LƯU HỮU PHƯỚC VỚI HAI QUỐC CA
VÀ MỘT BÀI HÁT TƯỞNG NIỆM

Thật là một hi hữu trong Lịch sử âm nhạc Việt Nam: nhạc sĩ Lưu Hữu Phước là tác giả của hai bài Quốc ca cùa hai Quốc gia khác nhau.

NHẠC SĨ LƯU HỮU PHƯỚC (1921 – 1989)

Nhạc sĩ, Viện sĩ (Cộng hòa Dân chủ Đức cũ), sinh ngày 12-9-1921 tại Cái Răng, Cần Thơ.

Thuở nhỏ học ở Cần Thơ, Sài Gòn (trường Petrus Ký, nay là Lê Hồng Phong), năm 1940 ra Hà Nội học tại trường Đại học Y Dược. Cách mạng tháng 8 bùng nổ, ông tham gia các công tác xã hội, văn hóa và sáng tác nhiều bài hát ca ngợi tinh thần bất khuất của dân tộc Việt Nam; nhất là khơi dậy tinh thần yêu nước nơi thanh niên, như các bài:

. Bạch Đằng giang

. Hội nghị Diên Hồng

. Ải Chi Lăng

. Lên đàng

. Tiếng gọi Thanh niên ...

Phần lớn nhạc phẩm của ông sống mãi trong nền âm nhạc Việt Nam.

Năm 1945, Lưu Hữu Phước về lại Sài Gòn tham gia tổ chức Thanh niên Tiền Phong, rồi hoạt động trong Mặt trận Việt Minh, cướp chính quyền tại Sài Gòn. Sau ngày Nam Bộ kháng chiến (23-9-1945) ông làm Phó giám đốc công binh xưởng Nam Bộ, Tổng thư ký Ủy ban kháng chiến Nam Bộ, Phó trưởng phòng Bộ Nội vụ. Năm 1946, ông ra Hà Nội làm Giám đốc trường Văn hóa Thiếu nhi, Phó trưởng đoàn Văn công Trung ương…

Từ năm 1959-1964, ông giữ chức: Vụ trưởng Vụ Âm nhạc, Tổng thư ký Hội Nhạc sĩ Việt Nam. Năm 1965, ông vào chiến trường miền Nam, thời gian này ông viết ca khúc “Giải Phóng miền Nam” với bút danh Huỳnh Minh Siêng, rồi giữ chức Bộ trưởng Thông tin-Văn hóa (chính phủ Cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam, 1969-1975).

Sau năm 1975, ông làm Viện trưởng Viện Âm nhạc, năm 1986 ông được Viện Hàn lâm nghệ thuật Cộng hòa Dân chủ Đức tặng Viện sĩ Thông tấn ngành âm nhạc.

Lưu Hữu Phước là một nhạc sĩ đầu đàn của phong trào nhạc hùng ca, sử ca phục vụ giới thanh niên, sinh viên và học sinh. Các sáng tác của ông có giá trị nghệ thuật cao và nói lên được hoài bão, ước mơ của thanh thiếu niên Việt Nam trong thời mất nước và cà trong thời hòa bình.

Ông mất ngày 8-6-1989 tại Tp.HCM, thọ 68 tuổi.

BÀI “TIẾNG GỌI THANH NIÊN” TRỞ THÀNH QUỐC CA

Lưu Hữu Phước sáng tác bài Tiếng gọi Thanh niên thời Cách mạng tháng 8 mới bùng nổ, nhằm mục đích khơi gợi lòng yêu nước cũa thanh niên toàn quốc, tham gia cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền từ tay Nhật- Pháp.

Nguyên văn bài hát:

1. Này Thanh niên ơi, tiến lên dưới cờ giải phóng
Đồng lòng cùng đi, đi, đi sá gì thân sống
Nhìn non sông nát tan, thù nung tâm chí cao
Nhìn muôn dân khóc than, hờn sôi trong máu đào
Liều thân xông pha ta tranh đấu
Cờ nghĩa phất phới vàng pha máu
Cùng tiến quét hết những loài dã man
Hầu đem quê hương thoát vòng u ám
Thề quyết lấy máu nóng mà rửa oán chung
Muôn thuở vì sông núi nêu tiếng anh hùng
Vung gươm lên! Ta quyết đi tới cùng
Vung gươm lên! Ta thề đem hết lòng
Tiến lên đồng tiến sá chi đời sống
Chớ quên rằng ta là giống Lạc Hồng.

2. Này Sinh viên ơi, đứng lên đáp lời sông núi
Đồng lòng cùng đi, đi, đi mở đường khai lối
Kìa non sông nước xưa, truyền muôn năm chớ quên
Nào anh em Bắc Nam cùng nhau ta kết đoàn.
Hồn thanh xuân như gương trong sáng
Đừng tiếc máu nóng tài xin ráng
Thời khó, thế khó, khó làm yếu ta
Dù muôn chông gai vững lòng chi sá
Đường mới kíp phóng mắt nhìn xa bốn phương
Tung cánh hồn thiếu niên, ai đó can trường.
Sinh viên ơi! Mau tiến lên dưới cờ
Anh em ơi! Quật cường nay đến giờ
Tiến lên cùng tiến, gió tung nguồn sống
Cháy trong lòng ta ngàn mớ lửa hồng.

Sau khi âm mưu của Pháp lập chính phủ Nam Kỳ quốc thất bại (thủ tướng Nguyễn Văn Thinh tự tử), chính phủ này sử dụng Lá cờ biến cải từ cờ Quẻ Li của chính phủ Trần Trọng Kim –cờ nền vàng với quẻ Li có 3 sọc màu đỏ đứt quãng – thành lá “Cờ Nam Kỳ quốc” có nền vàng với 3 sọc màu xanh liên tục, tượng trưng cho 3 con sông ở Nam Kỳ (Tiền giang, Hậu giang và Vàm Cỏ) và sau khi việc điều đình với chính phủ Hồ Chí Minh không thành, vào năm 1949, Pháp cho thành lập chính phủ Quốc gia Việt Nam, mời Bảo Đại về làm Quốc Trưởng, Nguyễn Văn Xuân làm Thủ tướng, vội vàng lấy lá “cờ Nam kỳ quốc” - thay đồi màu của 3 sọc xanh thành 3 sọc màu đỏ trên nền cờ màu vàng – trở thành “Quốc kỳ”. Cũng vì hấp tấp thành lập nên họ vội vàng lấy ngay bài “Tiếng gọi Thanh niên” (đang được thịnh hành thời đó) của Lưu Hữu Phước làm bài Quốc ca. Như vậy, họ đã có đầy đủ quốc kỳ và quốc ca của chính phủ “Quốc gia Việt Nam” với thủ đô là Sài Gòn.

Đến năm 1956, Ngô Đình Diệm do Mỹ đưa về Sài Gòn làm thủ tướng, truất phế Bảo Đại để lên làm Tổng thống “Việt Nam Cọng hòa”với nền Đệ nhất Cọng Hòa, rồi Nguyễn Văn Thiệu với nền Đệ nhị Cộng Hòa – tiếp tục sử dụng Quốc kỳ và Quốc ca cùa “Quốc gia Việt Nam”.

Quốc ca của “Quốc gia Việt Nam” và “Việt Nam Cộng hòa” (Sài Gòn trước đây)

- Với Lời ca được sửa đổi như sau:

Này Công dân ơi, Quốc gia đến ngày giải phóng
Đồng lòng cùng đi hy sinh tiếc gì thân sống
Vì tương lai Quốc dân, cùng xông pha khói tên
Làm sao cho nước Nam từ nay luôn vững bền
Dù cho thây phơi trên gươm giáo
Thù nước lấy máu đào đem báo
Nòi giống lúc biến phải cần giải nguy
Người Công dân luôn vững bền tâm trí
Hùng tráng quyết chiến đấu làm cho khắp nơi
Vang tiếng người nước Nam cho đến muôn đời.
Công dân ơi! Mau tiến lên dưới cờ
Công dân ơi! Mau làm cho cõi bờ
Thoát cơn tàn phá, vẻ vang nòi giống
Xứng danh ngàn năm dòng giống Lạc Hồng.

Mặc dù Lưu Hữu Phước đã từng lên tiếng phản đối việc sử dụng bài Tiếng gọi Thanh niên làm Quốc ca, nhưng chính quyền Sài Gòn vẫn tiếp tục dùng bài hát đó làm Quốc ca - từ năm 1949 cho tới ngày Giải phóng miền Nam 30-4-1975. Kể từ đây, bài hát “Tiếng gọi Thanh niên” mới trở về vị trí là bài hát của giới thanh niên, chấm dứt sứ mệnh làm bàì Quốc ca.

“BÀI CA GIẢI PHÓNG MIỀN NAM”

Ngày 20-12-1969, Mặt trận Giải phóng Miền Nam được thành lập. Năm 1965, Lưu Hữu Phước vào chiến trường miền Nam, ông đã sáng tác bài ca Giài phóng miền Nam:

Giải phóng miền Nam chúng ta cùng quyết tiến bước
Diệt đế quốc Mỹ, phá tan bè lũ bán nước
Ôi! Xương tan, máu rơi, lòng hận thù ngất trời
Sông núi bao nhiêu năm cắt rời.
Đây Cửu Long hùng tráng
Đây Trường Sơn vinh quang
Thúc giục đoàn ta xung phong đi giết thù
Vai sát vai chung một bóng cờ.
Vùng lên! Nhân dân miền Nam anh hùng
Vùng lên! Xông pha vượt qua bão bùng
Thề cứu lấy nước nhà!
Thề hy sinh đến cùng!
Cầm gươm, ôm súng, xông tới!
Vận nước đã đến rồi
Bình minh chiếu khắp nơi
Nguyện xây non nước sáng tươi muôn đời.

Sau khi chính phủ Lâm thời Cộng hòa miền Nam được thành lập, thủ đô ờ Lộc Ninh (tỉnh Tây Ninh) và bài hát trên của Lưu Hữu Phước được sử dụng làm “Bài ca Giải phóng miền Nam” (tương đương với bài Quốc ca) trong các buổi lễ chính thức tiếp đón các đoàn ngoại giao khi họ tới thăm Lộc Ninh..

Trước đó vào năm 1945, bài Tiếng gọi Thanh niên ghi là của “Hoàng Mai Lưu” - do nhóm 3 người bạn thân gồm: Huỳnh Văn Tiểng – Mai Văn Bộ - Lưu Hữu Phước cùng sáng tác, nên ghi tác giả là Hoàng Mai Lưu (là Họ của 3 người).

Bài hát Giải phóng Miền Nam này lẽ ra ghi tên tác giả là “Huỳnh Minh Liêng” (do Họ của 3 người: Huỳnh + M từ Mai + L từ Lưu) nhưng do in sai ra Huỳnh Minh Siêng, về sau Lưu Hữu Phước cũng đồng ý với tên mới này.

Như vậy nhạc sĩ tài năng Lưu Hữu Phước là tác giả của 2 bài Quốc ca của hai Quốc gia khác nhau.

BÀI HÁT TƯỞNG NIỆM

Nguyên Lưu Hữu Phước sáng tác bài này lúc đầu mang tên “Hát Giang trường hận” nhằm để tưởng nhớ Hai Bà Trưng – hai vị anh thư đầu tiên của nước ta - tuẫn tiết tại sông Hát Giang sau khi thua trận. Sau đó vì tiết tấu của bài hát này ai oán não nùng mà oai hùng cảm động như đi vào lòng người khi vĩnh biệt người quá cố, nhất là trong các buồi Tang Lễ của các Chiến sĩ trận vong, nên bài tường nhớ Trưng Nữ Vương được đổi tên là “Hồn Tử Sĩ” cho đúng với chức năng là bài hát Tưởng niệm trong các Tang lễ chính thức.

Bài “Hồn Tử Sĩ” của Lưu Hữu Phước

Đêm khuya âm u, Ai khóc than trong gió đàn
Sóng cuốn Trưng Nữ Vương, Gợi muôn ngàn bên nước tràn
Hồn ai đang thổn thức trên sông, Hồn quân Nam đang khóc non sông
Sát khí ngất đất bao lớp thây muôn bóng huyền
Không gian như lắng nghe bao oan hồn
Đang xao xuyến xót thương hai Nữ Hoàng tuẫn thân
Dù mạng vong lửa hờn chưa tan
Làn sóng đang thét gào gió vang tiếng nguyền cùng gươm đao
Nguyện cùng sông đẫm máu, Tấm thân nát không nao
Nhìn thấy quân Hán dầy xéo, Sông núi nhà dòng châu rơi
Khắp nước non mờ tối dưới trời.

Nào ai yêu nước nhà, Vì giống nòi vì hận thù
Làm sao đưa dân qua cơn đau khổ
Người Nam anh hùng quyết dâng đời sống cho non sông
Liều mình vào tên khói, Cùng người thù ta quyết không đạp đất chung
Trai hùng tráng lúc quốc biến xả thân, Lấy máu nóng cứu dân khỏi hồi nguy nan.

Chí hiên ngang, bao năm công đức,
Xây đắp nên non nước nhà,
Sóng gió nguyện khắc trong Tấm quốc dân không xóa nhòa
Vì đâu vua Trưng Nữ ra quân, Vì non sông tử tiết vong thân.
Nước cuốn réo rắt như thiết tha gọi quốc hồn,
Thiên thu trên Hát Giang vang tiếng lòng
Dân đau đớn khóc giang san phải hồi ngửa nghiêng
Cùng nhau khấn non nước thiêng liêng.

TÓM TẮT

Thật là hi hữu trong lịch sử âm nhạc Việt Nam, là chỉ duy nhất có người nhạc sĩ tài hoa Lưu Hữu Phước đã sáng tác ra hai bài Quốc Ca của hai chế độ khác nhau và đặc biệt là bài “Hồn Tử Sĩ” được sử dụng làm bài hát tưởng niệm trong các buổi Lễ Tang chính thức để tưởng nhớ đến các anh hùng liệt sĩ và người quá cố, với lòng tôn kính và biết ơn, ở cả hai miền Bắc và miền Nam trước đây và trên Đất nước thống nhất thân yêu của chúng ta ngày nay.


___________________________________

(Tham khảo: Từ điển Tác Gia VN của Nguyễn Q. Thắng- NXB Văn hóa TT-1999 và các bài hát trên Internet)
© Tác giả giữ bản quyền.
. Cập nhật ngày 24.04.2012 theo nguyên bản của tác giả từ SaìGòn .
. Đăng tải lại vui lòng ghi rõ nguồn Newvietart.com