẻ. Các dãy núi chia nhau, chắn lấy một góc bể, làm một thế giới của mình, một thế giới vô cùng kỳ tú. Những buổi trời sóng lặng Các Bà lúc nào cũng êm đềm, nhưng không ủ dột. Mặt bể phẳng lặng và xanh, xa trông như một tấm thảm”…
Lấy Hạ Long – Hòn Gai làm điểm giữa, cảnh đẹp xứ Quảng Ninh kéo dài một phía về Cẩm Phả - Trà Cổ - Móng Cái và một phía đưa về mạn Yên Tử - Đông Triều. Người xưa nói: “Bậc đức nhân tìm về với núi, kẻ trí giả tìm về với biển”, cả hai kiểu tâm tính ấy đều được thỏa mãn khi chúng ta tìm về xứ Quảng Ninh – Hạ Long.

VỊNH HẠ LONG NGÀY NAY: DI SẢN THẾ GIỚI 2 LẦN

Thành phố Hạ Long, với tên cũ là Hòn Gai, thuộc tỉnh Quảng Ninh, được thành lập vào năm1993, đến năm 2003 trờ thành đô thị loại 2 (Hiện nay Quy chế, VN có - 2 Đô thị đặc biệt là Hà Nội và TpHCM – Đô thị loại 1 gồm 3 Tp trực thuộc Tr.Ương là Hải Phòng, Đà Nẵng, Cần Thơ và 4 loại Đô thị khác).
Nằm ở vùng đông bắc Việt Nam, vịnh Hạ Long là một phần vịnh Bắc Bộ, bao gồm vùng biển của thành phố Hạ Long, thị xã Cẩm Phả và một phần của huyện đảo Vân Đồn. Phía tây nam vịnh giáp đảo Cát Bà, phía đông là biển, phần còn lại giáp đất liền với đường bờ biển dài 120km, được giới hạn từ 106o58’ – 107o22’ kinh độ Đông và 20o45’ – 20o50’ vĩ độ Bắc, với tổng diện tích 1553km2 gồm 1969 hòn đảo lớn nhỏ, trong đó 989 đảo có tên và 980 đảo chưa có tên. Đảo của vịnh Hạ Long có hai dạng: đảo đá vôi và đào phiến thạch, tập trung ở 2 vùng chính là vùng phía đông nam (thuộc vịnh Bái Tử Long) và vùng phía tây nam (thuộc vịnh Hạ Long).

Vùng tập trung dày đặc các đảo đá có phong cảnh ngoạn mục và nhiều hang động đẹp nổi tiếng là vùng trung tâm Di sản thiên nhiên vịnh Hạ Long và một phần vịnh Bái Tử Long. Vùng Di sản Thế giới được tổ chức UNESCO công nhận có diện tích 434km2 bao gồm 775 đảo, như một hình tam giác với 3 đỉnh là đảo Đầu Gỗ (phía tây), hồ Ba Hầm (phía nam), đảo Cống Tây (phía đông), vùng kế bên là khu vực đệm và Di tích danh thắng Quốc gia được bộ Văn Hóa xếp hạng năm 1962.
Từ cao nhìn xuống, vịnh Hạ Long như một bức tranh khổng lồ vô cùng sinh động. Đi giữa Hạ Long, ta ngỡ như lạc vào một thế giới cổ tích bị hóa đá, đảo thì giống hình một người đang đứng hướng về đất liền (hòn Đầu Người), đảo thì giống như một con rồng đang bay lượn trên mặt nước (hòn Rồng), đảo thì lại giống như một ông lão đang ngồi câu cá (hòn Ông Lã Vọng), hòn Cánh Buồm, hòn Trống Mái, hòn Lư Hương…Tất cả trông rất thực, thực đến kinh ngạc. Hình dáng những đảo đá diệu kỳ ấy biến hóa khôn lường theo góc độ ánh sáng trong ngày và theo góc nhìn. Tiềm ẩn trong lòng các đảo ấy là những hang động tuyệt đẹp, như: động Thiên Cung, hang Đầu Gỗ, hang Sửng Sốt, động Tam Cung…Đó thực sự là những lâu đài của Tạo hóa giữa chốn Trần gian.
Từ xưa, Hạ Long đã được đại thi hào Nguyễn Trãi mệnh danh là “Kỳ quan đất dựng giữa trời cao”. Vịnh Hạ Long cũng là nơi gắn liền với sự phát triển của lịch sử dân tộc với những địa danh nổi tiếng như Vân Đồn – nơi có thương cảng cổ nổi tiếng một thời (1149), có núi Bài Thơ lưu bút tích nhiều bậc vua chúa, danh nhân, xa hơn chút nữa là dòng sông Bạch Đằng – nơi đã từng chứng kiến các trận thủy chiến lẫy lừng của cha ông ta chống giặc ngoại xâm: Ngô Quyền, Lê Hoàn và Trần Hưng Đạo…
Không chỉ có vậy, Hạ Long ngày nay được các nhà khoa học chứng minh là một trong những cái nôi của con người có nền văn hóa Hạ Long từ Hậu kỳ đồ đá mới, với những địa danh khảo cổ học nổi tiếng như Đồng Mang, Xích Thổ, Soi Nhụ, Thoi Giếng…Hạ Long cũng là nơi tập trung đa dạng sinh học cao với những hệ sinh thái tùng áng, hệ sinh thái rừng cây nhiệt đới…Với hàng ngàn loài động, thực vật vô cùng phong phú trên rừng dưới biển, cá, mực…Có những loài quý hiếm chỉ có ở nơi đây.
Với những giá trị đặc biệt như vậy, vịnh Hạ Long đã được tổ chức UNESCO công nhận 2 lần:
. Lần 1 là Di sản Thiên nhiên Thế giới vào tháng 12-1994
. Lần 2 là Di sản Thế giới bởi Giá trị Địa chất, Địa mạo của vịnh Hạ Long

VỊNH HẠ LONG LÀ 1 TRONG 7 KỲ QUAN THIÊN NHIÊN MỚI

Vào thời cổ Hy Lạp, vị tướng Antipater xứ Sidon (397-319 Tr.CN) dưới quyền đại đế Alexander the Great đã liệt kê 7 Kỳ quan Thế giới cổ đại, gồm có:
            . Tượng thần ZEUS ờ Olympia
            . Đền thờ nữ thần ARTEMIS
            . Tượng thần MẶT TRỜI ở Rhodes
            . Mộ lăng MAUSOLUS !
            . Vườn treo BABYLON, Irak
            . Hải đăng ở ALEXANDRIA
            . Kim tự tháp CHEOPS, Ai Cập (Hiện nay chỉ Kỳ quan này còn tồn tại)
Bảy cổ Kỳ quan!

Ngày nay, tồ chức New 7 Wonders có sáng kiến tổ chức để mọi công dân các nước trên thế giới bầu chọn 7 Kỳ quan Nhân tạo mới” và vào ngày 7-7-2007 công nhận:
            . Đấu trường COLOSSEUM, Italy
            . VẠN LÝ TRƯỜNG THÀNH, Trung Quốc
            . Thành phố Đá PETRA, Jordan
            . Đền TAJ MAHAL (Ấn Độ) !
            . Tượng CHÚA CỨU THẾ, Brazil
            . Phế tích MACHU, Peru
            . Kim thư tháp CHICHEN, Mexico
Bảy tân Kỳ quan (Nhân tạo) !

Sau đó, New 7 Wonders tiếp tục tổ chức toàn cầu bầu chọn 7 Kỳ quan Thiên nhiên mới, và sau 4 năm, vào ngày 11-11-2011 công nhận:
            . Vịnh HẠ LONG, Quảng Ninh, Việt Nam
            . Đảo JEJU ở Hàn Quốc
            . Sông ngầm PUERTO PRINCEA (Philippines)
            . Đảo KOMODO (Indonesia) !
            . Thác IGUAZU, Brazil-Argentina
            . Rừng AMAZON, Nam Mỹ
            . NÚI BÀN của Nam Phi, Châu Phi
Bảy tân Kỳ quan (Thiên nhiên)
(Các bài hát trên là lời mới của bài London Bridge)

Tuy nhiên, tiến trình công nhận Vịnh HẠ LONG và 6 Kỳ quan khác đều phài chờ đợi sự kiểm tra của một tổ chức độc lập, đến ngày 30-3-2012 mới công nhận chính thức và sẽ có hai buồi lễ tại thủ đô của Quốc gia có Kỳ quan và tại chính địa phương nơi Kỳ quan tọa lạc.
Cụ thể tại Việt Nam đã có 2 sự kiện:

. Ngày 27-4-2012 Bộ Văn hóa tổ chức buổi lễ Công bố và Đón nhận danh hiêu “Vịnh HẠ LONG - Kỳ quan Thiên nhiên mới của Thế giới”, do đích thân vị Chủ tịch New7Wonders trao Quyết định cho Bộ trưởng Văn hóa nước ta ờ sân vận động Mỹ Đình, thủ đô Hà Nội

. Ngày 1-5-2012 ngay tại thành phố Hạ Long,tổ chức Lễ hội Carnaval chào mừng Vịnh HẠ LONG là Kỳ quan Thiên nhiên mới của Thế giới.

Cả hai buồi Lễ hội đều có sự tham gia với vũ điệu dân tộc của 6 Quốc gia có Kỳ quan mới, cùng chung vui với Việt Nam về Vịnh HẠ LONG.
Dù là quốc gia nhỏ trong gần 200 nước và lãnh thổ trên thế giới, nhưng đất nước Tiên Rồng hãnh diện có Vịnh Hạ Long - duy nhất 2 lần được công nhận là DI SẢN THẾ GIỚI - và nay lại được công nhận là KỲ QUAN MỚI . Điều đáng nói là 6 Kỳ quan mới còn lại chưa hề được UNESCO công nhận là Di sản Thế giới lần nào cả.

Trách nhiệm lớn lao cùa nhân dân ta là phài biết giữ gìn cảnh quan và môi trường xanh-sạch cho Vịnh Hạ Long - Di sản và Kỳ quan mới này.

Vinh dự thay cho ngành du lịch và non nước Lạc Hồng chúng ta!


___________________________________

(Tham khảo: Website cùa New7Wonders, các website khác và sách báo nói về vịnh Hạ Long)
© Tác giả giữ bản quyền.
. Cập nhật ngày 02.06.2012 theo nguyên bản của tác giả từ SaìGòn .
. Đăng tải lại vui lòng ghi rõ nguồn Newvietart.com