Mặt Đá/ Stone Face



























SẮC THÁI
TRỪU TƯỢNG và SIÊU HÌNH
TRONG TƯ TƯỞNG
VĂN HỌC NGHỆ THUẬT


gởi: linh hồn nhà thơ PCT.

Đó là tư duy vượt thoát ra khỏi tư tưởng tồn trử, chất chứa, ẩn tàng trong vùng sâu hoáy của tiềm thức mà bấy lâu nay vốn đã nằm sẳn trong một vị trí của trí tuệ, một âm vang nội tại đứng ngoài khả năng của tri giác và trực giác. Đó là phạm trù thuộc về tư tưởng của văn chương, dù rằng văn chương bác học hay văn chương bình dân đều khơi dậy một suy tư sáng tạo, một cái gì mãnh liệt của tư tưởng, cái đó là tiếng nói vô ngôn của thế giới ngôn ngữ giữa trừu tượng và siêu hình. Gọi là ’phạm trù’ vì hai dạng thức đó hoàn toàn cách biệt và độc lập nhưng nó nằm cùng một khái niệm phổ quát, cùng một hiện tượng siêu lý của ngôn từ để từ đó nảy sinh ra những biến thái cách riêng và biến dị như ẩn dụ; không có nghĩa là đối lập với tư duy. Một tâm thức hoạt động trong trạng thái lãnh hội của trí tuệ mà dữ kiện đó thường hiện diện trong đời sống để đúc kết thành một ngôn từ mới lạ, khác thường không giống những gì đã xẩy ra làm ngưng trệ dòng tri thức con người; để từ đó vượt xa hơn những tồn tại đã làm hư hại nguồn sáng tạo vô biên trong ngôn ngữ văn chương cũng như trong đời sống mà con người đang tiếp giáp một tiến trình ngoại lệ giữa con người và cuộc đời, giữa hữu thể và tha thể tất cả sự lý đó cấu tạo trong một tâm thức tổng hợp để hoàn thành chức năng siêu lý của hiện hữu.

Nói chung những dữ kiện đó được gọi là bản chất: bản chất của hiện tượng, bản chất của tồn lưu, bản chất của tại thể là những gì hướng đến một vũ trụ tâm linh. Cho nên ’bản chất’ hay ’bản thể’ đều ở cùng một qui trình tự tại mà ra, một cái gì chính nó, tự nó (itself), vốn tự hữu nơi nó, một cái gì tiềm ẩn không thể nhìn thấy bằng giác quan hay bằng trực giác mà nó đến bằng cảm nhận, một tri thức trực nhận của tri giác, trực giao và trực cảm mới đồng hóa một tư duy như thế.

Vậy bản chất là gì? - Bản chất trong trừu tượng và siêu hình được gọi chung dưới những từ : ‘substance, essence, ressources, en-soi, entité’ đôi khi còn gọi là như-nhiên ‘nature’. Với ngôn ngữ tiếng Việt thì được gọi là ‘bàn thể, thực thể, thực tướng, chân tướng’ một cái gì thuộc ‘bản lai diện mục’ một đặc tính cá nhân được phơi bày mặt thực của chính nó. Nhưng với cái nhìn của những nhà tư tưởng thì bản chất được hiểu khác nhau qua từng vai trò và hoàn cảnh nhưng độc lập với ý thức con người. Do đó có bản chất mới có hiện tượng, không có hiện tượng thì bản chất không hiển lộ được điều gì của sự vật. K. Marx cho rằng : « bản chất là một tổng hợp, chứa đựng tất cả những bề mặt của sự vật, qui định sự vận động và phát triển của sự vật » Qua những lý luận trên cho ta một cái nhìn về chủ thể tự hữu của bản chất hay bản thể, sự vật là yếu tố xuất hành từ nội tại để thành hình một ngôn từ xuất thế, một diễn trình tồn tại tự hữu ; đó là nền móng sinh ra tư tưởng trừu tượng và siêu hình trong cõi riêng để rồi gia nhập vào ngôn ngữ của văn chương, một thứ văn chương có thể xem là siêu tưởng, không có nghĩa là từ chối sự hiện diện của bản thể, ngược lại nó sẽ tạo một bầu không khí gần gũi và quen thuộc trong mọi giới và dần dà lãnh hội được giá trị đích thực của nó. Người ta tìm hiểu bản chất sự vật dựa vào lý trí suy luận nhưng thực ra vẫn không tiếp thu một cách cụ thể bởi bản chất thật sự của nó là bản chất ‘être en tant qu’être’ cho nên chi mọi sự vật được cấu tạo từ vật chất để rồi đi tìm bản thể cho vấn đề mình muốn nói. Cũng biết thêm rằng bản chất và bản thể đều có vị trí xác định cụ thể ; bản chất không bày tỏ hay hiện rõ, muốn rõ ta phải nhìn qua biểu hiện của sự vật, còn bản thể là cái gì hiện thực nói rõ điều gì, cho nên chi tri giác nhận được sự kiện là nhờ vào tâm thức dù đó là hiện tượng tâm lý hay vật lý. Cái đó là vấn đề của ‘tri thức luận’ hơn là ‘hữu thể học’. Vì thế ; bản chất là cái đang phơi mở một tâm trạng tồn trử qua hiện tượng của dạng thức ngôn từ trên con đường hướng về tư tưởng, tư tưởng đó là Đường Lối (Way/Chemin ; direction) chuyển dịch, con đường trở thành bản chất. Từ đó người ta phân biệt được thế giới siêu nhiên (monde suprasensible) bao gồm những ý tưởng, ý niệm thể hiện qua tâm thức hoặc phát xuất từ ý thức con người để trở thành hiện tượng lạ (phénoménal) đó là thao thức trào vọt để cảm nhận được của hữu thể ( jaillissement de l’être) trong ta và đưa vào con đường tư tưởng của trừu tượng và siêu hình mà điều đó không còn ngần ngại với hiện hữu. Tư tưởng nầy đưa tới cái nhìn khác biệt. Tây phương không giải thích ngọn ngành đâu là bản thể tuyệt đối mà chỉ nhìn vào hiện thể của sự vật để xác định ‘con đường’của mình. Đông phương qui về tâm linh với chủ trương ‘thiên lý tại nhân tâm’ khơi nguồn từ chân lý của ‘VÔ’, vô ở đây là Tâm-Đạo. Vô không có nghĩa là không có gì mà bao hàm một chủ thể là HỮU ; có tất và cũng không-có tất vì Có và Không là một. Ở đó không có cái gì để định danh, định hình hay định thể, cho nên Có cũng là Không và Không cũng là Có. Đó là lý sự gần giống với Sắc Không nhà Phật. Do đó sắc thái của trừu tượng và siêu hình nó nằm trong Vô và Hữu biến đổi bất thường, nó đòi hỏi một tri thức luận để cảm nhận cái ngôn ngữ siêu lý đó, vì rằng ; nó là ‘vô’ nhưng không hẳn là ‘vô’, nó là ‘hữu’ nhưng không hẳn là ‘hữu’. Lão Tử cho đó là ‘hữu vô tương sinh’, cái thứ ngôn ngữ nầy nó có một thái độ dị biệt bởi nó xuất phát từ chỗ không từ đâu đến và không đi về đâu mà phải cảm nhận nó bằng tâm thức, không lý lẽ, không giải thích nó nằm trong cái trục miên viễn, thường hằng, nó là ‘con chữ’ -mot, vocable, avis/word, note of words- tự nó mà ra và rồi trở về tự nó. Một dụng ngữ đặc biệt như một hiện tượng lạ của ngôn từ, không còn thấy màu sắc của trừu tượng hay siêu hình vấn vít vào đó, dù đã có ; nó trở nên như-nhiên và bình thường hóa mà ta thường bắt gặp trên thơ văn, một tri nhận liễu quán của văn chương hiện nay.

Tâm thức đó chính là tri thức đòi hỏi một đối thể bởi nếu không có nó thì tư duy đó xem như bất-khả-thể, kế đến đòi hỏi tri giác tính, nếu không có thì không nhận ra được cái nguyên tính của trừu tượng và siêu hình, và một đòi hỏi khác là khả năng tính tức hiệu lực tính , những đòi hỏi trên nó nằm trong phạm trù triết học, song le ; nó giữ được vai trò chủ thể và khách thể, nếu không thì không thể xác định tính của tri thức hữu thức vì cả hai thứ đó nó xuất xứ từ tâm thức nội tại để thành hình ‘tiếng nói’, cái đó không phải ngẫu nhiên thành văn mà nó thành hình trong tư thế của tâm thức (thường xẩy ra cho những nhà thơ). Cái đó thuộc về ý thức hữu thể tính trong biểu tượng. Cho nên chi biểu lộ tư tưởng của trừu tượng và siêu hình là đặc tính cá thể, cho ta một nhận thức được chiều sâu vô cùng của tiềm thức, chính cái thâm hậu đó sẽ bừng lên và soi rọi một biểu lộ mặc khải, những bí ẩn của tư duy là cần thiết hơn bao giờ để ‘phát ngôn’ trong chức năng của hữu thể tức bản thể tự tại, đó là bản chất như nhiên của khoa vật lý cũng như khoa tâm lý. Nói rộng ra đó là đường về chủ thể hữu ngã. Lối về đó phải vượt qua hai cái nhìn, cái nhìn khách quan và cái nhìn duy tâm để nhận ra được thực thể của bản chất trừu tượng và siêu hình mà điều đó mô tả con người như một chủ thể qua thân xác (corp-suject/body subject) như trường hợp của Gabriel Marcel, Gabriel Madinier nhất là Merleau-Ponty. Muốn đi tới một nhận thức ổn thỏa, Merleau-Ponty thấy cần có một quan niệm mới về ý thức và về thân thể, một ý thức hữu giác (perceptive) tại thể nghĩa là hiện thân nơi thế giới vật chất ; nhờ thế mà chủ thể và khách thể (khách quan) bắt gặp nhau trong trạng thái như-nhiên để sáng tỏ vai trò chủ động của trừu tượng và siêu hình trong tư tưởng. Merleau-Ponty nhận ra được cái uyên nguyên, khởi thủy của sự sống trong xã hội tha nhân là đối tượng của sự vật, chính tha nhân là vai trò chủ thể khách quan, nếu đứng trong lập trường khách quan thì Merleau-Ponty chỉ nhận ra khách thể mà thôi. Nói một cách trừu tượng hơn là ‘hiện hữu cho mình’ (être pour soi) tức chứa đựng trong một cơ cấu tự nó hiện hữu cho người khác tức là tha nhân (être pour-autrui). Vị chi trừu tượng và siêu hình là chủ thể của tư tưởng. Hegel quan niệm tinh thần không phải là một cái gì có tính chất tự ý thức ; vì : «Tôi chỉ hiện hữu cho tôi khi mà tôi hiện hữu cho người khác là vì người khác hiện hữu đối với tôi » (Je ne suis pour moi qu’en étant pour l’autre est pour moi).

Trong tư tưởng trừu tượng và siêu hình có thể là nguồn cơn tự sự du nhập từ ngoại tại để đi thẳng vào nội tại bằng một ý thức sâu lắng (tiềm thức) bởi do từ mọi hiện tượng xẩy ra cấu thành một tri giác hữu thức, tác động trực tiếp vào những yếu tố siêu nhiên, mà chính sự can thiệp vô hình qua những hiện tượng của huyền thoại, thần thoại, biến dịch cuộc đời ; tất cả biến trình đó làm cho con người nghĩ rằng ngoài thế giới hữu hình còn có một thế giới vô hình, luôn luôn là nơi chốn cư ngụ trong tâm thức để rồi tạo nên những ảo giác có ý thức của thế giới siêu nhiên, vô hình chung nó trở nên như nhiên để rồi biến dạng qua hình thái của trừu tượng, trừu tượng nảy sinh và tiềm tàng vào lý giải tri thức luận ; bộc phát thành một thứ ngôn từ siêu thể được thừa nhận như hiện hữu của sự vật.

Về tư tưởng siêu hình (état métaphysique) không biết đến từ đâu, có thể bắt nguồn từ tôn giáo mà ra, nhìn Thượng đế qua lăng kính của hữu thể sang tha thể, nó nằm trong phạm trù của thần linh. Cho nên siêu hình là cái gì nằm ngoài năng lực siêu nhiên của vũ trụ giới, chuyển hóa và biểu hiện thành hiện tượng, để biến thành bản thể, bản chất của tự nó. Mối tư duy nầy không thể biểu đồng tình của hai triết thuyết thuộc tư tưởng duy tâm và duy vật hoặc nó nằm trong vị trí chủ quan và khách quan. Nói chung nó sinh ra từ biểu tượng (chiffer/cypher) một cách thức của hiện hữu tự thể.Từ siêu hình (metaphysics) nó biến thành qui nạp đối tượng (charged objects) dưới hình thức biến dạng hóa thân (metamorphoses), đặc biệt cho nghệ thuật tạc tạo (Phi châu) mà ngày nay được thâm nhập rộng rãi. Đó là cái mốc bước vào thế giới trừu tượng và siêu hình, phát huy vào đó để nhận thức được chân tướng của nó. Chính cái khâu nầy đã đưa thi họa vào con đường siêu lý của hai yêu cầu trên. Hoàn cảnh không gian, thời gian, hoàn cảnh con người và xã hội hòa nhập vào vũ trụ tâm thức để hoàn thành chức năng sáng tạo bằng mọi phương hướng ; không thể đứng lại trong vị trí cố hữu như thế. Người ta bung phá như một đòi hỏi của trí tuệ, đó là nguồn mạch phát sinh tư duy và nói lên bản chất tự tại giữa trừu tượng và siêu hình mà con người phải đạt như kỳ vọng.

Không những trong lãnh vực văn chương tư tưởng của trừu tượng và siêu hình, dòng tư tưởng đó đã chiếm cứ trong một tâm thức phát tiết khác, một phát thảo sôi động hơn, diễn tả cái ‘hùng tráng’ trong nghệ thuật, nghệ thuật tượng hình, điêu khắc, tranh vẽ đều mang một hình thái vượt thoát khỏi tri giác để ý thức một trạng thái siêu nhiên hơn. Cái đó nó ẩn tàng trong vị trí của trừu tượng và không-đối- tượng khách thể nghệ thuật (abstract and nonobjective) cho nên văn chương cũng như nghệ thuật là một thể thức có tác dụng cụ thể hoặc hình ảnh đó không tham gia trực tiếp vào ngoại giới (external) hoặc cảm nhận trung thực từ tri giác (perceived) mà ra. Thời điểm của trừu tượng và không đối tượng khách thể được đề cập đến một cách mãnh liệt của nghệ thuật (hội họa) ở thế kỷ 20. Trừu tượng đưa vào tác phẩm như một hình ảnh đã nói lên sự trừu tượng đó hoặc đó là nền tảng cho nguồn cơn tự phát của hình dáng con người, phong cảnh hoặc đối tượng tĩnh vật nhờ đó mà biến đổi toàn diện trong hai môi trường văn chương và hội họa nghệ thuật.

Siêu hình không có nghĩa là đồng nghĩa hay gần gũi với trừu tượng, như đã nói ở trên , cả hai là dị biệt, đứng cách riêng trong vai trò chủ thể và khách thể. Vậy siêu hình là gì ? –Nó trở thành khoa học tự nhiên (science), có một sự tàng ẩn mà nhận thức ra được vị trí cách riêng của nó, đó là nguyên nhân đưa tới hiện hữu tồn lưu (existence) và tri nhận (knowledge) đó là phạm trù dành cho triết học : thay đổi tình huống, trạng thái tâm linh hoặc hình thức sự vật , thay đổi những ‘tế bào’ làm phương hại cho vấn đề của bản thể từ một phần chủ thể thân xác hay liên quan đến những việc khác trong mọi lãnh vực của chủ thể và khách thể. Nhưng nó cũng chuyên chở được một vài thứ : của thế giới loài người, loài vật một tinh thần siêu hình giữa vũ trụ quan, một sự hiện diện bằng phẳng để tạo nên một nhận thức của hình ảnh sự vật trong một hư cấu có tính hiện thực mà ngay cả Pablo Picasso cho đến Daniel Spoerri đều bắt chụp được giữa hai trạng thái trừu tượng và siêu hình, hội nhập cùng hoàn cảnh của một thứ nghệ thuật siêu lý đó.

Qua bài viết nầy cho ta một cái nhìn chu đáo giữa trừu tượng và siêu hình. Là phạm trù văn chương và nghệ thuật, cả hai bình diện đều có tính đặc thù cách riêng qua mỗi vai trò giữa hữu thức và vô thức, để lại một dấu hiệu của chủ thể và tha thể bao gồm một siêu lý, chứa đựng trong một ngôn từ mà từ lâu nó tồn tại trong một bản chất tự có, một vị trí lắng đọng trong tiềm thức chờ đợi để phát sinh. Do đó ngôn từ đã vượt thoát ra khỏi bầu khí quyển của vũ trụ giới để biến hình vào cõi như nhìên một cách bình thường. Nó hiển lộ cụ thể qua một thứ văn chương như ngầm nói lên sự hiện hữu tự nó. Nhờ đó những giòng văn thơ thoát tục là nói lên cái gì tiềm ẩn bấy lâu nay. Cái đó là vận hành của tri thức , một trạng thái hiện hữu trực tiếp đến với đối tượng tha thể. Đó là điều thôi thúc mãnh liệt hướng đến sự nắm giữ một cơ bản, để biểu lộ của hai trường phái : văn học và nghệ thuật.

Từ đấy ; những gi thuộc về trừu tượng và siêu hình đều quy về biểu tượng học, trong đó có sự dự phần của ‘bản chất/hiện tượng’ đưa đến những phạm trù của triết học như ‘bản thể/hiện hữu’ ‘hữu thể/hiện thể’ ‘tồn lưu/tồn thể’ dù dưới dạng thức nào đi nữa chỉ là hình thức sáng tỏ một nội tại muốn khai phá cho một bản thể tự hữu tuyệt đối. Chính là lúc ta bắt gặp ngôn từ trừu tượng trong thơ văn không còn là chướng ngại của duy lý hay duy tâm, hình thái đó được an vị trong sự cảm nhận trong suốt của ý thức, một tri thức như nhiên không còn xa lạ giữa kỷ nguyên nầy. Điển hình ngày nay ta bắt gặp những ngôn từ như thế, tưởng bế tắc nhưng thật sự nó có cái siêu lý của nó nhất là thơ tứ luôn luôn là tiềm ẩn dù dưới hình thức trừu tượng hay siêu hình để rồi phát tiết ra những ngôn từ như nhiên không còn xa lạ, ngỡ ngàng cho văn chương ngày nay. Với hội họa điều nầy đã phát khởi từ đầu thế kỷ thứ 20 là một đánh dấu lớn lao trong hai vị trí nầy, văn chương trừu tượng và siêu hình vốn đã ngự trị như bản chất tự có của tâm thức và trí năng, nó trở nên hiện tượng bất khả phân hay bất cứ lúc nào, thời nào giữa vũ trụ nhân sinh qua dòng tâm thức của con người mỗi khi lãnh hội và tri nhận, một hội đủ cho giới văn nhân để sáng tạo nét đặc thù cho tác phẩm của mình mà bấy lâu nay bị xích hóa trong một tư duy kiềm tỏa bởi tập quán cố cựu, đóng khung trong tư thế gò đống, ngỗn ngang, làm mất nguồn sáng tạo vô biên, tự hữu của chính nó .



(ca.ab kỵ mẹ và ngày sinh của Rồng 14/3/2012)
______________________________________________

SÁCH ĐỌC :

- Philosophy by Karl Jaspers 1932. New York. NY. USA 1968.
- Introduction to Metaphysics by M. Heidegger. Yale Nota Bene. New Haven & London 2000.
TRANH VẼ Ở TRÊN : Mặt Đá/ Stone Face . Khổ 12’X 16’ trên giấy cứng. Acrylics+ mixed. 2009. vcl


© Tác giả giữ bản quyền.
. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả gởi từ Calgary Canada ngày 05.05.2012.
. Xin vui lòng ghi rõ nguồn Newvietart.com khi trích đăng lại.