TỪ TU THIỀN ĐẾN TU PHẬT





Kỳ Thứ 8

CHƯƠNG IV

BÌNH LUẬN NHỮNG CÔNG ÁN TRONG VÔ MÔN QUAN

CÔNG ÁN THỨ TÁM

HỀ TRỌNG CHẾ XE

*Công Án:

Hoà Thượng Nguyệt Am hỏi một ông Tăng:

- Hề Trọng làm bánh xe trăm gọng. Nắm hai đầu, bỏ trục đi, thế nghĩa là sao?

Lời giải:

Không thấy Công Án này có ý nào liên quan đến Phật Pháp! Bánh xe này chẳng phải là bánh xe Pháp, cũng chẳng phải là bánh xe Luân hồi của Đạo Phật, mà thuần túy là bánh xe trần tục với gọng, trục! Rõ ràng Thầy đang quan tâm xét chuyện người ngoài, lại còn muốn trò cũng thắc mắc giống như mình!

Giả sử người chế xe trước kia, nay vào nhập môn tu hành, nhờ bánh xe mà đắc pháp, thì nói chuyện xe cộ còn hợp lý. Vị Tăng đang ở trong Chùa lẽ ra chỉ nên nghĩ nhớ tới Phật. Lo nhất niệm, không buông lỏng tư tưởng. Lo Tham Thoại đầu, chết sống không buông như nhà Thiền vẫn dạy. Sao không ra một thoại đầu nào liên quan đến việc tu hành, như Sinh Tử, Vô Thường, Tứ Diệu Đế, Bát Chánh Đạo...?

Kết luận:

Công Án này kể cũng đáng cho người sau ngạc nhiên. Không hiểu tại sao Hoà Thượng ở chùa mà không nhắc đến việc học Phật cho đệ tử. Không dạy Tư Duy, Quán Sát, Giới, Định, Huệ… mà Tâm của ông ta lại đặt ở nhà Hề Trọng nhỉ?

CÔNG ÁN THỨ CHÍN

PHẬT ĐẠI THÔNG TRÍ THẮNG

*Công Án:

Một ông tăng hỏi Hòa Thượng Hưng Dương Nhượng:

- Phật Đại Thông Trí Thắng ngồi tu mười kiếp ở đạo trường, PHẬT PHÁP không hiển hiện, không thành được Phật đạo, thế nghĩa là sao?

Sư nói:

- Hỏi thật hay!

Ông Tăng nói:

- Đã ngồi tu ở đạo trường, sao lại không thành được Phật Đạo?

Sư đáp:

- Vì ông ấy không thành Phật.

Lời giải:

Lâu lâu mới thấy được một Thiền Sinh có một thái độ rất nghiêm túc, một câu hỏi thật xác đáng, mong người Thầy mở lối để học trò học hỏi, thế mà lại chẳng may gặp nhằm Thầy dốt, trả lời huề trớt: "Vì ông ấy không thành Phật"!

Người trò đã thắc mắc rất đúng. Việc tu học, thiền định chẳng phải là để được Thành Phật hay sao? Đã ngồi tu ở đạo trường, trên nguyên tắc là phải thành Phật, nhưng THEO Kinh DIỆU PHÁP LIÊN HOA viết: "Vì Phật Pháp chẳng hiện ra trước nên chẳng thể thành Phật", vậy thì: Thế nào là Phật Pháp? Làm sao cho Phật Pháp hiện ra?

Điều này trong Kinh có viết rõ: "Phật Đại Thông Trí Thắng ngồi xếp bằng, thân và tâm không động, mà các Phật Pháp còn chẳng hiện ra trước". Tức là nói về những người Ngồi Thiền Định, nhưng ngồi theo kiểu ỳ ra đó, Thân, Tâm bất động mà Kinh Duy Ma Cật gọi là "Ngồi sững ở đó"! Cứ ngồi sững ở đó thì làm sao thấy được, hiểu được gì thêm? Kiểu Ngồi đó Kinh Duy Ma Cật, Pháp Bảo Đàn Kinh đều chê! Hoà Thượng Hoài Nhượng cũng từng lượm gạch mài trước am của Mã Tổ khi còn là thiền sinh đang tọa Thiền, để khai mở cho Ngài rằng: "Gạch mài không thể thành kính, Ngồi Thiền không thể thành Phật được"!

Muốn biết nên Ngồi Thiền như thế nào cho đúng, người tu cần đọc Kinh để thấy Phật dạy, Ngồi Thiền là phải: Thiền Quán, Thiền Minh Sát, để nhờ đó mà thấy, mà hiểu ra những điều cần hiểu, cần hành của Đạo, không phải chỉ "Ngồi sững ở đó" càng lâu càng tốt!

Ngài Đại Thông Trí Thắng nhờ chuyển cách Thiền, làm cho Phật Pháp hiện ra. Đó là lúc Ngài thấy được các chúng sanh của Ngài, Kinh DIỆU PHÁP LIÊN HOA viết: "TRONG CÕI NƯỚC ĐÓ CHỖ TỐI TĂM ÁNH SÁNG CỦA NHỰT NGUYỆT KHÔNG SOI TỚI MÀ ĐỀU ĐẶNG SÁNG RỠ, TRONG ĐÓ CHÚNG SANH ĐỀU ĐẶNG THẤY NHAU, ĐỒNG NÓI RẰNG: "TRONG ĐÂY TẠI SAO BỖNG SANH RA CHÚNG SANH".

Trong Cõi Tâm của Ngài, cũng như của mỗi chúng ta đều có đủ loại tư tưởng mà Đức Thích Ca giả gọi là những nhân vật và đặt cho những định danh: Từ Chư Phật, Bồ Tát, cho tới trời, rồng, thần, dạ xoa, càn thát, chúng sanh... Mỗi nhân vật lại có nhiệm vụ riêng:

- PHẬT tượng trưng cho những tư tưởng đã rốt ráo thanh tịnh, được về ở riêng một nơi gọi đó là Nước Phật hay Niết Bàn.

- BỒ TÁT là những tư tưởng đã thông suốt, đang làm nhiệm vụ hướng dẫn cho những tư tưởng gọi là Chúng Sinh, gọi là làm công việc "Độ Sinh".

CHÚNG SINH LÀ những tư tưởng còn vướng mắc, đau khổ, vọng động… mà Bồ Tát có nhiệm vụ giải cứu, để chúng cũng được về chỗ an ổn thanh tịnh.

Muốn thành Phật thì phải Độ Sinh. Phật Đại Thông Trí thắng lúc ban đầu ngồi thiền ở đạo trường, dù thân tâm không động. Nhưng không thấy chúng sinh. Không độ chúng sinh, nên không thành Phật được. Cho tới lúc thấy rõ những chúng sinh, độ được chúng bằng Phật Pháp thì mới thành Phật được. Điều này được viết rõ trong Phẩm Hoá Thành Dụ.

Khi chưa được Giải Thoát, thì những hạng chúng sinh đều có đủ mọi thứ chấp nhất mà chúng kiên trì cứ bám lấy. Cái chấp nhất, ôm giữ này Phật tượng trưng cho cung điện nơi chúng trú ngụ. Khi tất cả đều hiểu được giá trị của Phật Pháp, cùng mang cung điện của mình - tức những sự chấp nhất của mình - đến để cúng dường cho con đường Giải Thoát để xin Phật chỉ bày các pháp tướng độ chúng sanh đau khổ. Lúc đó Phật mới nhận lời chuyển pháp luân, đánh trống pháp, mở đường Niết Bàn, giảng các môn Tứ Đế, Thập Nhị Nhân Duyên, khiến cho tất cả đều phát tâm Vô Thượng Bồ Đề. Do đó khi Ngài Đại Thông Trí Thắng soi rõ Nội tâm, thấy tất cả cảnh giới của Tâm. Giảng nói, độ cho chúng sinh nơi nội tâm của Ngài, nên Ngài mới thành Đại Thông Trí Thắng Phật, vì đã độ thoát cho tất cả chúng sinh.

Đó là chỗ mà người tu cần Tham để thấy, để hiểu, để Hành. Vì nếu chưa biết Phật Đại Thông Trí Thắng làm gì để Thành Phật thì làm sao ta có thể theo cách của Ngài để thực hiện cho bản thân? Nếu tu Phật mà không thành thì tu làm gì? Và điều quan trọng người tu cần hiểu là: "Thành Phật" chỉ là "Thành tựu con đường giải Thoát khỏi Sinh Lão Bịnh Tử" cho bản thân mình. Không phải là để thành Ông Phật có 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp được Tam Thiên Đại Thiên thế giới tôn sùng, như trong Kinh Phật dùng phương tiện để mô tả. Do đó, người không hiểu rõ thường hay tưởng lầm, rồi khởi tăng thượng mạn nếu có chút gì tưởng rằng mình đã Đắc, đã Thành!

Kết luận:

Ông thầy này kể ra cũng còn hiền. Công Án này chứng tỏ người Thầy không đọc Kinh, không có Pháp. Chưa làm Hạnh Bồ Tát. Chưa biết con đường Độ sinh, nên khi học trò hỏi thì không biết đường trả lời! Cũng may cho người hỏi là chưa bị đánh, bị đạp như đồ đệ của các Thầy khác!

CÔNG ÁN THỨ MƯỜI

THANH THOÁT NGHÈO KHỔ

*Công Án:

Một Ông Tăng hỏi Hoà Thượng Tào Sơn:

- Thanh Thoát này nghèo khổ, xin Ngài cứu giúp.

Sư nói:

- Thầy Thoát!

Ông Tăng đáp:

- Dạ.

Sư nói:

- Rượu Thanh Nguyên vốn sẵn của nhà, đã uống xong ba chén sao còn bảo chưa dính môi?

Lời giải:

Một người hỏi tục đế, một người đem đệ nhất nghĩa đế ra mà đáp! Đạo Phật là Thực chứng, phải đâu Tưởng Chứng! Đâu phải nghe nói mình có viên châu trong áo đã thò tay vào túi lôi ngay ra được! Đâu phải biết rằng có viên ngọc rớt trong ao rồi lặn xuống là lấy lên ngay!Chính vì thế mà cần Phương Tiện là Thiền Quán, là 37 Phẩm trợ đạo, là Tứ Nhiếp, là Lục Độ, Vạn Hạnh. Trong Chính Kinh, Phật cũng không có lối dạy tắt nói ngang, mà dặn dò người tu học phải "sắp xếp đồ chúng" trước khi an cư tu tập, tức là những việc gì của đời còn làm vướng bận thì cũng nên sắp xếp, giải quyết theo cách của đời để được yên tâm mà tu tập. Lục Tổ trước khi vào Chùa cũng phải thu xếp ổn định việc ăn ở cho thân mẫu, đâu phải nói đi tu là dứt áo ra đi, mặc kệ tất cả!

Bảo người ta giàu trong khi họ đang đói rách tả tơi thì người nghe khó chấp nhận. Rõ ràng Phật dạy mỗi chúng sanh đều có Phật Tánh, nhưng mấy ai Ngộ được cái Phật Tánh đó? Dù Phật đã thọ ký "Chúng sanh là Phật sẽ thành", nhưng cho đến nay đã được bao nhiêu người thành Phật?

Vì thế, người thực chứng phải là người đã làm xong cho bản thân mới biết cách để chỉ lại cho người sau. Không thể chứng đắc bằng cái Tưởng. Không thể tưởng mình đã nhận gia tài của người cha trưởng giả, tưởng mình đang giàu có trong khi bản thân đang nghèo khổ. Chính vì vậy mà người chưa chứng đắc không chỉ được cách để sau cũng chứng đắc như họ.

CÔNG ÁN THỨ MƯỜI MỘT

TRIỆU CHÂU KHÁM CHỦ AM

*Công Án:

Ngài Triệu Châu ghé thăm một chủ am, hỏi:

- Có chăng, có chăng?

Chủ am giơ nắm tay lên. Sư nói:

- Nước cạn không phải chỗ đậu thuyền.

Lại ghé một am khác, hỏi:

- Có chăng, có chăng?

Chủ am cũng giơ nắm tay lên. Sư nói:

- Buông được, bắt được, giết được, cứu được.

Bèn bái lễ.

Lời giải:

Việc này có lẽ phải hỏi Ngài Triệu Am, vì chính Ngài vừa ra đề, vừa giải đề. Khinh người hay kính người cũng chỉ do một mình Ngài. Người Tham cái gọi là Công Án này lại cũng sẽ bị kẹt vì còn ai để phân rõ đúng sai.

Kết luận:

Tốt nhất nên gặp Ngài Triệu Châu để hỏi cho rõ, đừng bỏ thì giờ thắc mắc xem tại sao, vô ích!

CÔNG ÁN THỨ MƯỜI HAI

THOẠI NHAM GỌI ÔNG CHỦ

*Công Án:

Hoà Thượng Thoại Nham Ngạn hàng ngày tự kêu:

- Ông chủ!

Rồi tự đáp:

- Dạ.

Lại nói:

- Tỉnh táo nhé!

- Dạ.

- Mai kia mốt nọ đừng để người gạt nhé!

- Dạ, dạ.

Lời giải:

Hai tình trạng: Vô Minh và Trí Huệ trong một con người hẳn là điều mà Hòa Thượng Thoại Nham đang muốn nói đến. Nhưng thực ra Vô Minh đâu phải để bị người gạt mà chính là ta tự gạt! Trí Huệ cũng chẳng phải của ai khác, chẳng ở đâu xa, mà là Vô Minh của chính ta sau khi đã trừ đi Tam Độc bằng những phương tiện Trì Giới, Thiền Quán của Đạo Phật. Nhưng hình như Hoà Thượng này chưa nhận ra để làm, chỉ ngồi đó kêu suông thì ích lợi gì? Nếu Ngài đã làm thì đâu cần kêu!

Kết luận:

Nếu người Tham câu này cũng tiếp tục bắt chước người trước, hàng ngày cứ kêu lên như thế, thì rõ ràng đang bị người trước gạt mà không hay!

CÔNG ÁN THỨ MƯỜI BA

ĐỨC SƠN BƯNG BÁT

*Công Án:

Một hôm ngài Đức Sơn bưng bát ra khỏi thiền đường. Tuyết Phong hỏi:

- Cái lão già, chuông chưa gióng, trống chưa điểm mà bưng bát đi đâu?

Sư liền lui về phương trượng.

Tuyết Phong kể chuyện lại cho Nham Đầu. Nham Đầu nói:

- Đường đường là Hoà Thượng Đức Sơn mà chưa hiểu câu nói tối hậu.

Sư nghe được, sai thị giả gọi Nham Đầu và hỏi:

- Ông chê lão tăng à?

- Nham Đầu nói rõ ý mình. Sư bèn thôi.

Hôm sau Sư thăng đường, quả nhiên khác vẻ thường. Nham Đầu ra trước chúng vỗ tay cười lớn nói:

- Cũng may lão già biết câu tối hậu. Mai mốt thiên hạ chẳng ai làm gì nổi lão.

Lời giải:

Học trò gọi thầy bằng lão già này, lão già nọ thì thật là hỗn láo, không thể chấp nhận được. Hơn nữa đây lại là một chốn thiền môn thì có vẻ thiếu tôn ti trật tự quá! Thầy làm sao còn dạy bảo ai!

Học trò lại bảo được câu tối hậu cho thầy! Thầy phải chờ bảo nhỏ vào tai thì mới hiểu, rồi hôm sau đổi thái độ, thật chẳng ra làm sao! Rõ ràng Thầy đang được trò chỉ bảo cho!

Dù rằng "Con hơn cha là nhà có phúc" . Nhưng Thầy mà để trò dạy cho sao còn đáng mặt Thầy? So sánh với trường đời, chẳng lẽ môn quy của Thiền Viện lại thua phàm phu, dạy nhau: "tôn sư trọng đạo", "kính thầy mới được làm thầy" sao nhỉ? Đọc Công Án này ta thấy lẽ ra Tuyết Phong và Nham Đầu phải là Thầy thì đúng hơn, vì còn bảo được cho Thầy "Câu tối hậu" để "mai mốt thiên hạ không ai làm gì nổi lão"!

Kết luận:

Cửa Thiền này đóng bằng gỗ tạp. Ám sư xuất loạn đồ!

 

... CÒN TIẾP ...






© Tác giả giữ bản quyền.
. Đăng ngày 20.04.2012 theo nguyên bản của tác giả từ Sài Gòn.
. TRÍCH ĐĂNG LẠI VUI LÒNG GHI RÕ NGUỒN NEWVIETART.COM .