Bảo Tồn Di Sản
Thơ Văn Truyền Thống và Hán Nôm










Ngày 11- 3- 2012 tại Văn Miếu Quốc Tử Giám đã diễn ra “Đại hội Câu lạc bộ di sản thơ văn truyền thống và Hán Nôm” (CLB DSTVTT và HN) với sự hiện diện của các nhà nghiên cứu, dịch giả, nhà văn, nhà thơ và những người say mê, tâm huyết với nền văn hoá dân tộc các vùng miền cả nước. Ban chấp hành Trung ương Hội Di sản Văn hoá Việt Nam ra quyết định công nhận Ban chủ nhiệm CLB DSTVTT và HN do tiến sĩ Đinh Công Vỹ làm Chủ nhiệm. Công an đã cấp con dấu riêng.

Trong diễn văn khai mạc G.S Phan Văn Các nguyên Viện trưởng Viện nghiên cứu Hán Nôm Chủ nhiệm danh dự CLB DSTVTT và HN nhấn mạnh: “Nước Việt Nam mở đa phương, đa diện giao lưu với năm châu bốn biển. Dân trí mở rộng hơn lúc nào hết. Nên vấn đề trở về cội nguồn dân tộc, trở về với truyền thống (trong đó có các di sản Thơ Văn Truyền Thống và Hán Nôm) là một đòi hỏi cấp bách và vô cùng cần thiết”.

Tiến sĩ Đinh Công Vĩ với Đề án hoạt động của CLB đã phân tích sâu về cội nguồn DSTVTT và những minh chứng lịch sử. Trả lời câu hỏi: “Thế nào là truyền thống?”.

- Truyền thống là sự nối tiếp lịch sử. Đào Duy Anh định nghĩa “Truyền thống” là đời nọ truyền xuống đời kia. Truyền thống là cả một quá trình vận động tiếp nối lịch sử. Con cháu tiếp nối cha ông.

Nguyễn Trãi khẳng định “Nước ta là một nước văn hiến” (Bình Ngô Đạ Cáo) bao gồm nhân tài, người sáng tạo nên các tác phẩm và văn bản tác phẩm. Trước tiên phải kể đến các tác phẩm Hán Nôm.

GS Trần Nghĩa khẳng định:

“Kho sách Hán Nôm là kho trí tuệ. Ở Việt Nam qua giao lưu văn hoá, chữ Hán đã có mặt ít ra từ đầu thiên niên kỷ trước CN. Tuy nhiên chữ Hán chỉ thực sự trở thành phương tiện ghi chép và truyền thông trong tay người Việt kể từ đầu CN trở đi”.

Định hình rõ hơn có thể tính từ thời độc lập tự chủ với bài văn “Dư đại phá Hoàng Thao chi kế” (Kế đánh tan quân Hoàng Thao) mà sử sách truyền là của Ngô Vương Quyền (899- 944) tới các tác phẩm Hán văn của Chủ tịch Hồ Chí Minh thì nước ta có lịch sử trên dưới một nghìn năm được khẳng định trên văn bản.

Khoa cử nước ta có từ đời Lý. Năm 1070 Lý Thánh Tông mở trường Nho học tại Thăng Long, xây Văn Miếu. Năm 1075 mở khoa thi ba kỳ, kén người minh kinh bác học làm quan. Lê Văn Thịnh người Kinh Bắc đỗ đầu, trở thành vị khai khoa cho truyền thống khoa cử ngót nghìn năm. Khoa thi cuối cùng, triều Nguyễn năm 1919, Võ Khắc Triển người Quảng Bình đỗ tiến sĩ, hiến dâng cho chế độ Việt Nam dân chủ cộng hòa , một nhân cách nhà Nho.

Năm 1232, Trần Thái Tông tổ chức thi Thái học sinh định ra ba bậc: Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa. Trần Duệ Tông (1370) đổi tên Thái học sinh thành Tiến sĩ. Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa, Hoàng giáp gọi là tiến sĩ cập đệ, dưới nữa gọi là tiến sĩ đồng cập đệ. Mở khoa thi hương, ai đỗ gọi là cử nhân. Đỗ cử nhân mới được thi hội.

Vua Lê Thái Tông (1438) đổi lại phép thi, cứ ba năm mở một khóa. Thi hương, thi hội, thi đình, ai đỗ đình mới định hơn kém mà chia tam giáp. Năm 1484 dựng mười tấm bia tiến sĩ của mười khoa thi từ 1442- 1484 tại Văn Miếu- Quốc Tử Giám.

Lê Thánh Tông (1467) định lệ đỗ tiến sĩ được truyền loa và vinh qui bái tổ. Năm 1486 định lệ ban yến cho tiến sĩ và ban thưởng áo mũ.

Mười thế kỷ, từ khoa thi đầu tiên 1075 đến khoa thi cuối cùng năm 1919, có 185 khoa thi, với 2898 vị đỗ đại khoa gồm: 47 trạng nguyên, 48 bảng nhãn, 75 thám hoa, 2462 tiến sĩ, 266 phó bảng.

Mục tiêu của Nho học là đào tạo ra những con người biết tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ. Những người đỗ cao đều sống có bản lĩnh văn hóa vững như thạch, và hiến dâng trí tuệ, tâm hồn, xây nền văn hiến Việt Nam. Người cuối cùng trong giới trí thức Nho giáo, ngời sáng nhân cách kẻ sĩ là cụ Nghè Võ Khắc Triển (1883- 1966) vị tiến sĩ cuối cùng của Nho học Việt Nam.

Đầu thế kỷ XX. Năm 1919 khoa cử truyền thống đã bị phế bỏ hoàn toàn ở nước ta. Nền giáo dục Việt Nam đã đi theo “Học chính tổng qui” cả Nhà nước thống trị Thực dân Pháp. Sau đó vài ba thập kỷ, ra đời tầng lớp trí thức tân học. Chữ Quốc ngữ với đặc điểm hết sức ưu việt so với chữ Hán đã chiếm địa vị độc tôn, đẩy chữ Hán vào dĩ vãng. Nhà thơ Tản Đà ôm nàng thơ cũ của mình khóc:

“Văn minh Đông Á trời thu sạch
Nay lúc cương thường đảo ngược ru”

Nhưng qua những thăng trầm mưa gió thời gian, những Tinh hoa văn hoá Hán Nôm trong đó có thơ văn truyền thống ngàn năm sau đâu dễ xoá nhoà.

Vào những năm 1980 của thế kỷ XX trở đi, vị trí của văn hoá truyền thống ngày càng nổi bật. Học giả Nguyễn Thạch Giang viết: “Di sản Hán Nôm hiện thân của văn hoá dân tộc”.

Unesco ra tuyên bố tiếng nói chung của các nhà khoa học hàng đầu thế giới nêu rõ công cuộc nghiên cứu đa bộ môn thông qua trao đổi năng động giữa các khoa học chính xác, các khoa học xã hội nghệ thuật và truyền thống trở thành cấp bách.

Tuyên bố này rất phù hợp với quan niệm truyền thống của nước ta: “Văn sử triết bất phân”. Thơ truyền thống không thể chỉ là một thế giới riêng biệt mà phải gắn với văn truyền thống, gắn với văn bản Hán Nôm.

Vậy nên thơ văn truyền thống và Hán Nôm được ứng dụng mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Từ những năm 1990 thế kỷ XX, đền chùa, miếu, nhà thờ tổ, lăng tẩm, được chăm sóc, khám phá tri thức, dịch thuật chữ Hán Nôm, phiên âm, chú giải phục vụ tham quan du lịch…

Năm nghìn bộ sách Hán Nôm chứa ở các thư viện và biết bao các cuốn sách khác ẩn náu trong dân gian. Biết bao bài thơ lục bát, khúc ngâm song thất lục bát, thơ cổ phong, thơ Đường luật, các thể văn biền ngẫu, tiểu thuyết, bút ký, tiểu thuyết lịch sử, tiểu thuyết công án, tiểu thuyết truyền kỳ, sắc phong, gia phả, hương ước… đang được nhiều người tìm hiểu Tinh hoa, học tập.

Thiêng liêng hơn, ẩn sâu dưới những tác phẩm thơ văn truyền thống và Hán Nôm là hình bóng Hiền Tài Đất Việt (NXB Lao Động- 2005). Linh khí ông bà cha mẹ, thác rồi còn gửi Tinh anh, giúp con cháu giữ nước, giữ nhà, sống đời hiền có Đạo Mẹ Việt Nam mà chúng ta thường nói: “Hiền tài là nguyên khí Quốc gia”.

Nguyên khí Quốc gia nằm trong hai từ “di sản”, đặc biệt là di sản chữ các cụ để lại. Nhân cách sáng ngời của Nguyễn Trãi Sao Khuê, hiển hiện trong khối thơ văn chữ Hán chữ Nôm khổng lồ Người gửi lại. Còn Nguyễn Thị Lộ, người vợ hiền yêu quí của Nguyễn Trãi đến những giây phút cuối cùng ở Côn Sơn, trước đêm xảy ra thảm án Lệ Chi Viên, là không thể xấu. Bà luôn xứng đáng với tình yêu của Nguyễn Trãi dành cho Bà. Di sản thơ văn Nguyễn Trãi gửi lại muôn đời khẳng định mãnh liệt rằng Nguyễn Trãi không một phút giây nào dành tình yêu cao quí của mình cho kẻ xấu. Nguyễn Thị Lộ là người được Nguyễn Trãi yêu đến giây phút cuối cùng của đời ông. Con cháu cụ Lộ ngày nay, không thể dựa vào nghệ thuật hư cấu mà bóp méo nhân cách của cụ. Bên cụ Lộ còn Nguyễn Trãi Sao Khuê.

Lịch sử khoa cử nước ta có nhiều ý tinh, phép tốt. Người nào thực có đức hạnh mới được đi thi. Những kẻ bất hiếu, bất mục, loạn luân, điêu toa, dù có tài văn hay cũng không được dự tuyển. “Lựa người cốt đức hạnh mà không chuyên chuộng quá nhiều về văn chương. Xét người xem đức hạnh trong cuộc sống hằng ngày không chỉ xem việc làm trong chốc lát mà còn tham khảo nhận xét của các quan địa phương về đức hạnh” (Sách Thi cử, học vị, học hàm dưới các triều đại phong kiến Việt Nam- Đinh Văn Niêm- NXB Lao Động- 2011).

Lịch sử khoa cử Việt Nam đã sản sinh ra những hiền tài và để lại kho báu chữ Hán Nôm. Chỉ riêng mình Lê Quý Đôn đã để lại cho chúng ta kho báu vô giá về nhiều lĩnh vực ứng dụng bậc thầy cho việc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hôm nay.

Lê Quý Đôn (1726- 1784) quê Trấn Sơn Nam Hạ (Hưng Hà- Thái Bình), sinh ra lớn lên tại phường Bích Câu- Thăng Long, chứng kiến mối tình cảm động của Đoàn Thị Điểm với TS Nguyễn Kiều. Lê Quý Đôn để lại bốn mươi bộ sách về lịch sử, địa lý, văn thơ, lý số, triết học. Tinh hoa Thăng Long đã hun đúc tài năng lớn. Lê Quý Đôn “Đi một ngày đàng, học một sàng khôn”, “Tất cả mọi người đều là thầy của mình”.

TS sử học Đinh Công Vỹ nghiên cứu các tác phẩm của Lê Quý Đôn, vang lên khát vọng muốn đổi mới bộ máy quan chức. Mỗi viên quan phải đạt tiêu chuẩn Đức & Tài. Nhấn mạnh ba chữ Thanh, Cần, Thận. Ông viết:

“Được người giỏi phải kíp dùng
Sao cho đạo cả được thông giữa đời”

Lê Quí Đôn- Tầm mắt trái đất. Ông phân tích cấu tạo vỏ trái đất; vận động bên trong, ngoài trái đất; địa văn địa chất học; sự biến thiên của lục địa; thăm dò khoáng sản. Lê Quý Đôn nhìn thấy:

“Núi đầy của báu miền Tây Việt
Thiếu bạc dùng cho việc nước chăng”

Lê Quý Đôn- Tầm nhìn ra thế giới. Không phải đợi đến khi chiến thuyền Tây Âu gõ cửa nhà Nguyễn bằng đại bác, Lê Quý Đôn đã hiểu biết rộng về những chân trời mới lạ Tây Âu.

Lê Quý Đôn- Nhà bác học thông thái quân sự. Kết hợp kinh tế với quốc phòng. Ông ngợi ca thuyền chiến, ngựa chiến, voi chiến, truyền thống thượng võ của dân tộc. Lê Quý Đôn cho ta thấy tài năng tuyệt vời của thuỷ quân thuyền chiến Việt đã đánh bại hạm đội của một nước phương Tây tầm cỡ…

Còn bao nhiêu hiền tài đất Việt gửi lại cháu con kho báu nữa. Nguyên Khí Việt Nam là như vậy.

Cha ông ta không chỉ dùng chữ để xây nền văn hiến, mà còn dùng chữ để đánh giặc:

Thơ Lý Thường Kiệt vang vọng mọi thời tiếng Trống Đồng đánh đuổi xâm lăng :

Nam quốc sơn hà Nam đế cư
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
Nhữ đẳng hành khang thủ bại hư.

Trần Quang Khải mở tiệc khao quân, tay bưng chén rượu, ứng khẩu ngâm thơ bừng hào khí Đông A:

Đoạt sáo Chương Dương độ
Cầm Hồ Hàm Tử Quan
Thái bình tu nỗ lực
Vạn cổ thử giang san

Hàn Thuyên đời Trần nổi tiếng thơ chữ Hán, nhưng ông lại tạo ra sức mạnh văn Nôm. Ông đỗ tiến sĩ, nhưng đã gia nhập dòng thơ dân gian ca dao, dân ca, tục ngữ, kết hợp dòng thơ bác học theo đường luật chảy thành sông thơ mới Việt được gọi là thể Hàn luật và cùng tìm tòi tích cực mang tính sáng tạo, khai sinh nền văn học viết bằng chữ Nôm, chữ riêng của dân tộc.

Năm 1282. Quân Nguyên sắp xâm lược nước ta, vua sai Hàn Thuyên làm văn ném xuống sông. Con cá sấu tự bơi đi mất. Ông dùng văn học dân tộc như một vũ khí khôn khéo diệt trừ giặc ngoại xâm.

Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm dùng chữ thành sấm tiên tri đến nhiều đời sau, vẫn còn là một bí ẩn với chúng ta.

Trạng Kế (Giáp Hải 1507- 1586) có bài thơ đuổi giặc.

Nhà Minh sai sứ sang hạch sách nhà Mạc, đòi phải cắt đất, cống người bằng vàng… Tướng giặc Mao Bá Ôn gửi cho vua Mạc bài thơ “Bèo” khinh nước Nam yếu kém:

Mọc theo ruộng nước bóp như kim
Trôi dạt lênh đênh chẳng đứng im
Nào có gốc sâu nào có lá
Dám sinh cành nhánh, dám sinh tim
Tụ đâu rồi chắc không tan tác
Nổi đó nào hay chẳng đắm chìm
Đến lúc trời cao bùng gió dữ
Quét về hồ bể biết đâu tìm

Giáp Hải liền đáp lại:

Kén dày vải gấm khó luồn kim
Rễ lá liền nhau đọng vẫn im
Tranh với bóng mây che mặt nước
Chẳng cho tia sáng rọi xuyên tim
Sóng trào muôn lớp mà không vỡ
Gió táp ngàn cơn cũng không chìm
Nào cá nào rồng trong ấy ẩn
Cần câu Lã Vọng biết đâu tìm.

Chánh sứ Nguyễn Duy Hiểu (1602- 1639) con trai trưởng của Tiến sĩ Nguyễn Duy Thì. Hai Cha Con cùng đỗ Nhị giáp Tiến sĩ (Hoàng giáp) năm 27 tuổi, cùng làm quan đồng triều.

Niên hiệu Dương Hoà thứ 3 (1637) vua Lê Thần Tông cử hai đoàn sứ bộ cùng sang Bắc Kinh, triều vua Sùng Trinh nhà Minh. Một đoàn do Nguyễn Duy Hiểu làm Chánh sứ. Một đoàn do Giang Văn Minh (người xã Mông Phụ, huyện Thượng Phúc, nay thuộc xã Đường Lâm, Sơn Tây).

Hai Chánh sứ Nguyễn Huy Hiểu và Giang Văn Minh đều hy sinh.

Sách “Tam Khôi lục” chép: “Trước triều đường, người Minh ra vế đối rằng “Đồng trụ chỉ kim đài dĩ lục”, nhắc lại việc Mã Viện dựng cột đồng với lời thề: “Đồng trụ triết, Giao Chỉ diệt” (Cột đồng gãy, người Giao Chỉ diệt vong) vào năm 42 Công Nguyên, sau khi dẹp yên triều đình Trưng Nữ Vương). Ý nói Cột đồng nay đã rêu xanh phủ.

Giang Văn Minh đối lại: “Đằng Giang thiên cổ huyết do hồng”, nhắc lại sự kiện các vua Ngô, Trần ba lần đánh tan giặc Nguyên Mông trên sông Bạch Đằng, nghĩa là “Sông Đằng nghìn thủơ máu còn tươi”.

Vua Minh nổi giận, giết hai vị Chánh sứ dã man, tẩm thuỷ ngân, gửi về nước.

Thái tể Nguyễn Duy Thì được vua cử lên biên ải đón di hài hai vị trong đó có con trai mình…

Nguyên khí Quốc gia. Hiền tài nước Việt mênh mông còn lại qua di sản thơ văn truyền thống và chữ Hán Nôm, ngày nay chúng ta còn hiểu biết rất ít về tài năng, nhân cách, chiến công và tri thức, thông điệp các cụ gửi lại cháu con.

Câu lạc bộ Di sản thơ văn truyền thống và Hán Nôm là một tổ chức xã hội- nghề nghiệp, tập hợp các nhà khoa học, nhà văn, nhà thơ, dịch giả có tâm huyết với nền văn hoá dân tộc để nghiên cứu, sáng tác, biên dịch, chú giải các di sản thơ văn truyền thống (trong đó các di sản bằng chữ Hán và chữ Nôm được chú ý đặc biệt) góp phần bảo vệ và phát huy văn hoá truyền thống Việt Nam và khơi dậy Hiền Tài Nguyên Khí Quốc Gia.


Hồ Gươm Xuân 2012.      




© Tác giả giữ bản quyền.
. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả từ Hà Nội ngày 17.03.2012.
. TÁC PHẨM CỦA MAI THỤC CHỈ ĐĂNG TẢI DUY NHẤT TRÊN NEWVIETART.COM và VIETVANMOI.COM .
. Trích đăng lại vui lòng ghi rõ nguồn Newvietart.com .