Đền Thờ Quốc Tổ ở Phú Thọ

THỜI HÙNG VƯƠNG :
BÁCH VIỆT VÀ CÁC LÂN BANG

Tháng Ba nô nức Hội Đền
Nhớ Ngày giỗ Tổ - bốn nghìn năm nay
Dạo xem phong cảnh trời mây
Lô, Đà, Tam Đảo cũng quay đầu về
Khắp nơi con cháu ba Kỳ (ba miền Đất nước: Bắc , Trung, Nam)
Kẻ đi cầu phúc, người đi cầu tài
Sở cầu như ý ai ai
Xin cùng nhớ lấy mồng Mười tháng Ba.

“Bài ca dao nói đến Đền thờ Quốc Tổ Hùng Vương nằm trên đỉnh núi Hy Cương, Phú Thọ. Từ trên núi nhìn toàn cảnh thật đẹp: trước mắt, ba con sông họp lại (sông Đà, sông Thao và sông Lô), hai bên, núi Tản Viên và Tam Đảo nhìn về”.

Nhân ngày giỗ Quốc Tổ, chúng ta thử cùng nhau nhìn lại toàn cảnh của Bách Việt và các nước ở phía nam Bách Việt dưới thời đại các vua Hùng Vương thưở xa xưa.

BÁCH VIỆT

Khoảng 2.000 năm TCN, tại miền đông nam châu Á, giáp biển, trong khi dân tộc Hán định cư trên khu vực giữa Hoàng Hà và Dương Tử giang, dân tộc Miêu, ở vùng bắc Hoàng Hà, thì tại miền nam Dương Tử giang có nhiều bộ lạc thuộc nhiều sắc tộc lập nghiệp, được người Hoa gọi chung là Bách Việt: Ô Việt ở Chiết Giang, Mân Việt ở Phúc Kiến, Dương Việt ở Giang Tây, Nam Việt (hay Đông Việt) ở Quảng Đông (ngày nay người Hoa vẫn gọi tỉnh Quảng Đông là tỉnh Việt)...và Đất nước ta xưa gồm Bắc Việt và bắc Trung Việt ngày nay, là Lạc Việt. Bắc sử có chép: “Thời đại Thần Nông, ở miền nam Trung Quốc có nước Xích Quỷ, sau chia ra làm Bách Việt. Xích là màu đỏ, theo ngũ hành thuộc hỏa, phương nam. Quỷ là một ngôi sao trong nhị thập bát tú, ở về phương nam. Gọi là Xích Quỷ để chỉ khu vực rộng lớn xa xăm ở phía nam, không hẳn là tên một nước”.

Dân Bách Việt đã sớm biết trồng cây lúa nước, được thiên nhiên ưu đãi, ít phải chống chọi với thú dữ và tranh chiếm đất đai lẫn nhau nên không cao cường võ nghệ, không có khí giới sắc bén và bị người Hán phương bắc thôn tính, rồi dần dà đồng hóa với họ. Xứ ta là Lạc Việt, do ở xa xôi nên không bị đánh chiếm sớm, sau cùng cũng sa vào vòng Bắc thuộc hơn một ngàn năm, nhưng với ý chí dân tộc quật cường, nước ta lại khôi phục được nền độc lập.

GIAO CHỈ

Người Trung Quốc xưa quen gọi nước ta là Giao Chỉ, do khi Hạ Vũ lên ngôi vương Trung Quốc vào thế kỷ XXII TCN có cử các đoàn đi khảo sát mọi nơi xa gần và định biên giới, chia nước làm 6 châu, cắt người cai quản và nạp cống hàng năm cho vương triều. Đoàn qua vùng Lĩnh Nam, đi sâu xuống phương Nam, thấy đất còn hoang vu, vô chủ, nhiều đầm lầy, có giống Giao Long hung dữ (loài bò sát, giống con thuồng luồng) bèn đặt tên đất này là Giao Chỉ và ghi “khuyết địa” nghĩa là đất không ai quản lý, tạm đặt ngoài cương vực của vương triều.

Tiếng Giao Chỉ sau là tên một bộ thời vua Hùng Vương (nước Văn Lang thời Hùng Vương gồm 15 bộ), rồi lại được nhà Hán dùng để đặt tên một quận nước ta là xứ Bắc Kỳ ngày nay. Nhà Tống phong cho các vua Đinh, Lê, Lý là Giao Chỉ Quận vương, sau đổi là An Nam Quốc vương, nhưng các vua Nguyên, Minh vẫn quen gọi nước ta là Giao Chỉ. (Có sách cho rằng do người nước ta xưa có hai ngón chân cái xoạc ra, khi đứng thì giao nhau nên được gọi là người Giao chỉ, nhưng thực tế chỉ có một số rất ít người nước ta ờ vùng Bắc Ninh, Phú Yên có ngón chân cái như vậy, chứ không phải nòi giống ta đều như thế. Lại nữa, tại một số nước khác ở châu Á và châu Phi, người ta cũng bắt gặp những người có tật như vậy)

LẠC VIỆT

Thời Thượng cổ, nước ta có tên là Lạc Việt, một xứ trong Bách Việt. Tiếng Lạc có nguồn gốc từ chim Lạc (là giống chim ăn tôm, cá, to con, mỏ dài, chân cao, sải cánh rộng, cùng họ với giang, sếu, cò, có thói quen di trú và có tiếng kêu cạc, lạc, nay gọi là Hạc) do người xưa đã theo đường di trú của chim Lạc mà đến lập nghiệp tại nơi này.

Thời đại xa xưa, khoảng 2.000 TCN, ở lưu vực sông Âu tỉnh Chiết Giang bên Trung Quốc ngày nay, cư dân là người Việt có gốc MONGOLOID ( gồm các chủng Bắc- Đông- Nam Mongoloid và Indien. Mongoloid cùng với Australoid thuộc Đại chủng Á - là một trong 2 Đại chủng tộc chính thuộc Khối Úc Á – còn lại là Khối Phi-Âu)) sinh sống bằng nghề đánh cá, săn bắn và trồng trọt hoa màu, đời sống eo hẹp, không được trù phú mấy.

Nơi đây quần tụ vô vàn giống chim Lạc, đẻ trứng vung vãi khắp bờ nước, hàng năm cứ đến mùa đông, có gió bắc thì bay đi hết về phương nam. Người ở lại phải chịu rét mướt, thiếu thốn lương thực, tôm cá ít, trứng chim không còn, phải đào củ, hái rau rừng ăn tạm. Đến khi có gió nam, đàn chim lũ lượt bay về, béo tốt, lại đẻ nhiều trứng. Năm nào cũng như thế mãi, hết mùa rét lại trở về, mạnh mẽ hơn trước. Thế thì nơi chúng đến phải là miền trù phú.

Một số cư dân liền dùng thuyền độc mộc theo luồng gió bắc và hướng đi của chim Lạc đi sâu xuống miền nam, thấy ở đây mọi sự đều tốt đẹp, đất đai màu mỡ, tôm cá, thú rừng rất nhiều, người bản địa lại thưa thớt, lạc hậu. Do không có sự va chạm nên không có những vụ xua đuổi đánh giết nhau giữa thổ dân và dân di cư đến lập nghiệp. Di dân liền khai thác vùng Giao Chỉ bấy giờ còn gần như hoang dã, sống chung hòa bình với người bản địa, chỉ dẫn cho họ những cách bắt chim, bẫy thú khéo léo, hiệu quả hơn. Dân Lạc Việt nhập cư cùng với dân Bản địa Indonesien thuộc AUSTRALOID (Đại chủng Úc, gồm các chủng Negrito, Melanesien, Australien, Tasmanien, Polynesien và Ainu) cùng nhau sống chung trên đất Giao Chỉ, tạo nên giống người Kinh Việt Nam, không giống như mọi dân Bách Việt khác cũng khác hẳn với người Hán. Do người di cư theo hướng đi của chim Lạc mà đến , nên gọi là Lạc dân, ruộng đất họ khai thác được gọi là Lạc điền, các người cai trị dân gọi là Lạc Tướng, sinh sống trong đất nước gọi là nước Lạc Việt.

Dân tộc Việt có nguồn cội từ cả 2 Đại chủng Mongoloid và Australoid nên Tổ Tiên ta đã có tinh thần quật khởi, quyết không đề Trung Quốc đồng hóa, quyết giữ nền tư chủ mãi mãi của mình. Có rất nhiều người Việt Nam không hề biết đến nguồn cội cùa dân tộc ta (mà nghĩ rằng nước ta chỉ thuộc Bách Việt, Trung Quốc).

Trịnh Công Sơn viết trong ca khúc “Biết đâu nguồn cội” như sau:

           Tôi vui chơi giữa đời…í…a…biết đâu Nguồn cội
           Cây trưa thu bóng dài và tôi thu bóng tôi
           Tôi vui chơi giữa đời…í…a…biết đâu Nguồn cội
           Tôi thu tôi bé lại làm mưa tan giữa trời…

CÁC LÂN BANG

Vào thời vua Hùng Vương, phía nam của nước Lạc Việt thuộc Bách Việt, có các nước sau:

1/- NƯỚC HỒ TÔN (Phú Yên đến Quảng Ngãi)

Thời xa xưa, biên giới phương nam nước ta chỉ đến đèo Hải Vân. Bên kia đèo này là tỉnh Bình Thuận ngày nay, thì nơi đây là nước Hồ Tôn của người Chăm. Gọi là nước nhưng thực chỉ là một liên minh bộ lạc, gồm hai bộ lạc lớn là bộ lạc Cau (vùng từ Phú Yên đến Bình Thuận) và bộ lạc Dừa (vùng Quảng Nam, Quảng Ngãi) cùng nhiều bộ lạc nhỏ khác.
Khi nhà Hán xâm chiếm nước ta thì chiếm luôn nước Hồ Tôn lập thành huyện Tượng Lâm, thuộc quận Nhật Nam. Dân Tượng Lâm từng hường ứng cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng.

2/- NƯỚC VIỆT THƯỜNG (Bình Trị Thiên)

Dưới thời vua Hùng Vương xưa, Việt Thường là một trong 15 bộ từ Hoành Sơn đến đèo Hải Vân nước ta, nay là Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên. Sau bộ Việt Thường ly khai khỏi nước ta và từng giao thiệp với nhà Chu bên Trung Quốc. Nhà Hán chiếm đất xứ này lập ra quân Nhật Nam. Do oán ghét nhà Hán, người Việt Thường sẵn sàng gia nhập vào nước Lâm Ấp, rồi đồng hóa với dân nước này. Sau nhà Hán suy, đành chịu bỏ Nhật Nam.

3/- NƯỚC LÂM ẤP (CHAMPA)

Đến năm 190 thì dân Tượng Lâm đã vững vàng, bao gồm các bộ lạc cùng sắc tộc phương nam, lại quật cường đánh chiếm luôn cả đất Việt Thường (Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên ngày nay) để thành lập nên nước Lâm Ấp.

Đến đời Chu Cát Địa (đời Đường Thái Tông 627-649) thì đổi tên nước là Hoàn Vương quốc. Năm 808 lại đổi quốc hiệu là Champa (chữ Hán Việt đọc là Chiêm Bà, quốc sử cũng như người Hoa lại quen gọi là Chiêm Thành). Champa là tên một loài hoa nổi tiếng cùa xứ này.

Năm 1069, vua Lý Thánh Tông thân chinh đem quân sang đánh. Vua Chăm là Chế Củ xin dâng ba châu Đại Lý, Ma Linh và Bố Chính (Quảng Bình và bắc Quảng Trị ngày nay) để chuộc tội.

Năm 1075 Lý Thường Kiệt, trước khi sang đánh Tống, đã sang đánh Champa để cảnh cáo, vẽ địa đồ ba châu mà Chế Củ mới dâng và chiêu mộ dân đến đây sinh sống.

Năm 1104, vua Chăm Chế Ma Na đem quân sang cướp lại ba châu đất cũ. Lý Thường Kiệt lại đi đánh dẹp, Chế Ma Na xin nộp trở lại đất ấy.

Năm 1282, Toa Đô sang đánh nước Champa, tiến binh vào cửa Thị Nại (nay là Quy Nhơn) - đánh lấy được thành này, thừa thắng kéo quân vào chiếm kinh đô Chà Bàn. Năm sau vua Champa kéo đại quân về đánh lấy lại được.

Năm 1306, Chế Mân dâng vua Trần Anh Tông hai châu Ô và Lý (Quảng Trị, Thừa Thiên) để cưới công chúa Huyền Trân, vì lời hứa của Thượng hoàng Trần Nhân Tông, nên một nhà thơ thức thời đã viết:

Hai châu Ô, Lý vuông ngàn dặm
Một gái Huyền Trân của mấy mươi.

Sau cuộc đánh chiếm của vua Lê Thánh Tông năm 1471, Champa bị chia làm ba nước nhỏ là Champa, Nam Bàn và Hoa Anh, ngày càng suy yếu.

Năm 1611, Chúa Tiên Nguyễn Hoàng đánh chiếm vùng đất rộng, đặt làm phủ Phú Yên, chia làm hai huyện Đồng Xuân và Tuyên Hoa.

Năm 1653, vua Champa là Bà Thấm sang đánh Phú Yên, Chúa Nguyễn Phúc Tần đánh đuổi, đốt phá kinh thành và truy đuổi quân Chăm đến tận sông Phan Rang. Vua Chăm xin hàng, được giữ đất phía nam Phan Rang. Chúa chia đất mới chiếm thêm làm hai phủ là Thái Khang và Diên Ninh, sau đổi là Diên Khánh, Khánh Hòa ngày nay.

Năm 1697, chúa Nguyễn Phúc Chu chiếm nốt phần đất còn lại cùa Champa, đặt phủ Bình Thuận. Từ đấy nước Champa mất hẳn, người Chăm trờ thành một sắc dân thiểu số Việt Nam.

4/- NƯỚC PHÙ NAM

Nằm ở tận cùng phía nam của nước ta, sau nước Champa có nước Phù Nam gồm cả phía tây sông Mê Kong. Khoảng thế kỷ VI, nửa về phía đông có người Khmer xây dựng nên nước Chân Lạp trên đất Campuchia và xứ Nam Kỳ ta ngày nay. Phần khác, nừa về tây thì người Phù Nam xây dựng nên nước Xích Thố, người sắc tộc Thái. Khoảng thế kỷ XI, XII, Xích Thố lại chia làm hai là La Hộc và Xiêm (Tiêm). Thời nhà Nguyên làm chủ Trung Quốc, hai nước ấy có sang cống. Về sau nước La Hộc chiếm được cả nước Xiêm, mới gọi là Xiêm La Hộc. Cuối thế kỷ XVI, nước này cầu phong bên Trung Quốc, được Minh Thái Tổ phong là nước Xiêm La, sau đồi tên là nước Thái Lan.

5/- NƯỚC CHÂN LẠP

Nằm ở phía nam và tây nam nước Champa, ở vào quãng dưới sông Mê Kong, lắm sông nhiều ngòi, ruộng đất phì nhiêu. Từ thế kỷ VIII đã chia làm hai là Lục Chân Lạp và Thủy Chân Lạp. Từ thế kỷ IX đến XII, họ thống nhất, mở đầu giai đoạn hưng thịnh dài với nền văn hóa phát đạt. Đến thế kỷ XIV, Chân Lạp suy yếu, đất đai mới được khai phá một phần.

Năm 1620, chúa Nguyễn Phúc Nguyên gả công chúa Ngọc Vạn cho vua Chân Lạp là Chầy Chít Ta và yêu cầu người nước ta sang làm ăn buôn bán ở vùng đồng bằng Thủy Chân Lạp. Năm 1658, có sự tranh chấp nối ngôi vua Chân Lạp, chúa Nguyễn Phúc Thượng sang đánh, bắt vua Nặc Ông Chân đưa về Quảng Bình. Sau lại cho đưa về nước làm vua, xưng thần nạp cống Chúa Nguyễn và bảo vệ dân Việt sang làm ăn bên ấy…

Năm 1698, chúa Nguyễn Phúc Chu kinh lược đất Chân Lạp, chia đất Đông Phố làm dinh, làm huyện, lấy Đồng Nai làm huyện Phúc Long và Sài Côn làm huyện Tân Bình, đặt Trấn Biên dinh (Biên Hòa) và Phiên Trấn dinh (Gia Định), cử quan vào cai trị. Lại chiêu mộ lưu dân từ Quảng Bình trở vào để lập thôn xã và khai khẩn ruộng đất. Người Hoa ở đất Trấn Biên thì lập xã Thanh Hà, ở Phiên Trấn thì lập làm xã Minh Hương, những người Hoa ấy đều thuộc về hộ dân nước ta…

Năm 1708, đời chúa Nguyễn Phúc Tần, có người khách Quảng Đông là Mạc Cửu cùng thân thuộc, không phục nhà Mãn Thanh cướp ngôi nhà Minh, bỏ sang Chân Lạp khai khần đất Sài Mạt. Nơi đây có nhiều người các nước đến buôn bán thịnh vượng, bèn mở sòng bạc, rồi lấy tiền chiêu mộ lưu dân, lập ra 7 xã gọi là Hà Tiên. Mạc Cửu lại còn khai khần vùng Phú Quốc, Rạch Giá và Cà Mau. Để được yên ổn, Mạc Cửu xin thần phục chúa Nguyễn, được phong làm Thống binh trấn Hà Tiên. Vì thế chúa Nguyễn được thêm vùng đất mới. Đến khi Mạc Cửu chết, chúa Nguyễn phong cho con ông là Mạc Thiên Tứ chức Đô đốc, rồi đắp thành, xây lũy, mở chợ, làm đường và rước thầy về dạy Nho học khai phá đất Hà Tiên…

Năm 1747, nội bộ Chân Lạp xâu xé nhau, Nặc Ông Thâm cầu viện Xiêm La đánh giành ngôi vua, chúa Nguyễn cho quân sang giúp Nặc Tôn lên làm vua, bèn dâng đất Tầm Phong Long tạ ơn, Chúa sai Nguyễn Cư Trinh đem binh Long Hồ về xứ Tầm Bảo, tỉnh lỵ Vĩnh Long bây giờ và đặt ra 3 đạo là Đông Khẩu ở Sa Đéc, Tân Châu ở Tiền Giang và Châu Đốc ở An Giang. Sau Nặc Tôn lại dâng 5 phủ là Hương Úc, Cần Bột, Trực Sâm, Sài Mạt và Linh Quỳnh, Chúa cho nhập vào trấn Hà Tiên cai quản.

Năm 1833, sau khi phá quân Xiêm La, Trương Minh Giảng lập đồn bảo hộ nước Chân Lạp, đổi gọi xứ này là Cao Man. Sau vì dân bản xứ không chịu mới đổi lại là Cao Miên, thủ đô Phnom Penh đổi gọi là NamVang, các tỉnh cũng mang tên chữ Hán như bên ta.

Vậy đất Nam Bộ, xưa gọi là Nam Kỳ Lục Tỉnh (gồm Gia Định, Biên Hòa, Định Tường, Vĩnh Long, Hà Tiên và An Giang) - là đất lấy của nước Chân Lạp, mà người Việt khai thác ra. Tuy nhiên, phải chờ đến thời Tây Sơn (1778 – 1802) Đất nước ta mới thực sự thống nhất từ ải Nam Quan tới mũi Cà Mau, sau đó Nguyễn Ánh chỉ thừa hưởng sự thống nhất của thời Tây Sơn.

TÓM TẮT

Các xứ như Nội Mông, Mãn Châu, Tân Cương và Tây Tạng xưa kia oai phong (thời Mông- Nguyên và Mãn – Thanh cai trị Trung Quốc), nay cũng đành ngậm ngùi làm 4 vùng tự trị thuộc Trung Quốc (nên quốc kỳ Trung Quốc ban đầu cho mỗi vùng có một ngôi sao nhỏ nằm xung quanh ngôi sao lớn cùa chàng khổng lồ - nay họ sửa lại là 4 sao tượng trưng cho 4 chính sách lớn của họ) . Chính nguồn gốc Dân tộc ta thuộc hai chủng tộc Mongoloid và Australoid, cùng với Tinh thần Quật cường, Bất khuất của Tổ Tiên, nên trước một chàng khổng lồ chỉ hau háu nuốt chửng xứ Lạc Việt bé bỏng, thì nước ta không những không bị đồng hóa và sáp nhập, mà còn Nam Tiến để “tránh voi chẳng xấu mặt nào”và để mở rộng bờ cõi nữa.

Nhân dịp giỗ Quốc Tổ mùng 10-3 âm lịch – là một ngày quốc lễ, tất cả công dân từ Nam chí Bắc, đều tổ chức trọng thể Ngày giỗ Quốc tổ Hùng Vương. Chúng ta cùng nhau thắp nén hương thơm đề tường nhớ đến các vị Tiên Tổ - đã có công giữ nước và dựng nước, ban đầu chỉ ở phương Bắc (Bách Việt), nay chạy dài xuống tận cùng phương Nam để Đất nước Việt Nam có hình dáng chữ S tròn trịa, xinh đẹp như ngày nay vậy.



___________________________________

(Nguồn: Internet )
© Tác giả giữ bản quyền.
. Cập nhật ngày 17.03.2012 theo nguyên bản của tác giả từ SaìGòn .
. Đăng tải lại vui lòng ghi rõ nguồn Newvietart.com