TÁC PHẨM
TÁC GIẢ


NGUYÊN HÙNG



. Tên thật là Nguyễn Nguyên Hùng
. Sinh năm 1955 tại Nghệ An.

. Tốt nghiệp kỹ sư công trình thủy (Hà Nội, 1979).
. Bảo vệ Tiến sĩ Thủy công - Nền móng (Nga, 1994).
. Hiện là Trưởng phòng Khoa học Kỹ thuật & Đối ngoại của Công ty Tư vấn Xây dựng Điện 2, Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN).

. Làm Thơ từ thời sinh viên .
. Có thơ in trên các báo, tạp chí TW và địa phương từ năm 1980 đến nay.
. Hiện là cộng tác viên chuyên mục "Chân trời văn học" của tạp chí Tài Hoa Trẻ (chuyên đề của Báo Giáo dục và Thời đại)

GIẢI THƯỞNG :

. Tài hoa Biên Khảo Biên Dịch cho một loạt bài giới thiệu các nhà thơ Nga.














































VLADIMIR NABOKOV
(1899-1977)

MỘT HIỆN TƯỢNG
ĐẶC BIỆT TRONG VĂN HỌC




Trong lịch sử văn học thế kỷ 20, Vladimir Nabokov giữ vị trí độc nhất vô nhị, là người viết giỏi đồng thời bằng hai thứ tiếng: Nga và Anh. Được sinh ra ở nước Nga, ông luôn mang theo mình những hồi ức về quê hương, thể hiện chúng trong hàng chục tác phẩm thuộc nhiều thể loại khác nhau và trở thành một trong những gương mặt hàng đầu của nền văn học Nga. Ông đồng thời cũng được coi là nhà kinh điển của nền văn xuôi Mỹ hiện đại, là người mà các nhà văn “bản xứ” như K.Wonnegut, J. Bart, T.Pinchon, T.Sazern tôn vinh là vị tiền bối gần gũi của mình. Với mảng tác phẩm được viết bằng Anh ngữ, dường như Nabokov là nhà văn được sinh ra ở bên kia bờ Đại Tây Dương, chứ không phải là người Nga.
Có thể nói, Vladimir Nabokov đang giữ một giá trị sáng tạo kỷ lục; và điều đó chứng tỏ một điều rằng, “xuất xứ của nhà văn chỉ là điều thứ yếu, sự nghiệp sáng tạo của anh ta mới là tờ giấy thông hành đích thực”. Với những đóng góp to lớn của mình cho nền văn học thế giới, năm 1974, Vladimir Nabokov từng được đề cử xét tặng thưởng giải Nobel về văn chương cùng với Graham Greene và Saul Bellow.

Rời nước Nga

Nabokov sinh ra trong một gia đình luật sư có tư tưởng tự do, là con cháu của nhà quý tộc V.Đ.Nabokov. Ông nội của nhà văn, Đ.N.Nabokov, từng giữ chức bộ trưởng tư pháp dưới thời Aleksandr II. Mẹ ông, Elena Ivanovna, là con gái của nhà tỷ phú công nghiệp khai thác vàng Rukavishnikov. Tuổi thơ của nhà văn trôi qua ở Peterburg, nơi mà mỗi mùa hè gia đình ông đều đi đến vùng đất riêng của mình ở Batovo. Cạnh Batovo là lãnh địa Thiên chúa giáo rộng lớn và giàu có của người bác, ông V.I.Rukavishnikov, người sau đó đã để chúc thư truyền lại cho cháu mình, nhà văn tương lai. Nơi đây đã khắc sâu trong tâm khảm Nabokov suốt cả cuộc đời về sau. Ngay trước sự kiện Cách mạng tháng Mười Nabokov đã kịp tốt nghiệp trường kỹ thuật Tenishevsky, nơi anh thu được thành tích xuất sắc trong cả hai lĩnh vực học tập và thể thao. Năm 1918, chàng thanh niên Nabokov cùng với gia đình sơ tán đến Krưm, sau đó một năm thì rời khỏi nước Nga. Gia đình Nabokov định cư ở Berlin, và V.Nabokov vào học trường Đại học tổng hợp Kembrizsky. Ra trường, Nabokov lập nghiệp tại Berlin trong vòng 15 năm (1922-1937). Sau đó số phận run rủi ông đến Pháp trong hai năm, rồi cùng vợ con đi Mỹ vào năm 1940, ngay trước khi những sư đoàn đầu tiên của phát-xít Đức tiến vào Paris. V.Nabokov ở lại Mỹ trong thời gian gần 20 năm, vừa dạy học vừa viết văn. Năm 1945, Nabokov nhận quốc tịch Mỹ. Tại đây ông đã tạo dựng tên tuổi trước hết với tư cách là nhà côn trùng học chuyên sưu tầm, nghiên cứu về bướm và đã phát triển thú đam mê từ thời thơ ấu này thành một trò giải trí chuyên nghiệp. Đây là một điểm khá thú vị trong sự nghiệp của Nabokov, và sinh thời đã từng có không ít ý kiến cho rằng, thú chơi bướm chẳng qua chỉ là một cách “đánh bóng tên tuổi”, “làm bộ làm tịch” của nhà văn.

Nước Nga trong Nabokov

Năm 1959 Nabokov trở về châu Âu và định cư tại Thụy Sỹ cho đến những ngày cuối đời. Dù ở đâu - Berlin, Paris hay Mỹ, V. Nabokov luôn chiếm được vị trí xứng đáng trong văn học. Nước Nga trong ông không giống nước Nga của Bunin, Kuprin, I.S.Smeliev, B. K.Zaitsev. Trong tác phẩm Nabokov không có các thành phố, các làng mạc được chỉ tên, không có những hình tượng nhân vật có thể gọi theo kiểu Nga, cũng không mảy may có sự miêu tả trực tiếp các thảm họa gây chấn động lịch sử dân tộc trong thế kỷ qua. Nước Nga của Nabokov – đó là bóng dáng của một thời thơ ấu hồn nhiên đã mất, đó là thời mà “mỗi lời khẩn cầu, một câu hỏi được ném lên trời thì lập tức sẽ nhận được câu trả lời đầy ngạc nhiên và quý báu”. Nabokov đã viết như thế trong “Massenka” (1926), cuốn tiểu thuyết đã mang đến cho tác giả sự nổi tiếng đầu tiên, và lối ẩn dụ này được ông tiếp tục với nhiều dạng văn phong khác nhau trong suốt sự nghiệp sáng tạo của nhà văn, cho tới bộ sách đồ sộ cuối cùng của mình bằng tiếng Nga là “Những bến bờ khác”.
Nước Nga của Nabokov – đó là một thứ ngôn ngữ tinh tế, điều mà ông tự coi là thế mạnh chủ yếu của mình. Trong lời mở đầu cho tiểu thuyết “Những bến bờ khác”, Nabokov viết: “Năm 1940 tôi quyết định chuyển sang viết bằng tiếng Anh, và điều tai hại là ở chỗ, trước đó trong vòng hơn 15 năm trời tôi viết bằng tiếng Nga, từng để lại dấu ấn riêng lên các “công cụ và trợ thủ” của mình. Khi chuyển sang một ngôn ngữ khác, vô hình trung tôi phải từ bỏ thứ tiếng của Avvakum, Puskin, Tolstoy và các ấn phẩm Nga”. Cuối cùng, nước Nga của Nabokov – đó là nền văn học Nga kinh điển. Về đóng góp của Nabokov trong mảng văn học ngoài tiếng Nga, đã có ý kiến cho rằng, phương Tây chịu ơn ông vì các bản dịch ra tiếng Anh (và một số ra tiếng Pháp) các tác phẩm của Puskin, lermontov, Chiutchev.

Quan điểm sáng tạo của Nabokov

Hơn hết thảy, Nabokov căm ghét, căm thù một cách sâu sắc điều mà ông gọi là “sự tầm thường”, khi đưa vào khái niệm này một nội dung vô cùng rộng lớn.
Sự tầm thường – đó là sự xâm hại của đạo đức, triết học, lịch sử đến các ranh giới có chủ quyền của nghệ thuật. Chính vì thế, Nabokov đã công kích một cách thù địch những tác giả như Tomas Mann, Andre Malro, thậm chí cả Đostoevsky, và phủ nhận một cách miệt thị nhận định phổ biến về Gogol như là người lên án các tệ nạn xã hội, là người thương cảm “những thân phận bé nhỏ”. Sự tầm thường – đó cũng là đòi hỏi về tính công dân trong văn học. Như một họa sĩ, như một nhà nghiên cứu văn học và triết học, như một giáo sư đại học, Nabokov luôn trong tình trạng đấu tranh không ngừng với các truyền thống của nền phê bình cách mạng dân chủ ở nước Nga.
Cuối cùng, sự tầm thường – đó là các chế độ độc tài, được phản ánh một cách sinh động qua các tiểu thuyết: “Giấy mời đến pháp trường” (1938), “Những đứa con hoang” (nguyên bản tiếng Anh là «Bend Sinister»), các truyện ngắn “Hoàng đế” (1933), “Tiêu diệt cuồng bạo” (1936), “Hồ, đám mây, bể nước” (1937), kịch “Sự phát minh điệu Van-xơ” (1938) và trong một loạt tác phẩm khác.

Nabokov - nhà văn Mỹ

Các đề tài trung tâm và cơ sở mỹ học chính của V. Sirin (bút danh cho các tác phẩm bằng tiếng Nga của Nabokov) đã tìm được sự kế tục và phát triển trong giai đoạn sáng tạo bằng tiếng Anh của Nabokov.
Ngôn ngữ điêu luyện và độc đáo của Nabokov không chỉ là công cụ và trợ thủ, mà còn là nhân vật trong tất cả các cuốn sách của ông. Người ta đã từng so sánh Nabokov với Joseph Conrad, người cũng trở thành nhà kinh điển của văn học không bằng ngôn ngữ mẹ đẻ (Joseph Conrad là người Ba Lan), nhưng điều đó đã xúc phạm tác giả tiểu thuyết “Lolita”, vì thực tế thì Joseph Conrad có điều kiện tiếp xúc với tiếng Anh tốt hơn nhiều so với Nabokov, và ông ta cũng không bị chi phối bởi hệ thống của ngôn ngữ sla-vơ.
Về tác phẩm chính được viết bằng tiếng Anh của Nabokov, có thể kể: các tiểu thuyết “Cuộc sống thực của Sebastian Knight” (The Real Life of Sebastian Knight, 1941), “Những đứa con hoang” (Bend Sinister, 1944), “Ngọn lửa xanh xao” (1962), truyện hài Pnin (1957), nhiều tác phẩm hồi ký độc đáo (“Chứng cứ xác thực”, 1951, “Những bến bờ khác”, 1954, “Tri giác, hãy nói”, 1966).
Theo cách diễn đạt của nhà nghiên cứu văn học Nga N.A. Anastasev (Н. А. Анастасьев), Nabokov là nhà văn của các nhà văn, và sự nghiệp sáng tạo của ông là văn học của văn học, là một thư viện lớn. Trên các trang sách của ông không ngừng vang lên tên tuổi của Shakespeare, Lev Tolstoy, Shiller và Kolridj, Edgar Po và Bodler, Dante và Gotorn, Shekhov và Rembo và hàng loạt các tên tuổi vĩ đại khác. Trong đó, Puskin giữ một vị trí đặc biệt, vì đối với Nabokov, Puskin là một tên tuổi mẫu mực, là nhà thơ vĩ đại, xứng đáng để ông bỏ ra cả chục năm trời dịch ra tiếng Anh trường ca “Evgheni Oneghin”, bản dịch từng gây náo động lớn trên văn đàn và trong dư luận bạn đọc.

Nabokov và Thơ

Trong kho tàng văn học của Vladimir Nabokov, ngoài các tác phẩm văn xuôi bằng tiếng Nga và tiếng Anh, còn có một số lượng không nhỏ các tác phẩm thơ bằng tiếng Nga. Dù trọn cả cuộc đời sáng tạo sống xa tổ quốc, nhưng thơ Nabokov vẫn đau đáu một tình yêu giành cho quê hương đất nước:

Ta không giận vẩn vơ
Không nguyền rủa cũng không van vỉ
Ta vẫn yêu Tổ quốc ta xưa cũ
Như cô nàng từng phụ tình ta.
(Gửi nước Nga)


Vladimir Nabokov là một gương mặt văn học nổi tiếng trên văn đàn thế giới, nhưng do nhiều lý do khác nhau, hầu như chưa được độc giả Việt Nam biết đến. Để góp phần giúp bạn đọc có thêm một số thông tin về Nabokov, ngoài những điều khái quát trên đây, sau đây chúng tôi xin giới thiệu một số tác phẩm thơ của ông với các bản dịch của các thành viên website NuocNga.net. Do mỗi bài thơ đồng thời có một số phương án dịch khác nhau, nên sau loạt 5 bản dịch đầu tiên, chúng tôi sẽ giới thiệu tiếp các bản dịch khác cho từng bài thơ gốc tương ứng.

1. Đàn sếu

Rừng thưa xào xạc lá vàng
Xa xa sóng biển rộn ràng ngân nga
Lưng trời đàn sếu bay qua
Tiếng kêu giã bạn thiết tha, cháy nồng

Bóng chim tan giữa thinh không
Lời yêu dần nhỏ, lắng trong tim này
Đôi chim sau rốt giãi bày:
Rằng em vẫn thế, hằng ngày nhớ anh.


(Nguyên Hùng dịch)


2.
Tự do có trong cô đơn
Và ngọt ngào – trong mộng ước.
Giọt mật, ánh sao, bông tuyết
Tôi gom trong một câu thơ.

Và sau mỗi đêm hấp hối
Tôi mừng sớm mai sống lại.
Ngày mới - giọt sương thiên đường
Còn ngày qua - hạt kim cương.


(Tạ Phương dịch)


3. Bão tuyết

Bóng tối trên tường dồn bóng tối,
Hãy nằm yên, trằn trọc làm chi!
Gió rên rỉ thì thây kệ gió
Hay mi chưa đủ ấm bên lò?

Đêm tai ương...Nỗi nhớ căn lều nhỏ
Mi khó ngủ ư, hay sợ gió rồi?
Đâu phải là thảo nguyên bão tuyết,-
Là nước Nga trăn trở lúc tối trời!

Nào rú rít, giật rung, gào thét!
Có sức thì ra cứu giúp đi!
Sao thế nữa? Đủ rồi, bưng tai lại...
Sẽ qua thôi, dù nước Nga chẳng bên mi!

Tiếng gió rên khe khẽ yếu dần
Rồi lại tru lên... Ôi, thảo nguyên đáng sợ!
Sáng mai ra, băng ngập dày kín cửa...
Bão tuyết cơ mà! Thôi kệ nó, ngủ đi!


(Thu Hương dịch)


4.

Tôi nghĩ gì ư? Về những sao băng
Em nhìn kìa, thêm một ngôi, như linh hồn lặng ngắt
Bay vút qua không gian vệt sáng kim cương
Đến tận cùng đường, và lụi tắt.

Đừng hỏi tôi, sao rơi nơi đâu
Tôi xin em, hãy lặng im và nín thở!
Tôi cảm thấy ngôi sao đang tan vỡ
Thành muôn tia trong sâu thẳm hồn mình.


(Tạ Phương dịch)


5. Gửi nước Nga

Ta không giận vẩn vơ
Không nguyền rủa cũng không van vỉ
Ta vẫn yêu Tổ quốc ta xưa cũ
Như cô nàng từng phụ tình ta.

Nhưng ta cô đơn, ôi nước Nga!
Giờ đây người đã xa ta quá!
Qua mất rồi những ngày ta vẫn nhớ:
Người với ta chung một niềm đau.

Tiếng người cười như vang vọng tới ta
Từ thẳm sâu cánh rừng Nga xanh mát!
Dịu dàng quá khiến tim ta đau thắt
Và tràn đầy đam mê trẻ trung.

Ta khẽ hôn đóa đồng thảo tháng năm,
Đôi mắt Nga thơ ngây trong vắt,-
Những cánh hoa dường như cũng hiểu,
Long lanh sương đáp lại tình ta...

Và vì thế, ơi nước Nga của ta,
Ta chẳng dám bao giờ buồn giận...
Ta luôn nói: Mắt trong veo đến vậy
Kẻ lỗi lầm chẳng có nổi đâu!


(Quỳnh Hương dịch)




NGUYÊN HÙNG


© http://blogtiengviet.net/cucnguyenlam - Đãi Trăng - Nguyễn Lâm Cúc




TRANG CHÍNH TRANG THƠ ĐOẢN THIÊN TRUYỆN NGẮN ÂM NHẠC