CHÙA THÁP Ở HUẾ


CHÙA THIÊN MỤ

Chùa Thiên Mụ là một danh lam thắng cảnh vào bậc nhất của cố đô Huế. Chùa được xây trên đỉnh một ngọn đồi cao ngay bên bờ sông Hương đối diện vùng đất Long Thọ.

Trước cửa chùa có tháp kiến trúc theo hình bát giác, một kiểu bố cục theo hình bát quái. Tháp nầy gồm có 6 tầng đều nhau nhưng càng lên cao thì diện tích lại được thu nhỏ lại. Mỗi tầng có một mái nhỏ chìa ra với những đường nét trang trí khá tinh vi, đều đặn và sinh động lạ thường. Mỗi mặt có một cửa cuốn khá lớn hình chữ nhật nhưng chung quanh có nhiều mô hình long nguyệt. Trên cùng là một mái nhỏ 8 cạnh. Chính giữa có trang trí một hình nậm rượu có mũi nhọn. Chung quanh có những mô hình vân vũ.

Nhiều vị cao tăng từng được mời về làm trụ trì từ trước đến nay cho nên chùa trở thành nơi quần tụ nhiều thiện nam tín nữ đến nghe thuyết pháp. Có nhiều huyền thoại chung quanh lai lịch của chùa Thiên Mụ được nhiều sách báo xưa nay đề cập đến.

Một trong những mẫu chuyện đó đã kể lại như sau: Từ những năm tháng trước đó, dân chúng trong vùng nầy đêm đêm thường thấy một bà già mặc áo đỏ quần lục xuất hiện trên một ngọn đồi mà chùa toạ lạc hiện nay. Bà cho biết như sau: Sau nầy sẽ có một vị chân chúa đến lập chùa trong vùng nầy để tụ long khí để cho long mạch được bền vững. Sau khi nói xong thì bà ta biến mất.

Từ đó ngọn đồi nầy được gọi là Thiên Mụ Sơn (tức là ngọn núi của bà Trời). Sau khi vào trấn thủ đất Thuận Hoá, chúa Nguyễn Hoàng (1558-1613) thường đi tìm những vùng địa thế đặc biệt có đến vùng nầy và được dân chúng kể lại như thế. Chúa Nguyễn tự nghĩ chân chúa đó chính là mình, chonên đã khuyên dân nên xây chùa tại đây và đặt tên là Thiên Mụ Tự.

Nhưng nhiều giả thuyết đã không xác định như thời điểm đó. Theo các giả thuyết nầy thì nhiều chứng tích cho rằng chùa đã được xây lên vào năm 1555, tức là khi chúa Nguyễn chưa ra đời.

Trong sách Ô Châu Cận Lục của Dương văn An viết trong thời điểm đó cũng định cả đến tên của ngôi chùa này rồi. Cũng có thể thời đó ngôi chùa tuy được dựng lên, nhưng chỉ là một thảo am nhỏ, kiến trúc chưa có gì là quy mô, rộng lớn như sau nầy. Thời điểm chúa Nguyễn cho dựng lại chùa vào năm 1601 và quy mô rộng lớn khang trang hơn trước.

Những triều Nguyễn đã cho xây dựng liên tiếp những phần còn lại trong quần thể chùa nầy. Năm 1665, ngôi chùa nầy cũng đã được chúa Nguyễn Phúc Tần cho trùng tu với những kiến tạo quy mô hơn. Cuối năm 1695, Hoà thượng Thạch Liêm (Thích Đại Sán) ở Quảng Đông được chúa Nguyễn Phúc Chu mời qua hoằng dương Phật Pháp tại ngôi chùa nầy. Tín đồ đến tham dự ngày càng đông đúc và chùa được nổi tiếng vang khắp nơi từ đó.

Năm 1710, chúa Nguyễn cũng cho đúc một đại hồng chung và cũng đã viết một bài Ký để khắc trên chuông nầy. Năm 1714, Chúa sai Chưởng Cơ Tống Đức Đại đứng ra trông coi việc trùng tu và cũng đã mở rộng thêm ngôi chùa nầy. Trong dịp nầy, một chương trình trùng tu khá quy mô: chùa được xây thêm điện đài, nhiều đình viện chung quanh, nhà Tăng, nhà Tổ, vọng chuông.

Theo những tài liệu ghi chép lại đã có 22 công trình xây dựng trong dịp nầy. Công tác chỉnh trang nầy kéo dài trên một năm trời vàcó đến 1012 người thợ và dân phu tham gia trong cuộc xây dựng lần nầy. Tất cả được mô tả là công trình khá hoành tráng. Sau khi sửa chữa xong, một lễ kỳ an kéo dài đến 3 ngày và chúa Nguyễn cũng cho khắc một bài Ký do chính mình soạn thảo để làm kỷ niệm.

Nhà vua cũng nhờ 3 vị thiền sư Việt Nam sang Trung Hoa thỉnh hơn 1000 bộ kinh Phật Giáo nổi tiếng về tàng trữ tại ngôi chùa nầy để phát triển thêm tư tưởng Phật Giáo. Cho đến đời Tây Sơn nắm quyền hành (1786-1801) thì chùa Thiên Mụ đã bị nạn binh đao tàn phá rất nặng nề. Có đến 3/4 công trình đã bị hủy hoại.

Theo tài liệu của Phan huy Ich, đã có thời kỳ triều đình Tây Sơn đã dùng ngôi chùa nầy làm đàn Xã Tắc để cúng tế cầu đảo hằng năm. Đời nhà Nguyễn, vào những năm 1815 và 1831, vua Gia Long và vua Minh Mạng đã sai quan Lễ Bộ Tham Tri đứng ra điều khiển việc tu sửa lại ngôi chùa danh tiếng nầy.

Năm 1844, để kỷ niệm bà Thuận Thiên Cao Hoàng Hậu (vợ của vua Gia Long) thọ 80 tuổi (Bát tuần Thánh Thọ), vua Thiệu Trị đã cử Thống Chế Hoàng Văn Hậu đứng ra điều khiển việc kiến trúc lại ngôi chùa nầy trên một quy mô rộng lớn: xây thêm tháp Phước Duyên, đình Hương Nguyện, dựng lại hai tấm bia ghi lại thơ văn nhà vua.

Chùa Thiên Mụ cũng được chọn làm một trong 20 thắng cảnh nổi tiếng của đất Thần Kinh, qua bài Thiên Mụ Chung Thanh:

Cao cương cổ sát trấn tiền xuyên, Nguyệt tướng thường viên tự tại nhiên. Bách bát hồng thanh tiêu bách kết, Tam thiên thế giới tỉnh tam duyên. Tăng hoằng ngọ nhật u minh cảm, Liêu lượng dẫn tiêu đạo vị huyền. Phân tích Thánh công thùy hải vũ, Thiện nhân tăng quả phổ cai diên.

Nghĩa là:

Gò cao chùa cổ bên sông, An nhiên nguyệt tướng, mặt vòng tròn gương. Niệm tan phiền no sầu thương, Ba ngàn thế giới, tỉnh đường ba sinh. Chuông rền cảm giới u minh, Ban mai tiếng tụng, hiển linh đạo huyền. Thánh công Phật Tích lưu truyền Nhân lành, quả tốt, khắp miền nước non. (Bản dịch của Nguyễn Quảng Tuân)

Năm 1899, để đóng góp công đức cho chùa nhân dịp lễ Cửu Tuần Đại Tiết của bà Từ Dũ (vợ của vua Thiệu Trị), vua Thành Thái đã ra lệnh cho bộ Công tu bổ lại tháp Phước Duyên và dựng bia để kỷ niệm. Năm năm sau đó (1904) một trận bão dữ dội đã gây cho ngôi chùa nầy nhiều thiệt hại nặng nề, mà trong đó, đình Hương Nguyện đã bị sụp đổ. Mùa thu năm 1907 thì chùa được trùng tu lại.

Tháng ba năm 1920, vua Khải Định lại cho dựng bia đá gần tháp Phước Duyên, để khắc một bài thơ ngự chế nội dung ca ngợi cảnh chùa. Đợt sau cùng, chùa Thiên Mụ đã được đại tu bổ vào cuối năm 1957. Trong đợt nầy, phần lớn những bộ phận kiến trúc trong điện Đại Hùng đều được thay thế bằng bê tông cốt sắt. Thiên Mụ trở thành một trong những danh lam nổi tiếng nhất của đất Thần Kinh.

Thiên Mụ được nhắc nhở nhiều trong thi ca âm nhạc, hội họa nhiếp ảnh, để lôi cuốn du khách bốn phương cảngười nước ngoài.

Không một tập Kỷ Yếu nào viết về Huế mà không có hình tháp của Thiên Mụ. Cơ quan UNESCO trong chương trình trùng tu Huế đã đưa Thiên Mụ lên hàng cao. Đại hồng chung Thiên Mụ là được liệt vào một trong những công trình kiến trúc và điêu khắc nổi tiếng của vùng đất Thần Kinh. Căn cứ theo những tài liệu lịch sử và kiến trúc đất Thần kinh thì công trình đúc chuông nầy là do chúa Nguyễn Phúc Chu (1691 - 1727) đề xướng.

Năm 1710 việc đúc đại hồng chung nầy hoàn tất. Một đại trai đàn được tổ chức vô cùng trọng thể sau khi chùa xây xong. Tính rathì chuông nặng trên 2000kg và chiều cao đến 2,5 mét đường kính của chuông là 1,4 mét. Trên mặt của chuông có khắc 8 chữ Thọ theo lối chữ triện; ở giữa thân chuông chia làm 4 khoảng, có khắc bài Minh của chúa Nguyễn Phúc Chu.

Những hình long,vân, nhật, tinh được chạm nổi; phía dưới khắc hình bát quái và sóng nước. Chuông có chiếc quai rất lớn đúc bằng đồng, hình sóng nước. Thân chuông được phân chia ra nhiều phần trang trí khác nhau.

Nhiều vòng song song được bố trí đều từ quai đến đáy chuông. Vòng thứ 1: Vòng trang trí hoa dây. Vòng thứ 2: Bốn đôi rồng chầu mặt nguyệt. Vòng thứ 3: Tám chữ Phúc. Vòng thứ 4- Vòng trang trí kỹ hà. Vòng thứ 5- Bài thơ của chúa Nguyễn. Vòng thứ 6 - Những đường song song trên có 4 vòng cao. Vòng thứ 7 - Hình hậu thiên bát quái. Vòng thứ 8 - Hình bát bửu. Vòng thứ 9- Hình sóng nước.

CHÙA BÁO QUỐC

Trong thế kỷ thứ XX, nếu chùa Từ Đàm là trung tâm phát xuất những cuộc tranh đấu Phật Giáo Việt Nam thì chùa Báo Quốc lại là nơi đào tạo tăng tài của miền Trung qua nhiều thế hệ.

Ngôi chùa nầy tọa lạc trên ngọn đồi Hàm Long thuộc địa phận của làng Phường Đúc trước kia; phía Đông giáp với đường Nam Giao (sau nầy đổi thành đường Điện Biên Phủ) phía Tây giáp với thôn Lịch Đội; phía Nam là thôn Trường An, phía Bắc là nhà ga xe lửa Huế.

Về bố cục, chùa Báo Quốc xây theo hình chữ khẩu vuông vức và những thành phần ôm chặt vào nhau.

Đường lên chùa phải ngang qua nhiều bậc tam cấp khá quanh co và khó khăn. Ngay giữa sân chùa có trồng nhiều loại cây kiểng và phong lan, hoa thơm bốn mùa; đây là một cảnh quan u tịch và trang nghiêm nhặt trong hệ thống chùa chiền cố đô Huế. Diện tích toàn thể của chùa chừng hai mẫu tây, trước do triều đình cấp phát. Trong khuôn viên của chùa có nhiều tháp và mộ thờ những tổ sư ở ngôi chùa lịch sử nầy.

Trong số ba ngôi mộ ở cạnh chùa về phía Nam, mới xây cất trong những năm gần lại đây, thì ngôi mộ giữa là thờ tổ, một bên thờ Hoà thượng Thích Trí Thủ; còn bên kia thờ Hoà thượng Thích Thanh Trí là hai vị có công nhất trong việc tu bổ, tổ chức giáo dục trong chùa và hoạt động xã hội mấy chục năm qua.

Phía bắc chùa có giếng Hàm Long. Như tên gọi của giếng nầy, nước giếng trong veo quanh năm, dưới giếng có tảng đá lớn hình thù giống như đầu con rồng. Chiều sâu của giếng chừng 4,5 thước.

Ca dao xứ Huế có câu: Nước Hàm Long vừa trong, vừa ngọt, Em thương anh rày, có Bụt chứng minh.

Theo lời truyền tụng trong nhân gian thì nước giếng Hàm Long rất quý; ngày trước, những triều vua Nguyễn sai người đến múc nước giếng về dùng trong hoàng thành, nên cấm dân chúng dùng đến, cho nên gọi là Giếng Cấm. Trong chùa Báo Quốc còn lưu lại nhiều tài liệu lịch sử liên quan đến các chặng đường xây dựng.

Những liễn đối, biểu từ, hoành phi có từ đời chúa Nguyễn Phúc Khoát (1737-1765), những chứng liệu của những vị cao tăng đắc đạo qua nhiều thế hệ, các Hoà thượng từ Trung Hoa sang truyền đạo. Ngoài ra cũng cần nhắc đến một đại hồng chung được đúc từ đời vua Gia Long năm thứ 7 (1808).

Linh vị của Đức Hiếu Khương Hoàng Hậu cũng được thờ chính thức tại ngôi chùa lịch sử nầy. Vào thời nhà Nguyễn Tây Sơn đem quân ra vùng Thuận Hoá, đã dùng khu đất trong chu vi chùa Báo Quốc gần Phường Đúc để chứa diêm tiêu dùng trong việc đúc súng đạn trên con đường bắc tiến; nhiều tài liệu còn lưu lại trong chùa đã nói lên sự kiện nầy.

Về giai đoạn đầu tiên, tài liệu cho biết: Chùa Báo Quốc do Hoà thượng Thích Giác Phong khai sáng vào khoảng thế kỷ thứ XVII (có thể 1687). Hồi đó chùa Báo Quốc còn mang tên là Hàm Long Thiên Thọ Tự.Thời sơ khởi, ngôi chùa nầy chỉ là một am tự nhỏ, thờ đức Phật Thích Ca cho những người trong địa phương đến lễ bái cúng tế. Mãi đến thế kỷ sau, mới bắt đầu những chương trình trùng tu. Hai bảo tháp cũng được dựng lên.

Cho đến trung tuần tháng bảy năm 1747, khi lên nắm quyền ở Đàng Trong, chúa Nguyễn Phúc Khoát đã đến lễ chùa và ban một tấm biểu sơn son thiếp vàng có khác Sắc tứ Báo Quốc Tự ; một bên của tấm biểu ghi thêm Quốc Vương từ tế, đạo nhân ngự đề. Năm 1808 đời vua Gia Long, Hiếu Khương Hoàng Hậu đã đứng ra tổ chức việc quyên góp để trùng tu lại ngôi chùa, bảo tháp và la thành, minh đường; nhiều quan lại trong triều đã tham gia trong công trình nầy. Chùa cũng đã được đổi tên ra Thiên Thọ Tự, trích từ một đoạn kinh trong Tứ Thập Nhị Chương.

Cho đến năm 1824 đời vua Minh Mạng, nhân một cuộc lễ trai đàn chẩn tế do hoàng tộc tổ chức tại ngôi chùa nầy và chính nhà vua đã đề nghị chư vị trụ trì và giám thọ trong chùa đổi lại tên là Báo Quốc.

Vào tháng năm năm 1940, vào thời kỳ chấn hưng Phật Giáo Việt Nam, trường Cao đẳng Phật Học đầu tiên đã được khai giảng đầu tiên tại chùa Báo Quốc dưới sự chứng minh của Hoà Thượng Thích Tịnh Khiết. Tháng 8 năm 1948, sau khi Huế hồi cư, Sơn Môn Phật học đường từ chùa Linh Quang cũng đuợc chuyển về chùa Báo Quốc cho tiện việc tập trung giáo dục trên một quy mô rộng lớn hơn.

Nơi đây đã tổ chức nhiều lớp Trung cấp và Cao cấp Phật Học đào tạo nhiều tăng tài. Trong thời kỳ nầy ngươi có công trong việc tổ chức và điều hành là Hoà Thượng Thích Trí Thủ. Ngài cũng là Giám đốc Phật Học Đường Báo quốc.

Về sau, Ngài vào Nha Trang và tổ chức Phật Học Đường cho những tỉnh miền Nam Trung Phần. Báo Quốc trong giai đoạn nầy trở thành một trung tâm đào tạo Phật Giáo nổi tiếng.Hoà Thượng Phật Đăng người Trung Hoa khi đến viếng thăm ngôi chùa nầy đã lưu lại bài thơ sau đây để ngợi ca ngôi chùa nầy:

Cảnh Phật vốn hư không, Uy nghiêm cảnh đại đồng. Thiên nhiên đều siêu thoát, Giải thoát cảnh siêu vong.

CHÙA TỪ ÐÀM

Chùa Từ Đàm là ngôi chùa lịch sử gắn liền với những phong trào chấn hưng Phật Giáo, tranh đấu bình đẳng tôn giáo và chống độc tài tại miền Nam Việt Nam trước đây. Ngôi chùa nầy tọa lạc trên một khoảng đất rộng và cao, khá bằng phẳng, địa thế thuận lợi cho việc giao thông, thuộc phía Đông Bắc của khu vực Trường An hiện nay; chùa cách trung tâm thành phố Huế chừng hai cây số về phía Tây Nam.

Mặt tiền của chùa Từ Đàm sau khi đã được kiến thiết hướng về phía Đông Nam; phía trước có dãy núi Kim Phụng (còn gọi là Long Phụng) làm án; bên phải giáp với đường Nam Giao (tức là Điện Biên Phủ - 1975); bên trái có chùa Linh Quang và cũng là khu nhà thờ nhà chí sĩ Phan Bội Châu; phía sau có chùa Thiên Minh.

Quần thể những ngôi chùa quan trọng tại Huế đã lấy chùa Từ Đàm làm trung tâm.Tính chất kiến trúc tổng quát của chùa Từ Đàm theo mô thức của kiểu nhà hội của những ngôi chùa miền Bắc của thế kỷ XX; chùa đã có sự phối hợp khá nhịp nhàng của những đường nét nghệ thuật kiến trúc pha lẫn cổ điển và hiện đại. Kiểu kiến trúc nầy nhằm mở rộng cơ sở, cao ráo nhưng vẫn giữ được tính chất cổ kính của một ngôi chùa.

Nhìn chung thì chùa Từ Đàm gồm có ba phần chính: a- Cổng tam quan và la thành bao bọc chung quanh chùa. b- Phần chánh điện. c- Nhà khách và trai tăng và nhà tổ.

Cổng chùa Từ Đàm được xây dựng lại vào năm 1947, cao và rộng, có mái ngói theo kiểu Thanh Vân, trông toàn cảnh rất trang nhã. Phía sau cổng có cây bồ đề cao lớn, do nữ học giả Phật Giáo J. Karpelies Hội trưởng Hội Phật Giáo Cao Miên, đưa từ Ấn Độ sang dâng cúng cho chùa vào ngày 12 tháng 5 năm 1936.

Mặt sau chùa Từ Đàm có sân rộng rãi, quang đảng, từng là nơi triệu tập Phật tử toàn thành phố Huế trong những đợt tranh đấu Phật Giáo trước đây.

Phần chính trong chùa gồm có: Tiền đường, chánh điện và nhà Tổ. Phần Tiền đường được xây trên nền móng đá hoa cương của núi Ngũ Hoành Sơn chạy chỉ mỏng, cao1,5 mét; mái được xây theo mô thức cổ điển của những chùa chiền miền Bắc.

Tại những bờ mái chùa và trên nóc chùa có những cặp rồng chầu mặt nguyệt uốn cong, một số hoà hợp với kiểu kiến trúc đời Hậu Lê con rồng nằm trong hạt lệ. Cách bố trí của toàn cảnh thanh thoát, nhẹ nhàng, được nổi bật lên bởi những dòng ngói âm dương (uyên ương) chạy dọc, trông rất hài hoà, cân đối.

Phía dưới có những bức tường đắp nổi. Nội dung trình bày toàn bộ lịch sử đức Phật Thích Ca Mâu Ni từ khi đản sinh cho đến khi nhập diệt qua 5 giai đoạn khác nhau trình bày trong 5 bản vẽ khá đầy đủ, sinh động và nhiều ý nghĩa.

Chạy dọc theo những cột trụ của phía Tiền Đường là 6 câu đối nét chữ cực kỳ sắc sảo, theo lối hài văn thường thấy trong nghệ thuật viết bút tự Trung Quốc.

Những hoành phi với nét vô cùng sắc sảo do vua Tự Đức ban tặng cho ngôi chùa vào năm 1848 và 1949. Hai bên tả hữu của chùa có hai lầu chuông xây cất cũng trong thời gian vừa nói, nhưng đến năm 1885 trong lúc thất thủ kinh đô thì bị phá hủy gần như toàn vẹn với nhiều cơ sở tôn giáo khác trong vùng nầy.

Từ Đàm về sau là trụ sở chính của Hội Phật Học Trung Việt cho nên toàn bộ những phòng ốc khá rộng rãi, khang trang, có đến 10 căn san sát nhau. So sánh quang cảnh quá khứ và hiện tại thì cảnh chùa khác nhau nhiều.

Theo nhà học giả Trần văn Giáp thì: Chùa Từ Đàm là do Hoà Thượng Minh Hoàng Tử Dung sáng lập vào năm 1696 dưới đời chúa Nguyễn phát triển ở Đàng Trong. Chùa cũng trải qua nhiều biến chuyển, nên suy thoái nhiều và cũng được kiến tạo nhiều lần. Hoà Thượng Từ Dung là người xã Quế Sơn tỉnh Thiễm Tây Trung Hoa, thuộc dòng Thiền Tông Lâm Tế, một tông phái có ảnh hưởng lớn với Phật Giáo Việt Nam trong thời kỳ đó.

Ngài là vị cao tăng đã từng truyền pháp và ấn chứng cho Hoà Thượng Liễu Quán, vị tổ sư Thiền Việt Nam đã khai đạo ở Đàng Trong dưới thời chúa Nguyễn có công Phật Giáo ở vùng nầy.

Cho đến mùa thu năm 1703, để ghi những công trình xây dựng Phật Giáo toàn vùng nầy, chúa Nguyễn Phúc Chu đã ban tặng chư tăng tại chùa Từ Đàm tấm biển vàng có ghi những chữ Sắc Tứ Ấn Tôn Tự. Cũng từ đó Ấn Tôn trở thành danh tự của ngôi chùa nầy trong thời gian lâu dài.

Mãi cho đến năm Thiệu Trị Nguyên Niên (1841) nhà vua đến lễ bái, nhân dịp trai đàn chẩn tế do triều đình tổ chức, đã đổi thành chùa Từ Đàm. Tuy vị thế và cảnh trí cùng kiến trúc của chùa Từ Đàm không có những đường nét cổ kính như chùa Thiên Mụ, nhưng từng là nơi phát xuất những phong trào Phật Giáo trong cuộc chấn hưng, canh tân, cũng như cuộc tranh đấu Phật Giáo 1963.

Cụ Tâm Minh Lê Đình Thám, giảng sư của các lớp Cao Đẳng Phật Học, người thành lập Đoàn Phật Học Đức Dục cũng từng giảng dạy và hoạt động dưới mái chùa nầy trong thập niên 30 và 40 của thế kỷ XX. Tháng 11 năm 1936, trong phong trào canh tân tổ chức Phật Giáo Miền Trung, chùa Từ Đàm đã trở thành trụ sở chính của An Nam Phật Học Hội.

Tháng 4 năm 1951, hội nghị thống nhất Phật Giáo Việt Nam khắp ba kỳ cũng được tổ chức lần đầu tại đây, mở đấu cho những cuộc vận động kết hợp thành công về sau nầy.

CHÙA THUYỀN TÔN

Chùa Thuyền Tôn thuộc địa phận của xã Dương Xuân ngày trước, nay là thôn Ngũ Tây, xã Thủy An, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên.

Ngôi chùa nầy kiến tạo trên một ngọn đồi cao, mặt hướng về phía Tây Bắc; nhìn xuống phía dưới là một vùng gò đất bằng phẳng, có nhiều khe suối ngang dọc chảy qua; bên phải chùa là phía triền thấp của núi Thiên Thai; cho nên trước kia, ngôi chùa nầy lại còn có tên là Thiên Thai Thiền Tự cũng còn gọi là Thiên Thai Nội Tự, theo bản sắc phong của vua Minh Mạng năm 1825.

Phía trái của ngôi chùa là những dãy đồi chập chùng, nối kế đuôi nhau. Sau lưng là phía đầu của ngọn núi, quanh năm mây trắng lửng lờ; nhiều hàng thông bát ngát nối nhau tưởng chừng như bất tận; một cảnh trí hùng vĩ trang nghiêm và siêu thoát trong toàn bộ cảnh quan của vùng nầy.

Con đường từ vùng chánh lộ vào chùa khá quanh co, khúc khuỷu, phải ngang qua vùng Đàn Nam Giao trước kia, theo con đường vào Nghĩa Trang hiện nay của thành phố.

Đây cũng chính là mồ chôn tập thể trong biến cố Mậu Thân 1968. Một chiếc cầu dẫn vào chùa phải đi ngang qua con kênh Thủy Lợi Nam, do dân Huế đào trong khoảng 1977-1978, nhưng nay thì đã khô cạn. Rẻ vào đường, đi chừng hai cây số thì thấy được tìm bảng gỗ đề Tổ đình Thuyền Tôn.

Cảnh trí trong vùng nầy thật u tịch, phải đi quanh co theo những đường đồi nghiêng thoai thoải, khi lên, khi xuống, lại qua những khe suối nhỏ và lưng chừng của sườn núi. Thành thử vùng đất chùa nầy khá hoang vu, cô tịch nếu so với những ngôi chùa khác trong vùng. Một công trình kiến trúc nổi tiếng trong vùng nầy là tháp Liễu Quán. Nghệ thuật xây dựng và điêu khắc của ngôi tháp nầy khá hài hoà, khúc chiết, nếu so với những ngôi tháp các chùa khác.

Sau lưng chùa Thuyền Tôn, sâu vào trong núi, còn có một bảo tháp khác, lớn hơn và tinh vi hơn: đó là bảo tháp của ngài Đệ Nhị Tăng Thống Giáo Hội PGVNTN Đại Lão Hoà Thượng Thích Giác Nhiên, cố trụ trì của chùa Thuyền Tôn. Cả hai ngôi tháp nầy được ca tụng là đẹp nhất trong toàn vùng nầy.

Những tài liệu lịch sử Phật Giáo Việt Nam dẫn: Chùa Thuyền Tôn nguyên trước do Hoà Thượng Liễu Quán khai sáng ra vào trung tuần tháng sáu năm 1708 thì hoàn thành. Cơ sở nầy ban đầu còn thô sơ, nhà tranh vách đất, nhưng về sau những vị cao tăng kế nhiệm đã ra công tu bổ dần thêm.

Vào trung tuần tháng chín năm Cảnh Hưng thứ bảy (1747), Đàn Việt Chương Thái Giám là Mai văn Hoan, pháp danh Tế Y, vốn sinh trưởng trong vùng nầy, đã bỏ nhiều công sức và tiền bạc để trùng tu ngôi chùa trở nên khang trang hơn. Một bảo tháp dựng lên để thờ ngài Liễu Quán; lại đúc thêm một đại hồng chung mà nay vẫn còn. Mai Văn Hoan cũng đã ra sức vận động thiện nam, tín nữ góp tiền để mua nhiều vùng đất cúng chùa, dùng làm sở phí hương khói quanh năm. Nhờ vậy, càng ngày ngôi chùa trở nên rộng thoáng, đầy đủ những cơ sở tu hành và chiêm bái, tụng niệm.

Qua thời kỳ Tây Sơn, chiến tranh xẩy ra vô cùng gay gắt trong vùng nầy; ngôi chùa Thuyền Tôn hư hại gần như hoàn toàn, hoang phế đi một thời gian khá lâu. Cho đến năm 1810, đời vua Gia Long thứ chín, một tín đồ thuần thành tên là Lê Thị Tạ (có sách chép là Lê Thị Tài) đã đứng ra quyên góp để tu sửa lại toàn diện ngôi chùa nầy; hai năm sau thì toàn bộ đã hoàn tất và một lễ trai đàn cũng được tổ chức vào tháng 12 năm đó. Ngoài ra bà ta cũng cho sưu tầm lại nhưng văn khế liên quan đến chùa, vận động để chuộc lại những phần đất bị tranh cướp đi. Thế là chùa có được cơ sở vững chắc để kiện toàn thêm nữa.

Mùa đông năm 1937, những trận lụt và bão tố liên tiếp xẩy ra trong vùng đồi núi nầy, khiến cho ngôi chùa lại bị thiệt hại nặng nề. Hoà Thượng Thích Giác Nhiên, trụ trì chùa đã đứng ra kêu gọi thiện nam tín nữ góp công sức, tịnh tài để xây dựng trở lại lần thứ ba. Phải mất ba năm ròng rã mới tiến hành nổi.

Lần nầy ngôi chùa được xây dựng bằng những vật liệu kiên cố, bê tông cốt sắt, để tránh những tai nạn bất ngờ. Một phong trào quyên góp xây cất để hoàn trả lại những giá trị trang nghiêm và vững chi cho chùa. Tuy dùng vật liệu mới, nhưng sơ đồ xây dựng toàn bộ cũng được nhiều kiến trúc sư góp ý nên vẫn giữ được những đường nét trang nghiêm của một nơi thờ phụng trang nghiêm.

Năm 1942, khi phong trào chấn hưng Phật Giáo trên đà phát triển, Hoà thượng Giác Nhiên đã cho mở trung tâm giáo dục Phật Giáo tại chùa để xiển dương những tưtưởng của Ngài Thái Hư Đại Sư. Cho đến nay, thì chùa Thuyền Tôn đã trở thành một trong những ngôi thiền tự lớn nhất tại cố đô Huế, dù ở tại vùng khá hẻo lánh.

Đây cũng là tổ đình của Thiền Phái Liễu Quán, một hệ phái của Thiền Lâm Tế truyền bá từ Trung Hoa sang Việt Nam. Hiện nay, trước sânchùa còn ghi lại bài văn bia của Ngài Liễu Quán:

Thiệt tế đại đạo, Tánh hải thanh trừng Tâm nguyên quảng nhuận Đức bổn từ phong. Giới định phước huệ Thể dụng viên thông Vĩnh siêu trí quả Mật khế thành công. Truyền kỷ diệu lý, Diễn tướng chánh tông. Hạnh giải tương ứng Đại ngôi chơn không.

Những thế hệ kế tiếp của Thiền phái Liễu Quán đã theo thứ tự danh xưng (chữ đầu) trong bài kệ nầy để đặt Pháp danh cho mình.

Trước ngôi tháp của ngài Liễu Quán còn có hai câu đối:

Bảo đạt trường minh, bất đoạn mãn tiền lưu lạc thủy, Pháp thân độc lộ, y nhiên tọa lý khán thanh sơn.

Nghĩa là:

Tiếng mõ vang lừng, trước ngõ không ngừng dòng suối biếc, Pháp thân vòi vọi, quanh toà cao ngất dãy non xanh.

Hoà thượng Thích Giác Nhiên viên tịch vào tháng tư năm 1979. Đại đệ tử của Ngài là Hoà thượng Thích Thiện Siêu kế tiếp trụ trì chùa Thuyền Tôn.

CHÙA TỪ HIẾU

Chùa Từ Hiếu ở cách trung tâm thành phố Huế chừng 5 cây số về phía Tây Nam, trong địa phận của làng Dương Xuân.

Nếu du khách đi từ Đàn Nam Giao theo con đường mòn đến lăng vua Tự Đức, khi qua khỏi khu vực những bảo tháp, thì có con đường rẻ về phía phải; đi sâu vào chừng 300 mét thì đến chùa Từ Hiếu.

Chùa Từ Hiếu có những nét đặc thù riêng của nó, về phương diện kiến trúc, điêu khắc, hội họa cũng như cảnh quan của chùa. Chùa tọa lạc trên một vùng đất rộng chừng 8 mẫu tây, do một vị Hoàng Thân đời chúa Nguyễn là Thịnh Diên Vương cúng dường và điều động trong việc quyên góp để xây dựng chùa.

Chung quanh chùa là vùng đồi núi bao la, trơng thật tĩnh mịch lạ thường, so với những ngôi cổ tự khác trong vùng nầy. Trước mặt chùa có nhiều khe nước uốn quanh, nhiều chiếc cầu nhỏ bắc ngang; mỗi chiếc cầu được đặt tên thơ mộng: Thúy lãm kiều, Đại thiên kiều, Thanh tịnh kiều, Báo ân kiều...

Mặt chùa đặt về hướng đông, đối diện là một ngôi bảo tháp thờ ngài Nguyên Thanh, một trong những vị sư có công trùng tu chùa nầy đã trải qua nhiều giai đoạn biến động và tàn phá. Tháp Bồ Đề được lập lên để thờ Tuyên Quận Vương, một Tôn thất nhà Nguyễn từng đóng góp nhiều trong các chương trình xây dựng ban đầu. Tháp nầy cũng dùng để tàng trữ nhiều kinh sách, Phật bảo, sắc phong của nhà vua. Tháp bị tàn phá nhiều lần, nhưng vẫn còn giữ được những tài liệu kinh sách quý giá.

Về phía trái là phần nằm sát với khuôn viên của chùa Từ Hiếu, có lăng của bà Tuyên Phi Lê Thị Nhàn, một trong những phụ nữ đóng góp nhiều công sức tu bổ sau nầy. Lăng tẫm nầy được bao quanh bởi những la thành cao và rộng, dài chừng 30 mét, rộng 33 mét, lát toàn bằng đá ong.

Đây là lăng tẩm duy nhất của triều Nguyễn đến nay vẫn còn được nguyên vẹn trong khi những di tích khác đã không còn nữa. Về kiến trúc đại thể, chùa Từ Hiếu xây theo hình chữ khẩu, được bao kín bốn phía trong một khung cảnh thâm u.

Chánh điện thờ đức Thích Ca trong dạng Tuyết Sơn; hai bên là tượng của đức Phật Di Đà và Di Lặc. Phía sau chùa là một ngôi biểu tự dùng trong việc thờ cúng vị tổ khai sáng ngôi chùa nầy.

Nhà hậu có tên là Quảng Hiếu đường, ở giữa thờ Ngài Thánh Quang; bên trái là nhà Tổ, thờ những hương linh của các tín đồ thuần thành với ngôi cổ tự nầy. Ngoài ra còn có án thờ Tả quân Lê Văn Duyệt, một trung thành của vua Gia Long. Theo những tài liệu còn lưu lại thì Tả quân đã có công đánh đuổi những bọn cướp thường hay đến quấy phá vùng nầy, đồng thời cũng góp công không nhỏ trong việc trùng tu chùa.

Khi Tả quân bị hại, thì nhiều kẻ nịnh thần gièm xiểm đòi tiêu hủy điện thờ nầy nhưng đã được các vị tăng trong chùa ra sức bảo vệ, cho đến khi bản án Lê Văn Duyệt được giải oan thì mới thôi.

Một phần của chùa thờ Quan Công có thêm Bát Đại Kim Cương là những thần bảo vệ chùa chiền. Ảnh hưởng của Lão Giáo đã ảnh hưởng trong lề lối thờ phụng nầy, như thường thấy trong nhiều chùa chiền khác. Hai bên có nhà hậu, nhà tăng có tên là Tả Lạc Thiên, nhà khách có tên là Hữu Ái Nhật. Cổng chùa được xây theo kiểu vòm, như kiểu vòm chùa Trấn An ở Hải Dương, chùa Khuông Vân ở Lạng Sơn, chùa Tuyên Hoá ở Bắc Ninh...

Phía trước chùa có cửa tam quan được kiến trúc công phu. Những hình tượngdùng trong kiến trúc là long, lân, quy phụng rất sốngđộng, hình sóng nước muôn màu muôn vẻ.

Tài liệu của Thượng Toạ Thích Mật Thể cho biết về chùa Từ Hiếu như sau: Hoà thượng Thích Nhất Định là một vị chân tu nhưng cũng là người con chí hiếu.

Khi trở thành trụ trì của chùa nầy (tên trước là An Dưỡng Am) ngài đưa thân mẫu đến chùa để tiện bề chăm sóc những khi đau yếu. Nhưng vì không quen cảnh chay trường cho nên sức khoẻ của bà mẹ ngày càng suy kiệt dần. Những vị danh y đến lo thuốc men khuyên Ngài nên tìm cách bồi dưỡng chất dinh dưỡng cho mẹ, tốt nhất là nên cho ăn thêm cá thịt.

Hoà thượng liền nghe theo, nên đã xuống chợ Bến Ngự và chợ Dương Xuân để mua những thực phẩm nầy trở về chùa. Nhiều người ngạc nhiên, có kẻ lại phê phán kịch liệt. Nhưng Hoà thượng vẫn bỏ ngoài tai tất cả, chỉ mong sao cho mẹ được hồi phục sức khoẻ mà thôi. Kết quả đã được như ý nguyện.

Vua Tự Đức nghe biết được câu chuyện và để trấn áp dư luận không hay, cho nên năm 1849 đã ban cho chùa một tấm vương biểu có khắc những chữ Sắc Từ Hiếu tự. Danh từ Từ Hiếu ra đời từ đó và câu chuyện mẹ từ, con hiếu cũng được dân chúng truyền tụng.

Như đã nói phần trên, chùa Từ Hiếu nguyên tên là AnDưỡng Am sau lại được đổi là Trấn Như Am, chỉ là am thiền nhỏ. Am nầy được dựng lên vào năm 1843 đời vua Thiệu Trị. Lúc đó, nhà vua cũng đã cung cấp cho chùa một số đất ruộng chung quanh, nhưng vì là vùng đồi núi nên khôngtiện cho việc canh tác.

Nhưng theo tài liệu ghi chép trong Đại Nam Nhất Thống Chí, có những điểm cần lưu ý nhất về nguồn gốc của ngôi chùa nầy:

1- Xuất xứ của ngôi chùa được kiến tạo cùng một thời kỳ của chùa Thiên Mụ tức là vào khoảng thế kỷ thứ 17, nhưng sau đó thì đã bị hủy hoại.

2- Đời vua Thiệu Trị, một vị quan trong triều là Cung Gián Châu Nguyễn Phước Năng hiệu là Vĩnh Hoàn, vốn giòng hoàng tộc, đã đứng ra xây cất và cũng quyên gópthêm trong số thiện nam, tín nữ để hoàn tất. Chùa cất trên nền đất của chùa cũ và có tên là An Dưỡng Am.

3- Phàm những Thái Giám trong triều khi lâm chung mà trong gia đình không có họ hàng thân thích cúng bái thường xuyên thì được đưa vào thờ tại nhà Tổ của chùa Từ Hiếu. Đồng thời, những di sản, di vật của những vị nầy nếu không ai quản lý cũng có thể cúng cho chùa để thêm phần tiền hương khói, ma chay hay lập đàn tràng cho họ.

Những tục lệ đó vẫn còn tồn tại mãi cho đến khi nhà Nguyễn cáo chung mới thôi. Thành thử những ngày lễ Xá Tội Vong Nhân hay trai đàn chẩn tế tại chùa được tổ chức trọng thể, cả đến những vị quan trong Lễ Bộ cũng đến dâng hương cúng bái nữa.

Một nghi lễ khác cho những vị thái giám nầy được gọi là Lễ Phát Chính. Lễ nầy được tổ chức vào ngày 17 trong mỗi tháng. Đây cũng là ngày mà nội thành Huế thường làm lễ tuyển mộ quan thái giám hằng năm.

CHÙA TƯỜNG VÂN

Chùa Tường Vân nằm về phía tây thành phố Huế, toạ lạc trên một quả đồi cách chùa Từ Đàm khoảng 500 mét. Khi lên hết dốc Nam Giao, đổ xuống dốc Từ Đàm, theo một lối đi nhỏ về phía tay phải, qua khỏi chùa Kiều Đàm, chùa Hương Sơn, đi sâu chừng nửa cây số, thì thấy cổng chùa Tường Vân.

Về cách bố cục của toàn thể ngôi chùa được thấy phân chia như sau đây: Trước hết về phía chánh điện, sau khi qua khỏi minh đường, thì thấy bàn thờ chính; trên đó đức Thích Ca Mâu Ni ở giữa; hai bên là đức Phật A Di Đà và đức Đương Lai Hạ Sanh Di Lặc Tôn Phật. Hình ảnh nầy cũng thường trong đa số những ngôi chùa miền Trung.

Đi sâu vào thì thấy có tượng của Ngài Địa Tạng Vương Bồ Tát, đức Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Đại Bi Quan Thế Âm Bồ Tát. Những bảo vật và những Pháp bảo cũng được thờ cúng ở chánh điện chùa nầy. Phía trên có bức hoành phi, ghi những chữ Sắc Tứ Tường Vân Tự.

Theo những tài liệu còn lưu lại thì bức hoàng phi nầy là do Đức Quận Công Như Phu Nhân, pháp danh là Thanh Từ bái tiến cho chùa, vào tiết Lập Xuân năm Thành Thái Bính Thân (1896).

Ngoài ra, còn có bốn bức hoành phi khác do những quận công trong triều từng đến cúng bái dâng tặng. Cũng còn nhiều bức tranh lụa do những danh sư từ Trung Hoa sang dâng cúng.

Sau chánh điện là nơi thờ Tổ khai sáng ra ngôi chùa Tường Vân; án giữa thờ ngài Thích Huệ Cảnh và ngài Thích Hải Toàn; án bên trái thờ ngài Thích Tịnh Nhẫn, Thích Viên Quang và Thích Chánh Pháp; án bên phải thờ ngài Thích Thanh Thái; đi sâu vào nữa, phía giữa thờ ngài Thích Tịnh Khiết và Thích Tịnh Hạnh.

Lùi về phía sau là hậu đường của chùa, nơi thờ cúng Thập phương bổn đạo đến ký linh trải qua nhiều đời. Nối tiếp đó, phía góc trái là Khách đường; bên phải là Tăng đường. Giảng đường của chùa xây ở phía trước, nhìn ra về chái hữu của chánh điện.

Căn cứ theo những bia văn còn lưu lại đến ngày nay thì: Trong giai đoạn đầu tiên của chùa Tường Vân thì chỉ là một thảo am; bên trái của chùa là một quả đồi thấp Bên phải chùa, nhìn xa là đàn Nam Giao; phía sau nữa là chùa Từ Hiếu. Ngày trước, chung quanh ngôi chùa nầy không có một cư dân nào đến để sinh sống lập nghiệp; chùa nằm sâu thẳm trong một vùng đồi núi tĩnh mịch; quanh năm ít thấy một bóng người vãn lai.

Những tài liệu lịch sử cho biết: Chùa Tường Vân được khai sáng do công trình kiên trì của hoà thượng Thích Huệ Cảnh, thuộc đời thứ 38 của dòng Lâm Tế, vào khoảng năm 1843 dưới đời vua Thiệu Trị.

Căn cứ theo bài Minh của Tuy Lý Vương ghi chép lại trong Văn Cảnh Tùng Thư có đề cập đến chuyện Tuy Lý Vương tiếp xúc với Thiền Sư Huệ Cảnh, lưu lại nhiều bài thơ xướng họa về tư tưởng Phật Giáo trong thời kỳ nầy.

Hoà Thượng Thích Huệ Cảnh sống và truyền giáo đồng thời với Hoà Thượng Thích Nhất Chân, trụ trì chùa Từ Quang, cũng thuộc dòng Thiền Lâm Tế chánh tông.

Theo tài liệu của Thượng Tọa Thích Mật Thể thì: Hai vị thiền sư nầy nhận thấy ngài Hải Toàn tu hành và bảo trì giới hạnh cực kỳ nghiêm ngặt, cho nên trước khi viên tịch đã thận trọng căn dặn môn đồ của mình cung thỉnh ngài Hải Toàn thừa kế trụ trì, hòng xây dựng được phép tắc tu trì nghiêm ngặt.

Ngài Hải Toàn đã vâng theo, chăm lo hương khói, lễ lượt, đồng thời cũng đã bỏ ra nhiều công sức để quyên góp thập phương trùng tu lại ngôi chùa Tường Vân lại thêm khang trang để tín đồ lễ bái, cúng dường, học đạo. Hồi đó, ngôi thảo am của chùa Tường Vân được sát nhập chung với chùa Từ Quang trong một thời gian, ở vị trí của chùa Tường Vân hiện nay. Hiệu tự Tường Vân cũng được khai sinh trong thời kỳ nầy.

Trước khi ngài Hải Toàn viên tịch, thì truyền lại chức vụ trụ trì lại cho ngài Thanh Thái. Trong thời gian nầy, vì có nhiều thiện duyên nên chùa được trùng tu thêm nhiều. Ngôi tiền đường khang trang. Những bi ký cũng đã được sửa sang và dựng lại để ghi chép đầy đủ những chi tiết chung quanh vấn đề phát triển chùa Tường Vân.

Những vị kế thừa sự nghiệp của ngài Thanh Thái gồm có: Ngài Tịnh Nhân, Ngài Tịnh Hạnh, ngài Tịnh Khiết. Tháng 3 năm 1972, Hoà thượng Tịnh Khiết đã khởi công mở cuộc trùng tu lớn lao thêm chùa Tường Vân, cho nên phạm vi chùa cũng đã được nới rộng ra thêm nhiều. Năm sau (1973) ngài Tịnh Khiết viên tịch, thì ngài Viên Quang kế vị trụ trì chùa Tường Vân.

Tiếp theo là ngài Chánh Pháp. Sau ngài Chánh Pháp viên tịch thì không ai đảm nhiệm chức vụ nầy trong một thời gian; mãi 3 năm sau, Hoà thượng Thích Minh Châu, đệ tử lỗi lạc của Hoà thượng Tịnh Khiết mới chính thức được suy cử làm trụ trì ngôi chùa nầy.

Nhìn chung lại, chùa Tường Vân chưa hẳn là ngôi chùa cổ nhất trong vùng đế kinh, tuy nhiên về lãnh vực xây dựng và truyền bá Phật pháp, thì Tổ đình nầy đã đóng một vai trò quan trọng. Một số môn đồ chùa Tường Vân trong mấy chục năm qua, đã trở thành các nhân vật quan trọng trong hàng giáo phẩm Phật Giáo Việt Nam, qua những biến chuyển mãnh liệt: cố hoà thượng Viên Quang là thành viên của Hội đồng Tăng thống Giáo hội PGVNTN; cố hoà thượng Thích Tịnh Khiết là Tăng thống Giáo hội PGVNTN. trong suốt 40 năm qua,

Hoà thượng Tịnh Khiết đã đảm nhiệm nhiều chức vụ quan trọng: Giám đốc Đạo Hạnh trường Cao Đẳng Phật Học; khai sinh Phật Học đường Tường Vân và Báo Quốc; lãnh đạo Giáo hội. Qua từng giai đoạn lịch sử Phật Giáo thời cận đại và hiện đại, Phật giáo đồ đã hướng về chùa Tường Vân, hình ảnh của sức bột khởi bất khuất của Phật Giáo ViệtNam.


... CÒN TIẾP ...



. © Tác giả giữ bản quyền
. Tác phẩm cập nhật ngày 06.04.2012.
. Đăng tải lại xin vui lòng ghi rõ nguồn Newvietart.com ©