CẢNH QUAN THÀNH PHỐ HUẾ


Huế: thời khai sinh

Di tích lịch sử, văn hoá Việt Nam trên điạ bàn xứ Huế - Thừa Thiênkhông cổ kính như trên vùng đất Cổ Loa, Hoa Lư hay Thăng Long. Nhưngkể từ khi vua Lý Thái Tông tiến chiếm thành Phật Thệ tạilàng Nguyệt Biều, nay cũng đã gần nghìn năm. Còn thành Châu Hoá (tạiThành Trung) thành đá tại Hải Vân, chùa Thiên Mụ... mà Ô Châu Cận Lụccủa Dương Văn An đã ghi chép, cũng xây dựng từ năm hay sáu trămnăm qua. Và hàng trăm công trình kiến trúc khác nhau khác nữa nhưthành quách, điện đài, lăng tẩm, cầu cống... tạo thành một quầnthể hài hòa giữa con người và thiên nhiên, theo phong cách và mỹthuật Việt Nam thuần túy, đã hiện diện từ trên dưới hai trăm năm.Có lẽ đây là một quần thể với mật độ dày đặc hơn đâu hết trên đấtViệt Nam. Đó là chưa kể các di tích khảo cổ (thời đại văn hoá BàuTró, Phong Mỹ và văn hoá Sa Huỳnh) thuộc nền văn hoá Chăm Pa có tuổi thọ từhai ngàn năm và di chỉ dân tộc học tiền - Việt còn nằm sâu dướilòng đất từ năm, bảy ngàn năm xưa cũ.

Những cuộc nghiên cứu khảo cổ học

Vào những năm đầu của thế kỷ XX (từ 1904 đến 1909) những nhà khảocổ Tây Phương trong Ecole Des Etudes Indochinoises và thuộc tạpchí Bulletin des Amis du Vieux Huế (sau nầy) đã bắt đầu quan tâmđến những thông báo của giáo sư Finot trên tập san của trườngViễn Đông Bác Cổ nói về một số di chỉ khai quật lên được trongphạm vi những cồn cát trong vùng Sa Huỳnh, nằm về phía nam TrungPhần hiện nay. Có đến trên 200 bộ chum bằng đất nung kiên cố,cộng thêm với một số lượng những dụng cụ tùy táng; như nồiniêu, những chiếc bình bằng gốm, những đồ trang sức, những vòngkhuyên tay bằng đá hay bằng đồng. Những phát kiến nầy cộng thêmnhững tán đồng về giá trị của những phẩm vật quý giá nầy giúp chonhững nhà khảo cổ Pháp, Anh và Đức từng quan tâm đến Việt Nam đãchuẩn bị những cuộc khai quật tương tự như thế. Những công trìnhkhai quật lớn lao và có hệ thống của Parmentier, Labarre,Madelaine Colani, O. Jansé, L. Malleret... Họ đã quy hoạch đượcmột địa bàn phân bố và niên đại của nền văn hoá Sa Huỳnh về mócgiới chung quanh những vấn đề cổ sử trong vùng đất nầy. Quan trọng hơn hết là thành công kế tiếp của bà Madeleine Colani.Rất nhiều dấu vết khác được bà khai quật thêm trong vùng Sa Huỳnh đãgiải thích được bài toán chưa được giải mã của nền văn hoá vùngnầy. Giới nhân chủng học và sử học cũng đã nôn nao tìm kiếm để lý giảithêm lịch sử cổ đại vùng đất miền Trung Việt Nam. Cho đến nhữngthập niên 60 và 70, dù trong hoàn cảnh chiến tranh triền miên,những nhà khảo cổ E. Saurin và H. Fontaine cũng đã góp phần giảiminh thêm để nới rộng tầm hiểu biết những vùng đất lân cận, chạydài cho đến vùng Khánh Hoà, và xa hơn đến Long Khánh. Những dichỉ vùng Phú Hoà và Dầu Giây đã nói thêm về những sinh hoạt kinh tế và mỹthuật cổ xưa.Cũng trong chiều hướng đó, vùng đất Thừa Thiên cũng được khai quật thêm nhiều tài liệu qúygiá vào những năm 1985, 1988 và 1990 gần đây, bộ môn Dân Tộc - Khảo Cổkhoa học lịch sử Hà Nội và Huế đã phát hiện được di chỉ Cồn Ràng(trong địa phận của thôn La Chử, làng Hương Chử, tỉnh ThừaThiên). Nhìn chung những hiện vật đã khai quật được trong nhữngvùng nầy, một hệ thống chứng liệu chạy suốt trong vùng đất miềnTrung đã giải minh khá tường tận.

Những di chỉ

Căn cứ theo những nét đặc trưng và đa dạng của những hiện vậtkhai quật được của những di chỉ vùng Bàu Tró (Quảng Bình), những nhà khảo cổ học trong và ngoài nước đã phát kiến ra được mặt tầngvà đáy tầng của nền văn hoá tiền thân của các hiện vật khai quậttại Sa Huỳnh. Những liên hệ khá chặt chẻ của những vùng khai quật trên đã đượcgiải lý khá đầy đủ, dù một số chuyên gia vẫn còn muốn tìm thêmnhững gút nối khác sau nầy. Thế là một liên hệ anh em của thếchân vạc: Bàu Tró, Sa Huỳnh và Champa đã được đặt ra. Nếu những giải thích nầy được xác quyết vững vàng hơn thì chúngta có thể minh định rằng vùng đất của Thừa Thiên- Huế chính làđịa bàn cư trú của những cư dân Sa Huỳnh. Cũng có thể đó là tổtiên của dân tộc Chăm - Pa trước đây, mà trong đó, rõ nét nhất lànền văn minh nông nghiệp và chài lưới. Tất cả nằm quy trình chính trong dòng ngữ hệ Malaya - Polynésie.Những nhà khảo cổ đã dựa trên những phát kiến ở vùng đất miềnTrung để tìm những liên hệ với nền văn minh Phùng Nguyên, ĐôngSơn ở miền Bắc. Song song với những thành tựu như vừa nói, thì việc khai quậtđược những hiện vật trong hệ thống của nền văn hoá Đông Sơn, Hoàng Hạ, ĐôngThịnh: đó là những loại thố, rìu, dao găm, trống đồng. Những divật nầy tìm kiếm được dọc theo chuỗi "đất ngọc" của miền Trung, như trốngđồng Phù Lưu (Quảng Bình) trống đồng Kanol ở huyện Hiên (trongvùng Quảng Nam, Đà Nẵng) và sau nầy là trống đồng Nha Trang(Khánh Hoà). Những phát kiến nầy thực hiện trong những năm 1956,1962 và 1970. Thêm một lần nữa, những tài liệu nầy đã chứng minhthêm những chi tiết quan trọng về nền văn hoá dãy đất miền Trung.Điều nầy đã giúp những nhà nghiên cứu Việt Nam đặt những tươngquan giữa các tuyến văn hoá: Đông Sơn ở miền Bắc và Sa Huỳnh ởmiền Nam.Tuy những nhà sử học Việt Nam giữa thái độ cẩn trọng trong việcliên kết chặt chẻ giữa hai tuyến nầy, nhưng họ vẫn tin tưởng sựtương giao ít nhiều về tính chất và thời đại.

Trống đồng tại Huế

Ngày 12 tháng 7 năm 1993, trong khi đi tìm những vật liệu phếthải thời chiến tranh, dân chúng Phong Mỹ đã tìm được một trốngđồng. Ngày 22 tháng 3 năm 1995 và ngày 24 tháng 12 năm 1997,những khai quật khác chung quanh Phong Mỹ đã tìm ra 254 hiện vậtđồ đá mài, đồ đồng, đồ gốm, mộ táng. Di chỉ Phong Mỹ nằm trong khu vực buôn Khe Trăn thuộc xã Phong Mỹ,huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên, cạnh bờ khe, nhánh hữu trạch nguyêncủa sông Ô Lâu. Hiện vật và những di vật khác đã được giám định, được xác nhận làthuộc kiểu trống đồng Heger I.Trống đồng Phong Mỹ bị vỡ và Viện Khảo Cổ Huế đã nhờ đến tài năngcủa những "bàn tay vàng" đúc đồng Phường Đúc (Huế) phục chế lại. Hiệnnay, trống đồng Phong Mỹ và di vật Phong Mỹ được bào lưu tại Việnbảo Tàng Mỹ Thuật Cung Đình Huế.Theo nhà khảo cổ học E. Mernet (1997) thì: mặt trống đồng PhongMỹ có hình mặt trời với 12 cánh, 11 vành hoa văn theo thứ tự:vành 1: hình tam giác đối đỉnh, vành 2 và 8: tiếp tuyến đườngthẳng, vành 3, 7 và 9: đường thẳng song song và hình nhà, chim, vũnữ, giao long; vành 4: hoa văn kỷ hà, vành 5: người cắm lông chimsắp sửa ra trận, vành 6: những chim lạc bay ngược kim đồng hồ (10con).

Nhận định: Trống đồng Phong Mỹ mang những đặc tính như sau:(1) Trống đồng Phong Mỹ nằm trong hệ trống đồng thời Đông Sơn IIvà trống đồng Ngọc Lũ. (2) Trống đồng Phong Mỹ là nhịp cầu nối nền văn hoá Bàu Tró (nằmsát thị xã Đồng Hới- Quảng Bình) Cù Bai (xã Hhướng Lập, huyệnHướng Hoá, tỉnh Quảng Bình) và văn hoá Sa Huỳnh (huyện Đức Phổ,tỉnh Quảng Ngãi). (3) Trống đồng Phong Mỹ mang tính nghệ thuật cao, hoa văn biểuhiện nhiều nét nghệ thuật điển hình của thời đại đồ đồng chuyểnsang thời đại đồ sắt. (4) Trống đồng Phong Mỹ nói lên những nét căn bản của vùng bảnđịa miền Trung và trong chừng mực đó, mở đầu cho nền văn hoáChăm - Pa (Chiêm Thành). (5) Trống đồng Phong Mỹ đầy đủ những nét chính yếu để hiểu nghệthuật tạo hình, thanh sắc và thẩm âm thời đó. Nhiều nhà nghiên cứu bị chính trị chèn ép, uốn nắn tài liệu đi,nhưng giới khảo cổ thế giới đã phân định rõ từng giá trị một,khác với chuyện huyền thoại chung quanh Hùng Vương.Nền tảng khảo cổ trên đã tạo được phần cơ bản nghiên cứu. Phảichờ thêm những công trình kế tục khác, để minh định rõ hơn vềniên đại cũng như vùng địa bàn phân bố.

Dòng ngữ hệ tại Huế thời xưa

Từ những phát kiến nầy, điều có thể lý giải được là: phạm vi địabàn vùng đất Thừa Thiên - Huế nằm xen kẻ giữa hai nền văn hoá cũtrên dãy đất Việt Nam. Những tiếp thu của hai dòng nầy không thểtách ra được.Trong cách giải mã nầy, nhận thức được là: chủ nhân ông của vùng đấtnầy vốn là tổ tiên của cư dân Chăm - Pa và người Việt. Người Chăm - Pavới dùng ngữ hệ Malaya - Polynésie và người Việt trong ngôn ngữViệt - Mường thuộc dòng Nam Á. Qua những minh định đó, thì chính trên vùng đất nầy vốn là nơigiao tiếp của các cộng đồng cư dân, mang những sắc thái văn hoákhác nhau. Những di tích còn lại cho thấy rõ là vùng đất Thừa Thiên - Huếtrước kia vốn là địa bàn cư trú của những dân tộc ít người vùngNam Trường Sơn, trong đó phải kể đến các sắc dân Tà Ôi - Pacoh,Bru - Vân Kiều và đa số là dân Ca Tu. Người Ca Tu về nhiều hìnhthái sinh hoạt kinh tế và phong tục vốn gần gủi với người Việtmiền Trung. Khi phân tách chuyên ngành hơn thì những nhà nhânchủng học đã tìm thấy được những yếu tố đặc trung của những sắcdân nầy thuộc hình thái dòng Indonésie, nhưng ngôn ngữ của họthì lại thuộc dòng Môn - Khmer. Về sinh hoạt kinh tế, mãi cho đến nay, nhưng người còn sót lại vẫn cuộn tròn trong khuynh hướng tựcấp tự túc, xa hẳn những dân tộc láng giềng lẫn người Việt. Cho đến nay thì họ vẫn còn trong vòng kinh tế săn bắn và hái lượmcủa hình thái con người thuộc thời đại đồ đá mới. Họ sống theođơn vị huyết thống và bảo vệ tính chất huyết thống đến kỳ cùng.Ngoài ra, tính chất mẫu hệ Chăm- Pa vẫn còn thấy rõ nét.Đi tìm những dấu vết sinh hoạt và ngôn ngữ của những sắn dân bảnđịa nầy, chúng ta có thể giải thích được những danh từ địa phươnghiện diện chung quanh vùng Thừa Thiên - Huế như: Sam, Sình, Sịa,Nong, Truồi. Cũng trong chiều hướng đó, đã có thề giải minh được một số địa danh khác: Ya Nan là Đà Nẵng, Ya T'ran là Nha Trang,Pantan là Phan Rang, do từ tiếng Chăm - Pa mà ra. Khi người Việt đến tiếp thu những vùng đất quanh Huế, thì một sốtên cũ của người Tà Ôi - Pacoh và Bru - Vân kiều còn sót và biếndạng như Shia (con cá) đọc ra là Sịa, H'Truoi (con gà) đọc ra làTruồi.Đi sâu vào, khoa ngữ học giúp chúng ta khám phá thêm nhữngđịa danh tượng tự. Về phương diện nầy, những dấu ấn vẫn còn vếthằn, nơi thì đậm nét, nơi thì nhạt màu hơn, nhưng trong đại thể phân tách cấutrúc văn hoá người bản địa, không thể bỏ quên được những dấutích văn hoá của những lớp người kể trên.

Huế: Thời thành lập

Theo những nghiên cứu địa lý cảnh quan trong vùng thì vị tríchính của vùng đất miền Trung Việt Nam từ những thiên niên kỷtrước Công Nguyên, thì đây từng là trục giao thông trên chặngđường hằng hải quốc tế dừng chân. Thời đó, các trung tâm văn minhđã toả rộng ra, ảnh hưởng sâu rộng đến những vùng đất Trung Hoa,Ấn Độ, và xa hơn nữa là Bắc Phi... tất cả đều có những liên hệvới nhau. Cũng trong xu thế nầy, con đường hàng hải chạy từ nhữngnước vùng châu Âu đến đất Ấn Độ, và cũng từ Ấn Độ đến Trung Hoa,cũng đã diễn ra những trạm dừng chân trên những hải trình nầy.Những dấu ấn đó được những sử gia lưu tâm đến nhiều trong việckhảo cứu các trục văn minh thời đó. Một khung cảnh quan trọng khác. Sau khi vượt qua con đường bểquanh khu vực Ceylan kể từ những thiên niên kỷ cuối trước CôngNguyên, Ấn Độ đã phát triển sâu rộng nền văn hoá của mình đếnnhững lân quốc vùng phía Nam. Trong giai đoạn đó, những đoànhàng hải thương thuyền nổi tiếng trong triều đại Pallavas vàCholas đã toả ra khắp vùng; trong bối cảnh nầy, còn có những giáosĩ tháp tùng theo, đã gieo rắc nhiều nét đặc trưng của nền vănhóa Ấn. Những nước tiếp thu sâu sắc trong giai đoạn nầy thì phảikể đến Miến Điện, Indonésia, Malaysia, Khmer và sau đó là Vươngquốc Champa cổ đại. Đất Thừa Thiên - Huế trong giai đoạn đó làvùng cực bắc của Vương quốc này. Thành thử ảnh hưởng của Ấn ĐộGiáo gieo vào khá đậm đà trên những phương diện triết học, nghệthuât, tôn giáo và phong tục tập quán. Vùng đất Nhật Nam thuộc Háncũng chịu ảnh hưởng nầy.Trong những công trình nghiên cứu về điêu khắc, kiến trúc, trangtrí của đất Chăm - Pa, người ta đã nhận thấy rõ nhiều đường nét tiêubiểu của nghệ thuật Mahabalipour của Ấn Độ. Theo cảnh quan điạ lý, thì ranh giới cuối cùng trong vùng đã chịuảnh hưởng trực tiếp của nền văn hoá Ấn Độ đánh dấu ở khu vực đèoNgang. Còn phía bên kia đèo Ngang thời đó, đất Cửu Chân, Giao Chỉ lệthuộc nhà Hán, thì cũng đã chịu ảnh hưởng khá nặng nề của nền vănhoá phương Bắc, không hề kém ảnh hưởng của Ấn. Tuy nhiên, vùngđất nầy thì lại mang một phương thức trái ngược lại. Thành thửra, khả năng và tính chất đề kháng nền văn hoá Trung Hoa đã invết hằn ăn sâu trong huyết quản của người Việt. Khả năng đề khángnầy mang giá trị tinh thần vững chắc, tạo nên dân tộc tính, đểlàm căn bản cho những cuộc đề kháng Bắc cự sau nầy.Và cũng từ những ảnh hưởng xúc tác mạnh mẽ nầy, những biến chuyểnlịch sử đã tạo dựng cho vùng Thừa Thiên Huế là hợp lưu của haidòng văn minh rõ rệt: Ấn Độ và Trung Hoa. Đây là hai nền văn minhlớn của nhân loại, ảnh hưởng nhiều quốc gia. Những phản ảnh nhưthế nào trong hội nhập; đó lại là khả năng của mỗi dân tộc.

Những giai đoạn lịch sử

Theo những truyền thuyết, thì đất Huế Thừa Thiên nguyên là đấtcủa nước Việt Thường. Việt Thường dâng con rùa lớn cho vua Nghiêu(2357 - 2258 trước Công nguyên). Từ đó có tên là nước ViệtThường. Nhà Tần (246 - 201 trước Công Nguyên xâm chiếm phương Nam, đấtViệt Thường thuộc về Tượng Quận. Năm 116 trước Công nguyên, nhà Hán đổilàm quận Nhật Nam. Quận nầy chia ra 5 thành là Tây Quyền, Tỷ Cảnh, Châu Ngô, Lư Dung và Tượng Lâm.Năm 192, Khu Liên nổi lên chiếm Tượng Lâm, xưng làm vua nước LâmẤp cai trị toàn vùng Nhật Nam. Năm 757, quốc hiệu Lâm Ấp đổi tênlàm Chiêm Thành. Từ khi thuộc Lâm Ấp - Chiêm Thành, Tỷ Cảnh trởthành châu Ô và Châu Ngô trở thành châu Lý. Năm 1044, vua Lý Thái Tông ngự giá đi đánh Chiêm Thành trừng trị quânChiêm Thành hay sang quấy nhiễu biên địa Đại Việt. Quân ChiêmThành dàn trận ở phía nam sông Ngũ Bồ (nay là Bồ Giang chảy qualàng Cổ Bi và Bồ Điền), Thái Tông truyền thúc quân đánh tràn sang,quân Chiêm Thành thua chạy. Quân ta bắt được hơn 5,000 người và30 con voi. Thái Tông tiến binh đến quốc đô là Phật Thệ (nay ở làng NguyệtBiều, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên) đánh vào thành. Năm 1306, vua Trần Anh Tông đặt Ô Châu làm Thuận Châu và LýChâu làm Hoá Châu. Thuận Châu nay là Quảng Trị, Hoá Châu nay làThừa Thiên (và phủ Điện Bàn tỉnh Quảng Nam). Hai châu Ô - Lý thuộcvào cương vực Đại Việt vì vua Trần Anh Tông đã gã công chúa Huyềntrân cho vua Chiêm Thành là Chế Mân và nhận hai châu Ô - Lý làmlễ nạp trưng. Năm 1404, cuối đời Trần lập phủ Hoá Châu coi cả Thuận Châu và HoáChâu. Đầu đời Lê, đổi phủ Thuận Hoá làm lộ Thuận Hoá thuộc đạo Hải Tây(cả nước chia ra làm 5 đạo). Năm 1469, cải làm Thừa Tuyên ThuậnHoá coi 2 phủ: Tân Bình (sau thành Quảng Bình) và Triệu Phong.Triệu Phong gồm 6 huyện và 2 châu: 3 huyện Kim Trà, Đan Điền, TưVang sau thành địa bàn Thừa Thiên (các huyện và châu sau thànhQuảng Trị và Quảng Nam).

Xây dựng Đàng Trong

Lịch sử thành lập phủ chúa Nguyễn và kinh đô nhà Nguyễn sau nầyphải trải qua nhiều giai đoạn thử thách, thăm dò không ngừng:Khi chúa Nguyễn Hoàng (1525 - 1613) vào trấn thủ đất Thuận Hoá,tiến hành xây dựng sự nghiệp ở Đàng trong và sau đó, những ngườikế thừa sự nghiệp nầy đã phải qua nhiều lần chọn lựa vị trí thiếtlập cơ sở hành chánh.

(1) Ái Tử: nằm trong địa phận tỉnh Quảng Trị, dùng làm căn cứphòng ngự. Vị trí nầy được kéo dài trong suốt 63 năm (kể từ năm1558 cho đến năm 1626) thì thay đổi cho thích hợp.

(2) Phước Yên: Phước Yên là một vị trí phía tả ngạn sông Bồ, đốidiện với làng Thanh Lương, phía Bắc của kinh thành Huế; nơi nầy dùnglàm trú xứ trong khoảng 10 năm (1626 - 1636).

(3) Kim Long: Kim Long cũng là một địa điểm trong tỉnh Hương Trà,mạn Tây nam kinh thành Huế, được kéo dài khoảng 51 năm (1636 - 1687).

(4) Bác Vọng: Nằm trong địa phận của huyện Quảng Điền cũng trên tảngạn con sông Bồ, phía Bắc của kinh thành Huế, kéo dài được 26 năm(1712 - 1738).

(5) Phú Xuân: Nằm trong địa phận của thành phố Huế hiện nay, kể từnăm 1651 và được thay đổi hai lần. Giai đoạn đầu tiên chúa NguyễnPhúc Trăn khi mới lên ngôi năm 1687, thiên đô từ Kim Long về PhúXuân. Nhưng sau đó con ông là chúa Nguyễn Phúc Chu (1675 - 1725)khi lên ngôi chúa năm 1691 thì đến năm 1712 thì thiên đô về BácVọng. Giai đoạn dầu nầy thì Phú Xuân được chọn làm phủ chúa trong25 năm. Cho đến năm 1738, chúa Nguyễn Phúc Khoát (1714 - 1765)lên kế vị, lại đưa kinh sư trở lại Phú Xuân năm 1738. Về sau, dưới thời chúa Trịnh và Tây Sơn hùng cứ vùng nầy thì vẫnchọn Phú Xuân như trước. Những nhà khảo cổ học trong mấy chục năm gần đây đã cố công tìmlại những dấu vết của phủ chúa tại Ái Tử, Bác Vọng, Kim Long,Phước Yên, nhưng đã không tìm được di tích quan trọng minh địnhgiá trị chính xác và cần thiết.Họ suy đoán là những cơ sở nầy chỉ được kiến trúc bằng vật liệunhẹ tạm thời, nên không bảo lưu được.

Địa lý cảnh quan

Nhìn trên bản đồ đất nước, thì hình ảnh mảnh mai, gầy guộc củavùng Thừa Thiên - Huế gây lên một ấn tượng mạnh mẽ khi nghĩ đến mộtkinh đô được ghi vào "di tích văn hoá nhân loại" được dựng lên ởđấy. Và cũng từ vùng đất nầy, không biết bao nhiêu chi phối từmọi phía, để tự sinh, tự tồn cho đến ngày nay.Nằm vào khoảng từ 107,8 đến 108,2 kinh độ Đông và khoảng từ 16 đến 16,8vĩ độ Bắc, vùng đất Huế chỉ là hình ảnh của sự nghèo nàn, khôcằn, núi liền biển, đất hẹp, người thưa. Không thể tìm thấy mộtkhả năng nông nghiệp trù phú hay công nghiệp phát triển ở Huếđược. Dù vậy, nhưng Huế lại là vùng mang nhiều khả năng văn hoá lịchsử độc đáo, nhiều tiềm năng sinh tồn và nhất là khả năng thu hútngười mọi nơi một cách lạ kỳ. "Thương em, anh cũng muốn vô. Sợ..." Thử nhìn lại. Từ vùng bờ biển phía Đông cho đến vùng núi cực Tây,trên trục Trường Sơn tiếp giáp xứ Lào, thì chiều rộng nầy chỉđúng trong tầm nhìn vừa phải của con người. Hai phía kia cũngthế. Phía bắc là vùng đất Quảng Trị lắm đồi, nhiều núi, chen vàogiữa một thỏi đồng bằng, nhưng rồi những tầng cát duyên hải thì cứ chenlấn dần. Phía nam cũng chẳng hơn gì. Nhìn quanh, núi rừng trùngđiệp mà đèo Hải Vân là con đường độc đạo thì uốn khúc quanh cogiữa núi ngút ngàn. Núi ấy, sông ấy, đã tạo nên Huế, một cảnh quanmang nhiều điều khá bí hiểm. Ảnh hưởng của dãy Trường Sơn với sông suối, đồng bằng rất lớn. Từvùng Bắc Trường Sơn, trập trùng núi cao, núi thấp như muốn chenchân nhau tuôn ra tận biển, cô lập hẳn từng mảnh đồng bằng nhỏ,vụn vặt, cắt xén. Cho đến khi gặp vùng đất Huế thì khí thế núi đãthay đổi hẳn. Phía tây của Trường Sơn là cao nguyên Tahoi, triềnthoai thoải, cây lưa thưa; nhưng mạn đông Trường Sơn thì dốc dựngđứng, sườn cao, cắt chia bởi nhiều sông suối. Từ sườn chính, ngọn núi A Lu hiện ra; đây chính là nơi phátnguyên của năm con sông lớn trong vùng: sông A Tin và sông A Sápthì chảy sang phía Hạ Lào; sông A Rong thì chảy về miệt Quảng Namđể sau đó lại chuyển sang sông Thu Bồn; còn con sông Bồ (sông PhúỐc) và sông Hương thì vượt vùng rừng núi rất xa để sau đó đổ vềphá Tam Giang. Trước khi là sông Hương của Huế thì dòng chảy nầycó tên là sông A Pàng, tên gốc Polynésien của dân tộc Ca Tu. APàng có nghĩa là đời người. Thì ra con sông đã chở thân phận conngười. Thi hào Nguyễn Du hơn một lần đã hiểu được tâm sự dòng sôngtrong những ngày lênh đênh xuôi ngược trên dòng Hương đãviết "Hương Giang nhất phiến nguyệt; Kim cổ hứa đa sầu". Vì mặt dốc của triền núi quá cao về phía Đông, cho nên dòng APàng (sông Hương) trên nguồn chảy rất mạnh, cắt chia địa hình,địa mạo vụn vặt, biến thành nhiều sông suối khác.Những sông suối nầy đã tạo nên những cảnh quan khá đặc biệt:những vùng thiên nhiên hoành tráng, độ dốc sẽ được giảm xuống dần;sau đó chuyển thành những khu dân cư sầm uất.

Thiên nhiên vùng Huế

Vốn phát triển trong trung tâm của khu rừng nhiệt đới, ẩm vànóng, nên những khu rừng nguyên sinh vùng phía Tây của ThừaThiên - Huế vẫn có thể giữ được màu xanh tươi, ngoại trừ nhữngkẻ đang tâm phá phách của con người. Còn vùng đồi thoai thoải thìlại bao gồm hệ thực vật của sim, muồng, tràm, chổi, lau sậy, cỏtranh... Một mặt thì vùng nầy phải hứng chịu lấy những đợt gióchướng vùng Đông bắc; mặt khác thì chịu đựng với ngọn gió Làokhắc nghiệt.Không ít vùng đất phải qua hai lần điêu đứng trở nêncằn cổi, vàng chệch, vỡ vụng thành sỏi đá. Cái khí hậu mà vua TựĐức mô tả "Tứ thời giai hữu hạ; nhất vũ tiện thành đông" đến phảingán ngẩm "Trời mưa ở Huế, sao buồn thế!" Vùng đồng bằng Huế tuy cắt chia địa thế vụn vặt, tản mạn, nhưngđủ cho những đợt di dân theo gót chúa Nguyễn Hoàng định cư lậpnghiệp. Dòng sông cao về rồi cũng dịu xuống, chảy xuôi nhẹ nhàng. Sỏi cátcũng vơi dần, chảy dài theo những triền ven sông ven bể. Đồngbằng Huế ít đê điều, qua dòng chảy nầy, nhưng vị thế hẹp cho nênnước thường dâng cao dễ dàng, gây lụt bão thường xuyên.Xa dần về phía đông, gần biển thì nhiều đầm phá: Phá Tam Giang,đầm Chuồn, đầm Sam. Đầm phá là nơi mở rộng dòng sông, là hợp lưu khai quang,là điểm hẹn nhiều nguồn nước "Nước non hội ngộ còn luôn; bảo chonon chớ có buồn làm chi..."Cũng trong hệ cấu trúc thiên nhiên sông núi nầy, nhiều luồng thựcvật nguyên sinh đã được chuyển dần đến, từ các loại thực vật thuộc dãynúi Hy Mã Lạp Sơn hay xa hơn thế nữa, xuôi theo tuyến Hoa Nam;đồng thời, một dòng khác từ miền Malaysia vươn lên khá phong phú,nên các nhà thực vật học dễ dàng nhận diện được những loại họdầu, họ bàng lăng, họ săng lẻ, họ huỷnh... thậm chí cả họ quế nổitiếng của miền Nam và họ dẻ, họ sồi, họ hạnh đào, họ chè, học mộclan ở miền Bắc. Cả hai tạo cho rừng núi Việt Nam một nguồn tàinguyên vô cùng giàu có, phong phú, đa dạng. Kiến trúc Việt thời trước đãkhai thác những cây rắn chắc, bền bỉ với thời gian để dựng nhàcửa, đền đài. Thăm Cung Bảo Định, khách viễn du sẽ thấy được giátrị tuyệt vời của những vốn quý núi rừng đó. Chỉ tiếc những cuộc khai hoang ngày nay, cũng như những vụ dộibom ngày trước đã phá hũy mất cảnh quan sinh động hấp dẫn nầy.Với kinh thành Huế, cũng như những vùng phụ cận của Thừa Thiên,phải thừa nhận là có được những ưu đãi của thiên nhiên dành cho. Trong một địa bàn chừng vài chục cây số theo đường cánh chim bayhướng Đông Tây, du khách có thể tìm thấy nơi đây một thiên nhiênphong phú vô cùng: nào sông núi, nào ao đầm, nào vườn tược,đồng bằng, đầm phá. Tất cả được hội tụ lại khá hoàn chỉnh, dù chochung quanh Huế và phụ cận toàn là núi non trùng điệp. Thiênnhiên đã không phụ lòng Huế. Thành thử, những kiến trúc, dựng tạo của Huế không thể nào tách rời khỏi vùng thiên nhiên bao quanh,cũng như thiên nhiên nầy cũng cần đến kiến trúc ở Huế. Lăng tẩmphía nam sông Hương và đền đài phía bắc sông Hương, rõ ràng lànhững người bạn trung thành, keo sơn, thân thiết với thiên nhiêncủa vùng đất Huế lãng mạn và hùng tráng. Một chi tiết nhỏ: Khi vạch tuyến đường quốc lộ số 1 ngang qua xứHuế, những nhà thiết kế cầu đường cũng đã thận trọng lắm, và cảm thông được thiên nhiên nầy cho nênchuyển hệ từ cầu Bạch Hổ xuống kinh thành, rồi qua cầu TrườngTiền, đi về An Cựu. Họ không nở cắt xén, chia lià mảng kiến trúccủa 7 lăng tẩm trang nghiêm nầy. Phải là "tâm hồn Huế" mới cóđược cảm nghĩ, ưu tư đến mức độ nầy. Với Huế, rõ ràng kiến trúc và thiên nhiên thì quả là một hoà hợp phu thê,không thể tách lìa. Danh từ "thành phố vườn", "kinh tế vườn","nhà vườn", "chùa vườn" cũng nằm trong tư duy đó. Cả hai không thể xa nhau và sẽ sừng sỏ khi"Ai làm cho đó xa đây; Cho chim chèo bẻo xa cây măng vòi".Có được cái "tâm Huế", mới hiểu được "Vườn ai mướt quá xanh như ngọc"như Hàn thi sĩ.Khí hậu Huế khắc nghiệt. Mùa đông thì bão tố, lụt lội hãi hùng,mùa hè thì những cơn gió Lào cắt xéo da thịt. Những nhà kiến trúc củathành phố Huế cũng phải ưu tư để chịu các thử thách đó. Cungđiện, đền đài, miếu vũ, xóm dưới, làng trên phải hoà hợp với quangcảnh thiên nhiên và khí hậu đó, và toàn thể đã bố cục thành mộtcảnh trí đồng nhất đầy chất thơ, chất nhạc.

Sông Hương núi Ngự

Nói Huế, không thể không nói đến sông Hương. Đây là một vốn quý trời ban.Đúng hơn là người tạo dựng kinh đô Phú Xuân đã nghĩ ngay đếnviệc nép mình bên sông Hương để lưu lại kỳ công cho đời sau.Khi đoạn con sông còn mang tên là A Pàng của vùng đất dân tộc Cà Tu,phải trải qua trên 50 ngọn thác lớn nhỏ, rồi từ đó sẽ phân dòngtả hữu trạch nguyên, trước khi được hoà hợp trở lại. "Từ ngã ba Tuần, con sông đã quay sang hướng nam bắc, quađiện Hòn Chén, thì vấp phải núi Ngọc Trản, nên đành chuyển hướng sangTây bắc, vòng qua thềm đất của bãi Nguyệt Biều, Lương Quán, rồiđột ngột vẽ một vòng cung thật tròn về phía đông bắc, ôm lấy chânđồi Thiên Mụ, xuôi dần về Huế". Nếu thượng nguồn của sông phải qua nhiều triền dốc hiễm trở, tháchđố, thì khi đã qua ngã ba Tuần để đổ về kinh thành, thì dòng sôngtrở nên hiền lành. Hiếm có một hệ thống sông ngòi bao quanh thànhphố như Huế. Sông thiên nhiên và sông đào. Bao quanh Hoàng thànhtoàn là sông. Quanh lăng tẩm cũng toàn là sông. Ngay từ khi vừara khỏi vùng núi non, thì con sông Hương đã chuyển mình, trăn trởliên tục; khi thì vòng qua những khúc quanh đột ngột, khi thìphải uốn mình theo những đường cong thật mềm "như lưng thon củaem", rồi phải qua những tìm kiếm cheo leo trước khi đi vào thànhphố. Màu sắc cũng thế. Từ Ngã Ba Tuần trở về Kim Long, dư vang củaTrường Sơn vẫn còn vươn lại; đến vùng xoáy sâu dưới chân núi NgọcTrản thì trở nên xanh thẳm. Rồi từ đó, sông lại dựa mình vào haidãy đồi đứng sửng lên như thành quách, với những điểm cao độkhởi như Vọng Cảnh, Tam Thai, Lựu Bảo màu vàng nhạt nhoà. Qua khỏi đây, con sôngtrải dài, mềm như tấm lụa. Những con thuyền xuôi ngược dòng sôngnhiều thêm ra thành màu hoàng thổ. Đến đây thì những khu đồi tránh xa hơn, vài nét phản chiếuđể dòng sông chuyển nhiều màu "Sớm xanh, trưa vàng, chiều tím".Phải. Màu tím Huế. Màu tím của Đồng Khánh. Và trước hết là màu tím của sông.Cố họa sĩ Phạm Đăng Trí khi xác lập hệ ngũ sắc dân gian riêng củaHuế, đã nhận định là màu tím Huế là trung gian của năm màu đỏ,vàng, tím, lục, xanh.Sông Hương đã tạo cho Huế những điểm xuyết thần kỳ. Biết baonhiêu kiến trúc tuyệt vời kiến tạo hai bên bờ sông nầy, mà mỗi vịtrí đều mang sắc thái khác nhau. Sông Hương và những sông đào trởthành một hệ thống chống giữ Hoàng thành, cũng là tiện dung chogiao thông thủy lợi. Sông Hương cũng là điểm hẹn của bao nhiêu thi nhân mặc khách đã một lần đến Huế hay trụ chân tại Huế. Đếnrồi đi, nhưng con sông thì vẫn thản nhiên ở đó. Phía tây nam cónhững núi Ngự Bình, Tam Thai, Kim Phụng, mà từ trong những địadanh và cảnh quan, đã là thể tài sinh động. Những núi nầy đã trởthành môi giới đất và trời gần gủi lại bên nhau, xoắn lấy nhaunhư nhà thơ Tùng Thiện Vương từng nghĩ đến "Giới quang hoà hợp, hai phươngđất trời". Tuyệt vời nhất thì vẫn là lăng tẩm bên nầy và đền đài bên kia củadòng Hương. Mẫu mực kiến trúc tùy thuộc tư duy của mỗi đời vua. Thuật phong thủy gắn liền trong kiến trúc, cũng đã tạo thêm tảlong, hữu hổ và tiền án, hậu chẩm khớp lại với nhau. Sự hoà đồngkhăng khít giữa mỹ học và thiên nhiên đã khéo tạo nên bức tranhtoàn cảnh sâu sắc lạ thường. Hiểu Huế và san sẻ với Huế, mới dễcảm nhận. Bao nhiêu chuyện bể dâu, Huế vẫn không đổi. "Huế rấtHuế" để con người đi sâu vào lòng thiên nhiên. Chỉ có chiều sâucủa cảnh vật mới thật là Huế. Bên ngoài vẫn thế. Chàng trung niêntú sĩ Bùi Giáng đã viết ngộ nghĩnh "Dạ thưa, xứ Huế bây giờ. Vẫncòn núi Ngự bên bờ Hương Giang". Thế núi, thế đất của vùng Thừa Thiên Huế có những nét đặc thù:đây là vùng eo thắt hẹp nhất của đất nước, chịu nhiều chia cắtkhốc liệt của sông suối, núi đồi, nhưng rồi bên cạnh đó, vềphương diện lịch sử cũng có những nhát cắt ghê gớm không kém. Tựtrên bản thân của chia cắt, con người đã tạo dựng lên những thànhtích diệu kỳ; bao nhiêu chuyện hợp, tan, tụ, tán, tiếp xúc, đềkháng, tập hợp, giao lưu, để rồi phản ứng mạnh mẽ lại những tácđộng của sức du nhập.Từ những trăn trở của dòng sinh mệnh dântộc, đã vươn lên khả năng tranh đấu quyết liệt, sống còn, "tìmsống trong cái chết" như tiến sĩ Dương Văn An phác họa rõ néttrong Ô Châu Cận Lục (1555).

Giao lưu văn hoá

Hãy soi lại hình bóng cũ. Những lớp người di dân đầu tiên (vàođầu thế kỷ thứ XIV), đã vào chiếm lĩnh Châu Hoá (di tích còn sót tại làng Thành Trung) đềuphát xuất từ hai vùng Nghệ Tĩnh; qua đến đợt thứ nhì (cuối thế kỷthứ XVI), theo chân chúa Nguyễn Hoàng, rạch đôi sơn hà "Hoành Sơnnhất đái, vạn đại dung thân" thì đa số là dân Thanh Hoá. ThanhNghệ Tĩnh là đất Việt cố cựu, kể từ khi dựng nước. Thành thử, người dân di cư vào vẫn có bảo trì nghiêm nhặt vốn văn hoá cũ,tức là "nền văn hoá Mường". Họ mang theo vào, dùng làm bàn dựavững chắc trên vùng đất mới. Từ đó lưu giữ trong cộng đồng củangười dân Huế cho đến ngày nay. Thành ra dù là thị dân chăng đinữa, thì dân Huế vẫn giữ nhiều tập quán xưa. Người dân Huế do đóvẫn giữ nền văn hoá làng, thiết tha gắn chặt với làng. Cũng trongtinh thần nầy, con dân Huế thích làm vườn hơn là kinh doanh, dùkhả năng kinh doanh của họ không kém. Châu Hoá là dấu vết văn hoá quan trọng. Từ nhiều thế kỷ trước,Châu Hoá vốn là địa bàn giao thoa giữa hai nền văn hoá Chàm vàViệt, trong thế tương giao. Và từ năm 1306, sau khi Huyền TrânCông Chúa đành lòng nhìn "nước non ngàn dặm ra đi" thì người Việtthẳng đà, tiến sâu thêm vào lãnh vực của nền văn hoá Chiêm Thành.Từ ấy, một hình thái đặc thù của tinh thần cộng đồng người Việtvùng Châu Hoá. Họ nhìn về phương Nam, tiếp cận với nền văn hoá của hải đảo namÁ, chính do sự giao thoa Chàm Việt đã tổng hợp được các đặc trưngmới. Đặc trưng đó là "bản sắc Huế".Những gì đã ghi dấu ấn trong bản sắc nầy trong những ngày đầutiên? Phải chăng là một truyền thống văn hoá cũ của Đàng Ngoài, giao thoa có chọnlọc di sản văn hoá Chiêm thành, dấu ấn rõ nét của ngườiIndonésien ở phía Tây? Trong quá trình phát sinh, phát triển vănhoá Đàng Trong, họ đã kế thừa, tiếp thu, thích ứng.

Những chuyển biến văn hoá trên đất Huế

Về danh xưng kinh thành Huế đã có những quan điểmtrái ngược nhau qua những tư liệu lịch sử. Địa danh "Huế" xuất hiệntrong văn bản cổ điển. Lầu đầu tiên là vào cuối thế kỷ XV (1479) đờivua Lê Thánh Tông ghi địa danh nầy trong tác phẩm"Thập Giới Cô Hồn" mang tính chất tôn giáo bình dân. Năm 1653,trong một thiên Bút Ký của mình được ấn hành sau nầy, giám mụcAlexandre De Rhodes đã dùng đến địa danh "Kẻ Huế" để nói về nơiđặt thủ phủ của các chúa Nguyễn ở Đàng Trong sau những cuộc chọnlựa liên tiếp. Qua những dẫn chứng trên cho thấy, danh xưng "Huế" là tên đọctrại ra của chữ "Hóa" trong từ "Thuận Hoá" hay châu Hoá trước đó mà ra.

Phú Xuân trong quá khứ:

Trong giai đoạn trước đó thì Hoá Châu là tên của một "trấn" (haymột "lộ") được thành lập vào cuối nhà Trần, thế kỷ XIV, thuộc đấtđai của hai châu Ô và Lý (Rí) của đất Chăm - Pa (Chiêm Thành) đãđược tích hợp vào quốc gia Đại Việt năm 1306, sau việc Huyền TrânCông Chúa kết hôn với vua nước Chiêm Thành là Chế Mân. Vào đầu thế kỷ XV, trong tác phẩm "Dư Địa Chí" Ức Trai Nguyễn Trãiđã gọi Thuận Hoá là "Phên dậu thứ tư" ở phía Nam của đất nướctrên bước đường Nam tiến. Trong Lam Sơn Thực Lục, Lê Lợi khi xưngvương là xem vùng đất nầy như là "vùng đất lòng dạ của ta". Điạ thế: Năm 1555, Dương Văn An khi nhìn lại vùng đất Thuận Hoá nầy đã ghichép trong Ô Châu Cận Lục có đoạn như sau: "(...) Lộ Thuận Hoá ta, ở về phía cực nam, có phủ Triệu Phong, gồm5 huyện (Đan Điền, Kim Trà, Tư Vinh, Vũ Xương, Hải Lăng), nonsông kỳ tú, ruộng đất mở mang, dân chúng đông đúc; thực là nơi đôhội lớn của một phương, cảnh vật tươi vui, phong vật quý giá..."Khi nói đến cảnh vật thanh tú tại vùng đất nầy, không thể khôngnhắc đến dòng sông Hương. Cũng trong Ô Châu Cận Lục, Dương Văn Anđã bỏ nhiều thời gian để nghiên cứu cảnh quan nầy như sau: (...) Sông Linh Giang do hai nguồn nước từ Kim Trà, Đan Điền đổtới, rộng sâu vô hạn, khuất khúc hữu tình. Vốn là con sông totrong huyện Kim Trà, ngọn nguồn rất xa, dòng dông rất dài, phíađông có chùa Sùng Hoá, bia Hoàng Phúc, phía tây nam có đền Tứ Vị,trạm Địa Linh. Ngôi đền Minh Uy đứng vững ở đầu nguồn, tòa thànhHoá Châu khoá chặt lấy cửa sông, huyện nha phủ thự đều đối nhau ởhai bên tả hữu, còn như xóm hoa nội biếc, đất tốt dân đông, chợnọ làng kia, vật lạ người quí, đều la liệt ở hai bên bờ nambắc...". Trên đây là cảnh quan của vùng đất Thuận Hoá vào thế kỷ thứ XVI,mà thời gian nầy đã trở thành thủ phủ quan trọng của vùng ĐàngTrong.

Vết tích thành Hoá Châu

Đáng chú ý nhất là toà thành Hoá Châu, nằm về hạ lưu củacon sông Hương, gần biển, mà vị thế trở thành nơi dùng để "khoá chặt lấycửa sông". Một thời kỳ Hoá Châu là nơi đô hội, với tất cả khungcảnh sinh sống tấp nập, trên bờ, dưới nước. Cũng trong tác phẩm nổi tiếng của Dương Văn An thì hai cứ điểmquan trọng về phương diện văn hoá lẫn kinh tế của vùng đất ThuậnHoá trong giai đoạn đó thì phải kể đến vùng đất chung quanh chùaThiên Mụ và quanh vùng chợ Bao Vinh; cả hai đều nằm trên bờ sôngHương và đều là tụ điểm phát triển suốt trong hai thế kỷ ròng rãsau đó. Vùng đất Phú Xuân văn vật, sau bao nhiêu chuyến thăm dòcuối cùng cũng được chọn lựa làm đô thị Huế vào giữa thế kỷ thứXVII. Kinh trấn: Đáng nói nhất vào khung cảnh vào năm 1687; khi đó chúa NgãiNguyễn Phúc Trăn, đứng đầu vương triều chúa Nguyễn cát cứ ở ĐàngTrong, đối địch với lực lượng của chúa Trịnh ở miền Bắc, trongkhả năng củng cố và phát triển thế lực của mình, đã quyết địnhviệc xây dựng kinh trấn tại Phú Xuân, như hành động quyết liệt đểtuyên chiến với chúa Trịnh ở Đàng Ngoài, phân chia ranh giới củahai miền. Việc chọn đất để xây "dinh" của chúa Nguyễn là đòn đánhphủ đầu chúa Trịnh sau những lần đã gây áp lực với miền Nam.Những danh xưng trong thời bấy giờ là "Thành Nội" hay là "KinhThành" là để chứng tỏ thế lực đủ để có thể chống lại sức épcủa phương bắc. Nhiều tài liệu của Đàng Trong đã ghi chép về sự kiện nầy, mở màncho một giai đoạn mới, kể từ khi chúa Nguyễn Hoàng vào trấn thủđất Thuận Hoá từ 1558. Chẳng hạn như trong sách Đại Nam NhấtThống Chí đã biên soạn theo chủ đích của chúa Nguyễn như sau: -"Bản Triều, Thái Tổ Gia Dụ Hoàng Đế: Chịu mệnh trời ban cho, gây dựng cơ nghiệp ở Miền Nam, bắt đầuđóng dinh ở Ái Tử, sau dời đất Trà Bát (Ái Tử và Trà Bát đều làhai tên làng, nằm trong địa phận của huyện Đăng Xương, thời đógọi tên là Dinh Cát) Hi Tông Hiếu Văn Hoàng Đế, lại từ Dinh Cátdời về Phước Yên (tên xã thuộc huyện Quảng Điền). Thần Tông HiếuChiêu Hoàng Đế nhận thấy Kim Long (tên xã, thuộc huyện Hương Trà)là nơi hình thế đẹp, lại dời dinh đến đấy. Anh Tông Hiếu NghĩaHoàng Đế lại dời dinh đến Phú Xuân (tên xã, thuộc huyện HươngTrà) gọi là Chính Dinh. Thế Tông Hiếu Vũ Hoàng Đế mới gọi là ĐôThành...". Trên đây là quá trình chọn lựa những nơi dùng làm dinh trấn củanhững chúa Nguyễn ban đầu trong việc lập đô để xây dựng cơ sởĐàng Trong. Như vậy, việc hình thành đô thị Huế là cả một sự dò dẩm, tínhtoán qua nhiều vị trí khác nhau, trước khi đưa đến một chọn lựadứt khoát, thích nghi với địa lý, giao thông, kinh tế, xã hội vàquản trị. Thời gian khoảng 100 năm đủ cho việc xê dịch kinh đôrời xa ranh giới của hai miền để tiến dần vào đất Phú Xuân. Nhữngnơi tạm đóng như Ái Tử, Trà Bát thì quá gần nơi tranh chấp haibên; những địa điểm sau như Phú Yên, Bát Vọng, Kim Long, Phú Xuânthì nằm trong địa phận của tỉnh Thừa Thiên, qua những huyện QuảngĐiền, Hương Trà. Một dãy đất chạy dài từ chùa Thiên Mụ cho đếnBao Vinh được thiếp lập những cơ sở hành chánh, kinh tế, xã hội,tôn giáo, đủ để có thể thiết lập kinh đô chính thức.

Thành cũ: Trong Đại Nam Nhất Thống Chí, ấn hành vào thế kỷ thứ XIX, các sứthần triều Nguyễn đã có những dòng hồi cố về việc xây dựng đấtPhú Xuân làm kinh đô, sau nhiều chọn lựa, tìm kiếm để đi đến kếtluận dứt khoát như sau: "(...) Thành cũ Phú Xuân ở góc đông nam trong kinh thành Huế bâygiờ (tức thế kỷ thứ XIX). Đến đời Anh Tông Hiếu Nghĩa Hoàng Đế,năm Đinh Mão (1687) bắt đầu dựng Phủ Chúa mới ở đấy. Lấy núi ởtrước mặt làm tiền án, tức núi Ngự Bình bây giờ (thế kỷ XIX); đắptường chung quanh, xây cung thành, trước mặt đào hồ lớn, vị thếto đẹp. Lại thấy rằng ở thượng lưu sông chảy xoáy vào phía hữu,bèn dựng cây tháp ở bờ sông để trấn (tức là tháp của chùa ThiênMụ). Thế Tông Hiếu Vũ Hoàng Đế, năm Giáp Tuất (1754) mới xây dựngđô ấp, gọi là Đô Thành (...)" Phú Xuân: Yếu tố địa lý ứng dụng trong việc chọn kinh đô vẫn là điều quantâm hàng đầu của các chúa Nguyễn, mà sau nầy những lăng tẩm vuanhà Nguyễn cũng không bao giờ xao nhãng được. Năm 1776, Lê Quý Đôn đã đến nghiên cứu vùng đất kinh thành PhúXuân và trong Phủ Biên Tạp Lục của ông đã đưa ra những nhận địnhnhư sau: (...) Đất Phú Xuân, huyện Hương Trà, xưa là xã Thụy Lôi. ChúaNguyễn Phúc Trăn (1687 - 1691) xưng là Hoàng Quốc Công, bắt đầuđăt dinh trấn ở đấy. Đất rộng bằng phẳng như bàn tay, độ hơn 10dặm. Ở trong là chính dinh, đất cao, bốn bề đều thấp, tức là chỗnổi bật giữa đất bằng. Ngôi vị "càn" (tây bắc), trông hướng "tốn"(đông nam) dựa ngang sông đất, trông xuống bến sông, đằng trướclà quần sơn chảy về la liệt, dồn nước ở bên hữu, vật lựcthịnh giàu. Từ năm Đinh Mão (1687) đến nay (1776) chỉ có 90 nămmà đã có ở trên thì các phủ thờ tại Kim Long, ở giữa thì cung phủhành lang; ở dưới thì nhà cửa tại Phủ Ao". Xem như vậy tốc độ xây dựng dinh phủ trong thời kỳ nầy, tuy trongmột vị trí hạn định và trong thời chiến tranh, cũng đã hoàn thànhđược cơ ngơi khác đầy đủ. Nhiều tài liệu khác cũng đề cập đến kinh thành nầy trong quá khứ;chẳng hạn như trong sách Đại Nam Thực Lục (Chính Biên) còn nhấnmạnh đến như chi tiết như sau: (...) Sau khi ra đời đô thị Phú Xuân ở Huế vào mùa thu, thángbảy, năm 1677, thì đến đầu thế kỷ XVIII, các địa điểm đặt "dinh",đặt "phủ" của chúa Nguyễn có xoe xuê thêm. Chẳng hạn như con củachúa Nguyễn Phúc Trăn, tức chúa Ngãi (1687 - 1616) người đầutiên "dời phủ mới (từ Kim Long) sang Phú Xuân" là Nguyễn PhúcChu, thì vào năm 1712, đã bỏ phủ cũ của cha, mà dựng phủ mới ở làngBát Vọng; để đến năm 1738, chúa Nguyễn Phúc Khoát là cháu nội củachúa Nguyễn Phúc Chu lại mới trở về lại Phú Xuân; nhưng lại choxây ở bên trái toà phủ cũ của cụ cố (Phúc Trăn) một dinh cơ mới,còn tráng lệ hơn (...). Những công phu của chúa Nguyễn ở Đàng Trong công phu đến như thế,nhưng rồi đến năm 1775, tức là gần 90 xây tại Phú Xuân, đã rơivào tay của chúa Trịnh từ Đàng Ngoài vào. Năm đó, chúa Trịnh saukhi đã thấu hiểu được tình hình khá nhiễu nhương tại Đàng Trong,đã đưa lực lượng lớn, tấn công thẳng chúa Nguyễn và đã chiếmđược đất Phú Xuân. Thời chúa Trịnh: Trong hoàn cảnh xúc bức nầy, chúa Nguyễn đã phải bỏ chạy sâu vàolãnh địa của vùng Đàng Trong. Từ năm 1776 cho đến 1786, tức làtrong vòng 10 năm, đất Phú Xuân đã trở thành một phần trong "xứ"Thuận Hoá của chúa Trịnh. Để cai quản vùng đất nầy ở mặt Nam,chuá Trịnh đã đặt ra chức "Trấn thủ" để tổ chức quản trị và bìnhđịnh. Bên cạnh lại có quan Hiệp Trấn trong những năm đầu để cóthể ổn định tình thế. Người giữ chức vụ đó không ai khác hơn lànhà học giả Lê Quý Đôn. Trong hoàn cảnh đó, ông ta đã khoác áomột sử gia để tả lại những diễn biến và sự kiện trong Phủ BiênTạp Lục lưu lại cho đời sau. Giá trị của tác phẩm là cố tránhnhững nhận định phiến diện của con người làm quan triều chúaTrịnh để cực tả đất Phú Xuân như hình ảnh thu thập được. Thời Tây Sơn:Nhưng rồi thời gian nầy cũng không lâu. Tháng tư năm 1786, anh emTây Sơn nổi lên, đem quân ra miền Trung để nhanh chóng chiếm lấyđất Phú Xuân, tiêu diệt được lực lượng trú đóng của chúa Trịnh.Thế là vùng đất nầy lại thay đổi chủ lần thứ ba. Theo tài liệu của Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí được viết vàichục năm sau đó, Phan Huy Chú đã ghi lại "Tây Sơn chiếm Phú Xuântrên một vùng đất cảnh cũ điêu tàn, chọn nơi nầy làm kinh đô, vàtạm dựng lên những cung điện". Việc xây dựng tạm thời của quânTây Sơn chỉ để giải quyết những nhu cầu về quân sự, vì miền bắccũng như miền Nam đều có lực lượng chống chọi của chúa Trịnh (vàotay quân nhà Thanh) và chúa Nguyễn. "Tây Sơn cho đắp một toà thành cao 6,5 mét, đúcnhiều khẩu đại bác đặt trên đó". Củng cố vùng nầy trong hai năm (1786 - 1788) thì Nguyễn Huệ đã tổchức "Lễ Đăng Quang" của mình, đồng thời cũng là lễ xuất quân điđánh giặc Thanh. Để trương uy thế của mình, Nguyễn Huệ cho tổchức "trọng thể, tưng bừng trong nhiều ngày" tại Phú Xuân, tại đànNam Giao (ở ngọn núi Bân, bên bờ Nam của con sông Hương). Dấu vết của toà thành nầy ngày nay có thể tìm thấy được trên giảiđất thuộc phường Thuận Thành và một phần của phường Phú Hoà, cáchnội thành của kinh thành Huế bây giờ. Một số nhà biên khảo đã ước tính rằng: thành Phú Xuân của thờiTây Sơn vào cuối thế kỷ thứ XVIII, có lẻ nằm trong khu vực đườngMai Thúc Loan - Đoàn Thị Điểm - Ông Ích Khiêm của kinh thành Huếngày nay. Nhưng rồi tình thế cũng đã thay đổi sau đó 4 năm. Ngay sau cáichết đột ngột của Quang Trung Nguyễn Huệ tại kinh thành Phú Xuânvào mùa thu năm 1792, thì triều đại Tây Sơn đã suy giảm để rồiyếu dần, dù đã chiến thắng được quân nhà Thanh. Phú Xuân đã khôngcó cơ hội để phát triển gì thêm trong giai đoạn Tây Sơn chiếmvùng nầy. Thời Nguyễn: Năm 1802, Nguyễn Ánh đã bình định được toàn thể đất nước, lênngôi Hoàng đế tức là vua Gia Long, để lập triều Nguyễn (1802 -1945). Sau khi trải qua những khó khăn gian khổ trong cuộc chiếnchống Tây Sơn và chuá Trịnh, Gia Long quyết xây dựng tại vùng đấtPhú Xuân một kinh đô mới, to lớn cho triều đại của mình. Về mục đích phát triển vùng đất nầy, trong Đại Nam Thực Lục đã ghi lạinhư sau: "Ở Phú Xuân, nhân sĩ đông đúc, phong tục thuần lương,cách Thánh (chúa Nguyễn) từng đóng đô ở đấy, thực là nơi đô hộivào bậc nhất của nước Nam". Nhiều tác giả từng nêu nghi vấn: Tại sao không chọn đất Gia Địnhtừng là kinh thành trước của chúa Nguyễn, cũng như không chọnđất Thăng Long (Hà Nội) làm kinh đô như các triều Lý, Trần, Hồ,hậu Lê từ trước? Để trả lời nghi vấn nầy, trong Đại Nam NhấtThống Chí đã trình bày như sau: "Kinh sư (Phú Xuân) là nơi miềnnúi, miền biển đều họp về, đứng giữa miền Nam và giữa miền Bắc,đất đai cao ráo, non sông phẳng lặng. Đường thủy thì có cửa ThuậnAn, cửa Tư Hiền sâu hiểm, đường bộ thì có núi Hoành Sơn, núi caogiữa phía sau. Rồng chầu, hổ phục, hình thế vững chãi, ấy là dotrời đất sắp đặt. Thật là thượng đô của nhà vua". Đây cũng là một cách lý giải, nhưng nhiều tác giả đã không mấyđồng ý. Huy động xây cất:Vùng đất được chọn làm "thượng đô" như đã nói, phải trải qua suốt3 thập kỷ đầu thế kỷ XIX, triều nhà Nguyễn cũng đã phải huy độngtừ 30,000 cho đến 80,000 dân phu thợ thầy thường trực để kiến tạolên, kèm theo những vật lực huy động khắp nhiều miền trong nước:Nghệ An thì nộp gỗ lim, Gia Định nộp gỗ ván, Thanh Hoá nộp đálát, Quảng Nam nộp gạch ngói.. Ngoài ra, lại còn tháo nhiều công trình kiến trúc tại kinh thành Thăng Long trước đó, chuyển nhữngnguyên vật liệu đưa vào để xây dựng kinh thành Huế, để trơ lại"Ngõ cũ lâu đài bóng tịch dương".Từ năm 1805 cho đến cuối thế kỷ thứ XIX tức là lúc lọt vào taycủa quân xâm lược Pháp, kinh thành Huế đã không ngừng xây cất, mởmang, điểm xuyết, tôn tạo, để được trở thành một đô thị trung tâmcho cả nước. Huế được ca ngợi như "một bài thơ đô thị tuyệt tác"cũng được xem là "thành phố của sự hài hoà trọn vẹn" cũng đượcxây dựng liên tục trong giai đoạn nầy. k- Việc xây dựng kinh đô Huế Lịch sử xây dựng vùng kinh đô nầy đã phải trải qua nhiều giaiđoạn, từ một ngôi làng cổ trên miền đất Thuận Hoá, mà danh xưngđược đọc trại ra để thành "Huế", cái tên càng về sau lại càng phổbiến, thì đất Phú Xuân đã trở thành mô thức đô thị xứng đáng củamấy triều đại, mà quan trọng nhất thì vẫn dưới đời nhà Nguyễn.Với những giá trị đó, cung cách xây dựng toàn bộ, kinh thành Huếthuộc vào loại đô thị tiêu biểu của triều đại phong kiến trướcđây mà vết tích còn lưu lại khá nhiều cho đến ngày hôm nay, dùchiến tranh và con người đã tàn phá khá nhiều.

Quy hoạch: Trong thời gian chọn đất vùng Phú Xuân làm kinh đô, vùng đất Huếvẫn nằm trong sự thiết chế của xã hội nông thôn Việt Nam ngàytrước. Theo tài liệu được ghi trong Phủ Biên Tạp Lục (1776) củaLê Quý Đôn, thì đất Phú Xuân hình thành trong phạm vi của mộttổng; tổng nầy bao gồm ba xã và một giáp, tức là các xã Phú Xuân,Thế Lại Thượng và Thế Lại Hạ; cùng với giáp Vạn Xuân.Khi những vùng trong những ngôi làng nầy cần phải được chuyển raphía ngoài hay đến vùng đất khác,triều Nguyễn cũng đã tổ chức những đền bù xứng đáng cho dân xã ấpnói trên. Đáng kể nhất là vùng làng cổ Phú Xuân; ngay sau khi đã được quyhoạch để xây dựng kinh thành trong tổng thể, thì xã nầy đã đượcnằm lọt ngay trong diện tích chính của kinh thành.Theo Đại Nam Nhất Thống Chí trình bày những chi tiết trong thờikỳ xây dựng nầy đã cho biết: Ở phía bắc Tiên Nộn nằm trongkinh thành Huế, khi trước dân trong xã Phú Xuân lập đình để thờLinh Thần trong xã, đình nầy lọt vào trong thành. Vết tích củađình làng nầy hiện nay vẫn còn lại, nằm trên đường Thái Phiên,phường Tây Lộc, nội thành Huế. Khu ngoại thành: Khảo sát những di tích cổ chung quanh ngôi đình nầy, ngày nay vẫncòn lưu lại nhiều dấu tích xây dựng. Miếu Hội Đồng, hồ vuông củaông Thượng Tiên Chỉ làng Phú Xuân (tức là ông Nguyễn Thanh) nằm ởphía đông bắc, đàn Âm Hồn ở phía tây, đất ruộng của làng PhúXuân thì ở phía tây nam (bên trái con đường ra cửa Chánh Tây)... Những làng xã còn nằm trong kinh thành mà không còn phải dời đi đểxây dựng, thì vẫn được tổ chức theo xã và tổng.Theo tài liệu trong Phủ Biên Tạp Lục của Lê Quý Đôn thì vùng VĩDã (xưa là Vi Dạ mà người dân địa phương lại đọc ra là Vĩ Dạ), vừa là tổng nhưng cũng là xã; tổng Vĩ Dã thờitrước gồm có 10 xã, trong số đó, ngoài xã Vĩ Dã là vùng tụ cưquan trọng của thị dân Huế, thì Dương Xuân cũng là xã nổi tiếngtrong nghề đúc, xã An Cựu nằm về phía Nam, nơi có bến bãi thuyềnbè tụ họp trong thời đó. Trong khu vực nầy, một số vùng làng xã cũng đã được biến dạng dần,theo quy cách xây dựng đồng thời cũng là cũng có nhiều nha phủquan trọng. Kiến trúc:Đại Nam Nhất Thống Chí đã nêu lên một số công trình kiến trúcvào thế kỷ XVIII như sau: Vào đời Thế Tông Hiếu Vũ Hoàng Đế (Nguyễn Phúc Khoát) năm GiápTuất thứ 16 (1754) mới xây dựng đô ấp thị gọi là đô thành; đãdựng lên điện Kim Hoa, điện Quang Hoa, gác Dao Trì, gác ThiệuDương, nhà Trung Hoà, nhà Di Nhiên, nhà Xướng Xuân, đình ThụyVân, hiên Đồng Lạc, am Nội Viên, đình Giáng Hương... Về phía thượng lưu của con sông Hương (Linh Giang thời đó) lạidựng lên phủ Dương Xuân, điện Trường Lạc, hiện Giáng Hương. Ở hậu uyển, thì có những giả sơn, ao vuông, những hồ bao quanhphi kiều thủy tạ, trong ngoài được xây hai lần tường bao quanh,đắp các hình long, lân, quy, phụng, cỏ hoa; gác Triêu Dương thìhướng ra phía sông. Bố cục toàn bộ rộng rãi..."Theo những tài liệu được ghi trong Phủ Biên Tạp Lục về những kiếntrúc trong thời kỳ nầy như sau: Mái lầu được trang trí nguy nga, đài các đều rực rỡ; nhà Giải Võthì tường bao bọc chung quanh, cửa xây bốn bề, những nét chạm khắcvẽ vời, nêu được những vẻ đẹp cùng cực. Các ngôi nhà đều được látbằng đá, trên có lát ván kiền kiền. Những máng xối đều được làmbằng kẽm để hứng nước mưa. Khắp nơi trong vườn đều trồng xen câycối: những loại vả, loại mít đều to mấy ôm; khu vườn sau có giảsơn, đá quý, ao vuông, hồ quanh, cầu vòng, thủy tạ... Xem như vậy thì những đình viện nầy đã được tổ chức đủ trong việcsinh hoạt, thờ phụng, tổ chức hành chánh, nhất là cung điện chovua chuá thời đó.Nhìn chung lại thì phương thức quy hoạch của kinh thành Huế baogiờ cũng có trọng điểm, thứ điểm; trung tâm là khu vực chínhdinh, ở bờ bắc sông Hương trong vùng đất Phú Xuân cũ, nhữngđường kéo giăng ngang dọc, dựa theo triều của con sông Hương;đây là những công trình "Thành giới thị dân" hàng đầu của kinhthành. Lê Quý Đôn đi sâu vào những chi tiết trong cấu trúc kinh thànhnhư sau: "Ở vùng thượng lưu và hạ lưu của chính dinh đều là nhà quân, đượcxây dựng bày hàng trông như bàn cờ. Những nhà cửa của khu Thủyquân được xây tại vùng đối ngạn. Xưởng thuyền và kho lương thựcthì ở hai xã Hà Khê và Thọ Khang, trên vùng thượng lưu. Còn nhàvườn của các công hầu, quyền quý, thì chia bày ở hai bờ phíathượng lưu của sông Phú Xuân (tức sông Hương) cùng hai bờ sôngcon, bên hữu của Phủ Cam...". Cư dân: Ngoài ra, khu dân cư và khu buôn bán của kinh thành nầy cũngđược tổ chức vào từ thế kỷ thứ XIX dưới triều nhà Nguyễn, nằm vềphía trước của khu chính dinh, nằm hai bên bờ sông Hương.Lê Quý Đôn viết:"Phiá trước của khu chính dinh, ở hai vùng thượng lưu và hạ lưu,thì những chợ búa nối liền với nhau san sát, đường cái ở giữa,nhà cửa đều được chia khoảng, liên tiếp nhau, tất cả đều được lợpbằng ngói. Trên sông, thuyền bè đi lại, dọc ngang, trông như mắc cửi..."Khi kinh thành được xây dựng vào đời những vua nhà Nguyễn, kể từvua Gia Long cho đến vua Tự Đức, thời kỳ toàn thịnh, thì đô thịHuế cũng đã được mở rộng thêm rất nhiều; nhiều khu vực cũng đãđược nâng cấp thêm lên nhiều; tuy nhiên, vẫn giữ được toàn đồquy hoạch đã có từ trước. Đại Nam Thực Lục viết: Trung tâm của đô thị Huế là toà kinh thành, khởi sự những chươngtrình xây cất quy mô ngày từ những năm đầu của vua Gia Long. Vàotháng 3 năm Gia Long thứ ba (1804) Hoàng đế đã thân hành đi xemxét các địa điểm, từ làng Kim Long đến làng Thanh Hà, để nớirộng thêm và tái thiết kinh đô Huế. Nhà vua đã hạ lệnh cho quanGiám Thành lúc đó là Nguyễn Văn Yến đi cắm cọc ở bên ngoài kinhđô cũ, để xem định giới hạ của thủ phủ mới của nhà Nguyễn. Trùng tu: Những công trình nầy đã kéo dài suốt ba thập niên, cũng đã bổsung, tôn tạo lại không ngừng, tiếp theo những công trình đã cótừ trước, cuối cùng thì cũng đã có được một toà thành trung tâm,với diện tích toàn thể trên 500 mẫu tây; chu vi gần 10 cây số.Những kiến trúc trong giai đoạn nầy, ngoài cơ ngơi của Phú Xuânra, lại còn có nhiều công trình ở nhiều làng trong địa phận haitổng An Ninh và Phú Xuân (thuộc huyện Hương Trà) tất cả đều mangdấu tích xây dựng theo địa bàn tích hợp chung của toà thành Huế. Theo những giá trị phong thủy được đề ra từ ban đầu thì núi NgựBình trước kinh thành Huế trở thành tiền án của kinh đô; hai hònđảo nhỏ trên sông Hương (Cồn Hến và Dã Viên) trong thế tả ThanhLong, hữu Bạch Hổ, "rồng chầu hổ phục" bảo vệ cho kinh thành nầy. Hoàng Thành: Khu vực bên trong của kinh thành Huế là khu Hoàng Thành và Tử CấmThành (thường được gọi chung là Đại Nội), có diện tích gần hìnhvuông, mỗi bề vào khoảng 600 mét. Đây là trung tâm sinh họat chính trị và hành chánh của vươngtriều nhà Nguyễn, đồng thời cũng là khu vực đảm bảo đời sống củaHoàng Gia. Tính ra tất cả có hơn 100 công trình kiến trúc lớnnhỏ khác nhau ở trong khu vực nầy. Mỗi công trình lại có một chứcnăng riêng biệt, mỗi mô hình kiến trúc theo những điệu tiết kháchẳn nhau, đã tạo nên một tổng thể kiến trúc và điêu khắc đa dạngvà hài hoà, đăng đối. Những bức tường cao quá đầu người ngăn chiahai khi Đại Nội thành những thế giới nhỏ trong từng lãnh vực khácnhau. Đại để là: Nơi cử hành đại lễ triều nghi từ cửa Ngọ Môn đếnđiện Thái Hoà: những ngày lễ Đăng quang, Đại khánh, Đại thọ, Tết Nguyên đán,duyện binh, thiết đại triều (cứ hai lần trong một tháng vào nhữngngày mồng một và ngày rằm). Nơi thờ các vua chúa các chúa Nguyễn vàtriều nhà Nguyễn, Triệu Miếu, Thái Miếu, Hưng Miếu, Thế Miếu, điệnPhụng Tiên... Nơi ăn ở của Hoàng thái hậu (mẹ vua) tại cung Diên Thọ, vớikhoảng 20 công trình kiến trúc và điêu khắc, và của bà Thái HoàngThái Hậu (bà của vua) tại cung Trường Sanh, với khoảng 10 côngtrình kiến trúc nổi tiếng khác. Phủ Nội Vụ gồm có các nhà kho,tàng trữ các vật quý, xưởng chế tạo đồ dùng trong cung điện và bảo đảm các tiện nghi sinh hoạthàng ngày của hoàng gia, do những tay thợ khéo nhất được tuyểnchọn từ nhiều nơi trong nước của làng nghề truyền thống.

Những nguồn tài nguyên Huế

Kinh thành Huế và những vùng phụ cận thuộc tỉnh Thừa Thiên từthời xa xưa đã là một vùng có nhiều tiềm năng kinh tế phong phúđược nhiều sách sử nhắc nhở đến. Có thể liệt kê những sản vật chính như sau: Về thổ sản trong vùng thì có rất nhiều: xứ Huế có thứ trà "thiệt'trước đây sản xuất trong vùng An Cựu, huyện Kim Trà; hồ tiêu sảnxuất tại huyện Kim Trà và Đan Điền, vải bông ở vùng Sa Bôi, ThuậnBình, chiếu có ở Tư Vinh, chiếu mây ở Kim Trà, đồ gốm ở Dũng Cảm,Dũng Quyết, bát đũa sành sứ thì ở Thế Lại, Lại Ân (làng Sình)...về lâm sản Huế thì có ngà voi, nhựa thông, thầm hương, mây... vềhải sản thì có cá và muối, ngon nhất là sản xuất tại xã DiêmTrường huyện Tư Vinh, cá phay ở đầm Thanh Lam; cá lục sản, cámòi, cá chay, cá diêu ở huyện Tư Vinh và Đan Điền, bờ biển củahuyện Tư Vinh có nhiều loại đồi mồi, cá sấu, cua biển, hàu, nghêusò, từ cửa Ròn đến cửa Tư Dung. Về hoa quả, xứ Huế có sen, mai,cúc, tường vi, hoa hoè, hoa nhài, cỏ xương bồ, quế âu, trầu, mechua, dưa hấu, thị, dừa, dâu, cam, quýt, quả trần bì ở huyện KimTrà rất quý, quả thanh trà ở rừng Châu Hoá rất ngon, nổi tiếng cảtoàn quốc. Ngoài ra, còn có những sản vật được xem là quý giánhư lông công, lông trĩ, trầm hương, ngà voi, nhung hươu, nai...cho đến những thứ thông thường nhất như lưới vẹt, lưới quăng, vòbè... Kinh tế vườn: Tuy nhiên, với những sản xuất phong phú đủ dạng thức như thế, vẫnsinh họat trong khung khổ của một nền "kinh tế vườn", phạm vinhò, chủ yếu là để phục vụ cho mức tiêu dùng trong gia đình haytại chỗ, chứ không bao giờ nghĩ đến việc sản xuất quy mô, đạitrà, xuất cảng đến nhiều vùng khác hay ra nước ngoài; số khácthì chỉ hướng về việc cung phụng cho vua chúa, quan lại hưởngthụ. Trong những sinh hoạt thủ công nghệ, tại Huế còn có một số làng xãvà sinh hoạt theo phường: phường làm nghề đệt, nghề gốm lam, nấuđường, rèn sắt, đúc đồng... Nghề nghiệp: Về tổ chức tiểu công nghệ phẩm, Phủ Biên Tạp Lục nêu ví dụ: Phíađông nam của sông Hương, sau Phủ Cam, về địa phận ba xã Sơn Điền,Dương Xuân, Văn Xuân có phường làm nghề dệt hàng tơ lụa nổi tiếngnhất trong vùng "lụa Huế". Mỗi làng sản xuất nầy chia ra làm 3ấp; mỗi ấp có 10 nhà, mỗi nhà có 15 thợ dệt. Tuy được bố trí nhưvậy, nhưng vẫn theo nếp sản xuất nhỏ, cục bộ.Theo những dẫn giải trong "Châu Bản Triều Nguyễn" thì: Vào năm 1631, chúa Sãi Vương đã cho lập Ty Nội Pháp chuyên vềnghề đúc tượng và hai độ Tả Hữu thợ đúc. Ty Nội Pháp Tượng gồm có1 vị thủ hợp, 1 ty quan và 38 người thợ chuyên nghiệp. Còn hai độtả, Hữu Thợ Đúc gồm 12 chính ty quân và 18 người thợ. Tuy nhiên, kết cấu của Phường đúc từ thuở xa xưa ấy chỉ có thểhình dung được phần nào qua một số địa danh và hiện trường. XómTrường Động là cơ xưởng đúc chính của triều đình thời đó; xóm BổnBộ là nơi ăn ở của quan lại trông nom những xưởng đúc; xóm KinhNhơn là chỗ ở của những tay thợ đúc từ những vùng Kinh Bắc,Thăng Long được tuyển đưa vào đây. Ở tại thôn Thượng Bốn, cáchbến đò Phường Đúc khoảng 400 mét, thì Đồn Kho Thuốc, nơi chứanhững loại thuốc nổ để thử súng đạn. Nơi thử súng gần ga xe lửaHuế, ngày nay còn có tên là Trường Súng. Hoạt động kinh tế của vùng Phường Đúc hàng trăm năm tồn tại củanó, chủ yếu nhằm vào việc phục vụ nhu cầu của vương triều, do đóchính quyền chăm lo việc điều hành tại đây. Vì thế, đã có nhiềutay thợ đúc nổi tiếng đã đến làm việc tại đây qua nhiều đời,theo chế độ "công tượng" (lao dịch) của nhà vua ban ra. Vào thế kỷ thứ XIX, trong thời điểm mà đô thị Huế phát triển caonhất, nhiều tay thợ khéo của Phường Đúc đã tạo được "Cửu Đỉnh"và "Cửu Vị Thần Công" đến nay vẫn còn. "Cửu Đỉnh" được đặt tại sân Thế Miếu, cạnh Hiển Lâm Các. Nhữngđỉnh đồng nầy được đúc trong khoảng thời gian 1835 - 1837 triềuvua Minh Mạng (thân đúc xong vào tháng 6 năm 1836, nhưng cáchình chạm trỗ thì phải đợi đến mùa xuân năm 1837 thì mới hoàntất); những chiếc đỉnh nầy đã được chính vua Minh Mạng đứng rachủ trì một lễ khánh thành lớn vào ngày 4 tháng 3 năm 1837, cóban yến đãi tất cho tất cả triều thần văn võ từ tam tứ phẩm trởlên. Chín đỉnh nầy rất lớn, được trang trí rất công phu, có những têngọi ứng với các hoàng đế triều nhà Nguyễn: Cao (Gia Long) Nhân(Minh Mạng) Chương (Thiệu Trị) Anh (Tự Đức) Nghị (Kiến Phúc)Thuần (Đồng Khánh) Tuyên (Khải Định) Còn hai chiếc đỉnh còn lạicó tên là Dũ và Huyền không biết ứng với vua nào thì triều nhàNguyễn cũng đã chấm dứt (1945). Nhưng dù sao thì những đỉnh nầy đều có điều đáng nói; chẳng hạn như chiếc đỉnh mang tên"Huyền" cao đến 1,9 mét, đường kính ở vùng bụng là 1,61 mét cótrọng lượng là 2.047kg. Chiếc đỉnh lớn nhất (Cao) thì cao 2,2mét, đường kính vùng phình ra là 1,65 mét và trọng lượng là 2,755 kg. Còn "Cửu Vị Thần Công" còn lớn hơn thế nữa, và cũng được chế táctrước cả cửu đỉnh. Được đúc vào năm Gia Long thứ 3 (1804); đó là9 khẩu súng thần công, ngoài danh hiệu là "Thần oai vô địchthượng tướng quân" được khắc ngay vào thân súng, lại còn được đặttên là: Kim, Mộc, Thủy, Hoả, Thổ, Xuân, Hạ, Thu, Đông. Trung bình mỗi khẩu súng thần công nầy có chiều dài khoảng 5,1 mét; đườngkính nòng là 230mm, nòng dày khoảng 105mm; phía sau đo vòngquanh được 2,6 mét. Nhẹ nhất trong số những khẩu súng nầy là khẩuHoả, cũng có trọng lượng là 17,2 tấn.Qua bao nhiêu thay đổi những đỉnh đồng và súng thần công nầy vẫn còn.

Những hoạt động thủ công nghiệp

Những hoạt động kinh tế thủ công vùng đô thị cổ Huế xưa đã bịtriều đình sử dụng trong những công việc như thế; nhưng đồng thờinhiều ngành khác cũng đã giành lấy ưu tiên trong việc hưởng thụcác giá trị của hoạt động vườn tược, chài cá... ngành nông lâmngư nghiệp của kinh thành Huế. Sinh hoạt: Một tình hình tương tự như thế cũng đã diễn ra trong lĩnh vựchoạt động thương mải của kinh thành Huế thời trước.Trong Phủ Biên Tạp Lục, Lê Quý Đôn có ghi lại như sau:"Vùng đất Thuận Hoá được bình yên đã lâu, công tư đều dồi dào, đồmăc dùng tươi đẹp. Lại trải qua các thời Nguyễn Phúc Khoát, hàophóng bắt chước nhau làm thành thói quen. Quan viên lớn nhỏ,không ai là không nhà cửa chạm trổ, tường vách gạch đá, the màntrướng đoạn, đồ dùng đồng thau, bàn ghế gỗ đàn gỗ trắc, chén mâmđồ sứ kỳ hoa, yên cương bằng bạc, y phục gấm vóc, chiếu đệm mâyhoa, phú quý phong lưu, đua nhau để khoe đẹp. Những chức sắc hàomục ở dân gian cũng mặc áo đoạn, áo sa, nếu mặc áo vải, áo mộcthì lấy làm hổ thẹn. Binh sĩ đều ngồi chiếu mây, hãm chè hảohạng, uống chén sứ bịt bạc, và nhổ ống nhổ thau, dĩa bát ăn uốngthì không cái gì không phải là hàng Bắc, một bữa cơm ba bát lớn;đàn bà con gái thì đều mặc áo the là và hàng hoa, thêi hoa ở cổtròn. Coi vàng bạc như cát, thóc gạo như bùn, xa xỉ rất mực...". Những điều trên đây ghi lại sinh hoạt sung túc của dân thành phốHuế trong thời quá khứ. Tuy nhiên, trên một phương diện khác, những viên chức cũng đã lợidụng địa vị của mình để tha hồ chuyện phá phách.Cũng trong tài liệu của Lê Quý Đôn đã có những đoạn trình bày vềtình hình nầy như sau: "(...) Các xã huyện Hương Trà, xứ Thuận Hoá và các thôn chợ trêndưới của thành Phú Xuân, trồng cây cao lớn rất nhiều, như cácloại cây xoài, cây sung, đều cao vài mươi sải; quan quân tha hồchặt đốn, lấy ván, lấy củi một năm không hết..." Lê Quý Đôn cũng nói đến những hành động phá phách của binh sĩ họTrịnh khi vào Đàng Trong chiếm kinh thành Huế: "Dinh Phú Xuân của chúa Nguyễn có những ngôi nhà quan và nhà củabinh lính có đến mấy vạn nhà. Từ tháng giêng năm Ất Mùi (1775)lại thêm những quan quân của chúa Trịnh vào đóng đồn; tướng sĩ vàbinh lính theo làm có đến 30,000 người. Họ mặc sức đi lấy củi, lâungày phá giỡ các nhà đó. Dân gian nhân đấy, cũng đã vào lấy trộm khôngtài nào ngăn cản được. Mấy năm trời bị đốt cháy, không những loạigỗ kiền kiền, gỗ sao, cả đến gỗ trắc và gỗ giáng hương, chứa đầymột gian, dùng để làm củi. Mùa xuân năm Bính Thân (1776) mởtrường đúc tiền; những căn nhà còn lại thì lấy để làm củi. Rồilại lập dinh quan Trấn Thủ, lấy phòng ốc dùng trong các cơ độicác lộ quân, dùng mà vẫn còn thừa.(...)"

Tiểu công nghệ

Những tiểu công nghệ phẩm tại đây cũng đã được phát triển từ sớm"Thời Tuyên Đức nhà Đại Minh, đồ đạc tại Thuận Hoá rất tinh xảo. Nhữnglò hương đồng có khắc chữ "Tuyên Đức Niên Chế" đều sáng bóng tươinhuần, không hề có chút cặn. Ở Thuận Hoá, nhiều người chứa đồ đồngcổ làm đồ quý. Đồ sứ bát đĩa chén, bình, có đường hoa nứt rạn.."(Lê Quý Đôn). Như thế tại đây đã có nhiều người chơi đồ cổ ngoạnlàm thú vui, thẻ hiện được nếp sống sung túc, phong phú của dânvùng Thuận Hoá. Trong kiến trúc và điêu khắc Huế, đồ gốm chiến điạvị khá cao. Trong những thời đại trước, kỹ thuật làm đồ gốm đã pháttriển tại nhiều nơi trong nước. Những loại đồ gốm có màu men trắngđục thì được gọi là gốm đàn. Đáng kể nhất là gốm Huế, nhiềuthành công trong ngành nghề lưu truyền từ nhiều đời đến nay. Loạigốm quý tương đối trắng hơn và được tráng một lớp men màu xanh gọilà men ngọc. Một số khác có màu trắng ngà hay màu vàng nhạt hay màuda lươn. Hình dáng cũng đã tạo được những hình đồ khá thanh tú, tỉ mỉ...Kiểu trang trí cũng khá mỹ thuật. Những hình trang trí đều được chạmsâu xuống. Một số được vẽ bằng tranh, nét tinh tế hơn. Những đa sốđều dùng những khuôn hình sẵn, và được chỉnh lại theo những ý tưởngvà nhu cầu mới. Sau đó thì những hình nầy được tô màu trước khi đemtráng men.Ngay từ thời dựng nước, tổ tiên chúng ta đã biết làm những loạiđồ gốm, tuy nhiên vào thời đó, kỹ thuật vẫn còn thô sơ chưa thểsản xuất được loại đồ sứ mịn. Những tác phẩm đẹp trong các đờitrước đã được xác nhận những nghệ nhân Việt Nam làm những loạiđồ sứ mà Trung Hoa thường gọi là thứ "bán đào, bán tư" nghĩa là"nửa sành, nửa sứ" chứ chưa thực hiện được loại sứ "Thấu quang"thuần túy. Thật ra nguyên nhân chính không phải do nước ta thiếunguyên vật liệu trong việc chế tác sành sứ nầy. Theo những nhànghiên cứu tiểu công nghệ nầy thì tại Huế có loại đất caolanh và những chất như thạch anh để làm những đồ sứ tốt. Nhữngtay thợ Huế hồi trước chưa đạt đến mức đó là vì chưa nhiềukinh nghiệm cũng như chưa nắm vững được kỹ thuật. Đến đời Nguyễn,nhất là dưới đời Minh Mạng và Tự Đức, thì đã bắt đầu thấy xuấthiện những loại đồ sứ tốt với hình trang trí bằng một thứ men lammà ta thường gọi là men xanh. Đồ sứ lam cũng là một trong những nét đặc của mỹ thuật xứ Huế từ đờinhà Nguyễn. Vào tháng tám năm 1810, vua Gia Long đã cho xây trên đồiLong Thọ một lò làm đồ gốm và gạch men, để có thể cung ứng cho việcxây dụng trong kinh thành Huế. Lò đúc nầy đã được ba người thợ khéođược mời từ Quảng Châu sang điềuhành mọi việc và hướng dẫn kỹ cho những tay thợ gốm Việt Nam trong một thời gian khá lâu.Những loại đồ sứ còn bảo lưu cho đến ngày nay trong các cung điệnHuế thường là những loại gốm được chế tại Long Thọ hay được đặt mua ở Trung Quốc, đặc biệt là gốm tráng men Giang Tây. Những thể loại đồ gốmnầy gồm có: độc bình, chậu cảnh, bình hoa, chén và bình trà... Trên những loại đồ sứ nầy có ghi tên các triều vuatừ Gia Long trở đi hay có những hàng chữ khắc của cơ quan Nội Vụ. Ngoạn ngọc và mỹ ngọc là hai loại đồ sứđộc đáo trong những loại đồ sứ nầy. Trên những đồ sứ thường khắc hình tứ linh, tứ vật, tứ quý, hình sóng nướchay khắc chữ Phúc, chữ Thọ bằng lối triện, hay những bài thơ nổi tiếng của Việt Nam hay của Trung Quốc.Những loại đĩa Mai Hạc, đĩa Gia Long Tẩu Quốc còn được giữ gìn chođến ngày nay thuộc loại gốm quý và chất liệu tốt. Trên đĩa Sơn Thủy ngoài cảnh đẹp lại còn có cả những bài thơ ngũ ngôn bằng tiếng Nôm. Tươngtruyền là Tùng Thiện Vương và Tuy Lý Vương của nhóm Mạc Vân Thi Xã thường sáng tác thơ, họa thơđược khắc in trên những chiếc đĩa Sơn Thủy nầy. Ngoài đĩa Long Thọ ra, những chén đĩa Bát Tràng, MaoKhê vẫn phát triển mạnh. Những hình vẽ trên những đồ sứ nầy mang bản chất hoàn toàn Việt Nam. Tuy mentráng trên sứ sành không trong và tốt như đồ sứ Giang Tây, nhưng giá trị kỹ thuật cũng không thua kém gì.Đồ sứ nầy có hai loại chữ đề khác nhau. Một loại có đề niên hiệuMinh Mạng hay Tự Đức hay một loại đề chung chung là "Nội Phủ". vềtrang trí vẫn còn có những đề tài mượn theo lốt trang trí của TrungHoa những đã được Việt Nam hoá hay cách điệu hoá phần lớn. Đặc biệtlà sản xuất ra loại ấm tích, chén trà trang trí hình một con sếu đứngmé nước sông hay dưới gốc cây mai với hai vế thơ Nôm:"Nghêu ngao vui thú sơn hà, Mai là bạn cũ, hạc là người quen". Đĩa Mai Hạc thường để tặng cho nhau theo như hai hàng chữ trên, thườngđược khác văn chương tài tử Huế ưa chuộng nhất. Trong những loại đĩa đềchữ "Nội Phủ" thường có khắc hình rồng năm móng, loại nầy rất đẹp nhờcó nước men xanh thẫm mà trước kia chưa làm được. Đây là loại trangtrí được khách trong nước cũng như nước ngoài sưu tầm ưa chuộng nhấttrong tất cả loại sành sứ Huế. Kỹ thuật làm và nghệ thuật trang trí những đồ sứ Huế hoàn toànkhông giống như đồ sành Bát Tràng hay Kim Mã, Ngọc Hà thời trước,chẳng những chất sứ khá trong, mỏng, mịn, mà tinh thần và phongcách trang trí không có gì gần với đồ sành Bát Tràng hay Kim Mã,Ngọc Hà... Những câu thơ chữ Nôm và niên hiệu của các triềuvua trong thời kỳ chế tác trong một số ấm, chén, độc bình... đềuthể hiện được tính dân tộc đậm đà trong những đồ sứ Huế.

Phân loại: Nói chung lại thì về kỹ thuật chế tác những loại đồ gốm phổ thông được phân chia ralàm những loại sau đây: Gốm men ngọc : Gốm men ngọc đã có từ đời nhà Lý, nhưng sau nầy đã được cải tiến thêm. Hình dáng của loạigốm nầy chắc và khoẻ. Bên ngoài có lớp men tráng dày. Kỹ thuật chưa được vững chắc. Hình trang trí theo hailoại sau đây: (a) Khắc: dùng vật nhọn vẽ khi gốm còn mềm (b) In: dùng bằng khuôn được chuẩn bị kỹ lưỡng từtrước và thử nghiệm qua nhiều lần trước khi đem vào khuôn đúc. Gốm hoa nâu: Đây thuộc về kiểu gốm đàn. Dáng còn thô hơn loại gốm men ngọc như đã nói. Chất đất cũngthô sơ hơn loại gốm kể trên. Trang trí loại nầy được áp dụng theo hai lối vừa khắc, vừa vẽ. Đây là loại gốm phổthông nhất được dùng trong đại chúng. Gốm hoa lam: Loại nầy phát triển rất mạnh đời nhà Trần. Những vùng chính: Bát Tràng, Thổ Hà, Phù Lang.Nhiều sứ thần Việt Nam trong những chuyến sang Trung Hoa đã học nghề gốm ở những làng nổi tiếng, sauđó đem về truyền dạy lại cho những nghệ nhân trong ngành. Mỗi vùng chế tạo thể loại khác nhau. Làng BátTràng chế tạo những loại gốm sắc trắng tinh hay trắng đục. Làng Thổ Hà chuyên chế tạo các loại gốm sắc đỏ.Làng Phù Lang chuyên chế tạo loại sứ màu vàng thẩm. Phủ Biên Tạp Lục lại còn ghi: Thuận Hoá có thứ ngọc hạc đìnhgiống như ngà voi mà vàng hơn, có điểm đỏ, chế làm hộp đựng sápthơm và tràng hạt, khi đeo vào, có thể tránh được những loài rắnrết. Thứ ấy do từ những chiếc tàu của người Tây Phương đưa vàobán.... Thuận Hoá lại có thứ ngọc hoàn chiếu, do những thuyềnbuôn của người Hoà Lan đem đến bán... Trong Đại Nam Điển Lệ cũng còn ghi: Những lần hàng hoá của tàunước ngoài mang vào, kể cả những thứ kính soi có hình dáng đàn bàkhoả thân cho vua Minh Mạng...

Giao lưu: Thanh Hà trong thời gian đó là vị trí quan trọng ở đô thị Huếtrong những hoạt động thương mải đường dài. "Những hàng mang đếntường là: sa, đoạn, gấm, vóc, vải, các vị thuốc, kim tuyến, ngântuyến, các loại phẩm, y phục, giày tốt, nhung, kính phalê, quạt giấy, bút mực, kim cúc áo, các thứ bàn ghế, các thứ đènlồng, các thứ đồ dùng, các thứ đồ sành; đồ ăn uống thủ đủ cácloại như là: lá chè, cam, chanh lê, táo, hồng, bánh, miến, bộtmì, trám muối, dầu thái (bắp cải) trứng muối, tương gừng, tươngngọt, đậu phụ, ram kim châm (hoa hiên) mộc nhĩ, nấm hương..."(Theo Phủ Biên Tạp Lục). Trên đây là những hàng tiêu dùng xa xỉ mà vua chuá, quan lại ởThuận Hoá thường dùng đến. Những hàng thực dụng khác thì từ nhiềuđịa phương trong nước mang lại: Gạo tiếp tế cho Phú Xuân thườngtừ đất Đồng Nai, Nam Định, lụa lãnh, trừu đoạn thì từ đất Bắc.Tại phố cảng Thanh Hà thì khách buôn từ Quảng Đông, Quảng Tâymang đến. Những hàng xuất cảng từ trong nước thì có cau, hồ tiêu,cam, quế, trầm hương...




. © Tác giả giữ bản quyền
. Tác phẩm cập nhật ngày 21.05.2012.
. Đăng tải lại xin vui lòng ghi rõ nguồn Newvietart.com ©