KHÁI NIỆM VỀ BỒ TÁT


8- SỰ ĐA DẠNG TRONG TÍN NGƯỠNG QUAN THẾ ÂM

Trong đời sống tâm linh của người dân ta, dù theo tôn giáo nào, hình ảnh gần gủi hơn cả chính là Phật Bà Quán Thế Âm. Tại hầu hết chùa chiền, tượng Quán Thế Âm cũng có nhiều loại khác nhau: có Quán Thế Âm trong bộ Di Đà Tam Tôn, Quán Thế Âm Tọa Sơn, Quán Thế Âm Tống tử, tuy nhiên thường được quan tâm hơn cả chính là Quán thế Âm Chuẩn Đề. Toà sen của pho tượng nầy được một quái vật (con quỷ) nhô lên trên mặt nước thì còn được gọi là Quán Thế Âm Nam Hải.

Do pho tượng có hàng chục, thậm chí hàng trăm bàn tay, nên còn có tên là Quán Thế Âm Thiên Thủ, Thiên Nhãn. Người dân trong trường hợp gặp chuyện không may, thường khấn cầu Quán Thế Âm cứu khổ, cứu nạn.

Theo Phật Học Tự Điển thì khái niệm Quan Thế Âm (Avalokitesvara) là: “Nghe những tiếng kêu cứu của chúng sanh đau khổ trong cuộc sống mà tìm đến để cứu vớt họ”.

THỂ LOẠI TƯỢNG QUAN ÂM VN

Những pho tượng lưu hành đều theo sáu cách thể hiện quy định:

(a) Quan Âm Chuẩn Đề: theo công thức thì tượng nầy có ba mặt và 18 tay.

(b) Thiên thủ, thiên nhãn: đức Quan Âm nghìn tay, nghìn mắt như pho tượng ở chùa Bút Tháp.

(c) Quan Âm Tọa Sơn: thể hiện đức Quan Âm ngồi trên đỉnh núi.

(d) Phật bà: thể hiện Phật bà Quan Âm đội mũ ni, ngồi toà sen.

(e) Quan Âm Tống Tử: thể hiện đức Quan Âm ngồi bế đứa bé, một bên có Thiện Sĩ (biểu trưng bằng hình con vẹt).

Quán Thế Âm Bồ Tát có thể hóa hiện thành muôn ngàn hình trạng khác nhau, để thích ứng trong mọi hoàn cảnh, nhằm cứu vớt trong mọi trường hợp khổ đau của chúng sanh.

Với một pháp lực và quyền năng vô lượng vô biên, cùng sự minh triết tuyệt đối, với thiên thủ, thiên nhãn, Người đã cứu độ hết thảy mọi trường hợp.

Đặc biệt, đức Quán Thế Âm nắm vững pháp "Chuẩn Đề", một pháp môn đứng vào hàng đầu trong vạn pháp.

Thiên thủ, thiên nhãn: Trong những kiểu dáng điêu khắc trang trí, đồ hoạ trong những ngôi chùa tại nước ta, tượng đức Quán Thế Âm Bồ Tát nhiều tay hơn bình thường (với số lượng thường thấy là tám, mười hai, mười bốn, mười tám, hai mươi hai, hai mươi bốn, hai mươi tám có khi lại còn nhiều tay phụ hơn thế nữa), đều được gọi tên chung bằng biểu hiện "Thiên thủ, thiên nhãn", không có nghĩa là phải đúng nghìn tay, nghìn mắt; bởi vì: con số hữu hạn đó, tưởng là nhiều, nhưng nó vẫn hạn chế quyền năng siêu việt của Người.

Một danh xưng khác nữa của đức Quán Thế Âm Bồ Tát là "Phật Mẫu Chuẩn Đề". Trong những ngôi chùa kiến tạo vào thế kỷ thứ XVI, chúng ta cũng đã bắt gặp được những pho tượng đức Quán Thế Âm Bồ Tát trong tư thế đứng thẳng, với tay kết ấn cam lồ (tại chùa Phổ Minh - Hà Nam Ninh) và một dạng hình khác tương đối phổ biến là đức "Quán Thế Âm Nam Hải" khá điển hình; cho nên, có thể hiểu qua biến tướng nầy, để hiểu những dạng thức điêu khắc cùng loại.

Qua những công trình nghiên cứu mỹ thuật và kiến trúc Việt Nam, hình ảnh đức Quán Thế Âm Bồ Tát ít được nhắc tới từ thế kỷ XI, hay trước hơn thế nữa. Thành thử hình thái thờ đức Quán Thế Âm Nam Hải mới chỉ thấy có từ thế kỷ thứ XVI trở về sau.

TRUYỆN TÍCH VÀ THỂ DÁNG

Tích truyện được trình bày nhiều nhất và sớm nhất dẫn giải về đức Quán Thế Âm Nam Hải gắn với lời kết của một vị tăng đời nhà Nguyên ở Trung Quốc. Tích nầy có thể đã lưu truyền vào Việt Nam vào thế kỷ XV, căn cứ theo các Tự phả, rồi sau đó được Việt Nam Hoá sâu rộng trong thế kỷ thứ XVI.

Quán Thế Âm Nam Hải trong nhận thức của người Việt, vốn là bà Diệu Thiện (tức là điều thiện tốt đẹp, nhiệm mầu), con thứ ba của vua Diệu Trang (Cughavyuha); công chúa là một hiện thân của đức Quán Thế Âm, đã từ chối tất cả cao sang quyền quý, vượt mọi trở ngại khó khăn trên đường tu hành, nêu cao gương đức độ và cuộc sống khổ hạnh cho tất cả quần sanh. Bà Diệu Thiện đã chứng quả tại chùa Hương Tích, một thắng cảnh nổi tiếng tại Hà Tây.

Qua những nghiên cứu cho thấy: những photượng đức Quán Thế Âm Nam Hải cũng là một dạng thức khác của đức Quán Thế Âm Thiên Thủ Thiên Nhãn.

HỌA TIẾT TƯỢNG QUÁN THẾ ÂM

Những pho tượng thờ nầy được coi là điển hình như tượng chùa Đa Tốn (Gia Lâm, Hà Nội), tượng ở chùa Thượng Trưng (Vĩnh Lạc, Thanh Hoá) tượng chùa Bối Kê (Thanh Oai, Hà Tây), tượng chùa Động Ngọc (Thanh Hà, Hải Hưng)...

Khảo sát pho tượng Quan Âm tại chùa Động Ngọ, có ghi khắc rõ niên đại chính xác vào đời Diên Thành thứ năm (1582). Pho tượng tại chùa Thượng Trưng, niên đại được nói đến cũng được điêu khắc trong giai đoạn nầy, vào tháng tư năm 1592.

Với những niên đại tìm thấy được chính xác cũng như mô hình tiêu biểu, có thể định được thời gian của những tượng cùng thể loại nầy. (Theo GS Huard).

Nhìn chung lại, đa số những pho tượng đức Quán Thế Âm Nam Hải, tuy kích cỡ không đồng nhất, tuy nhiên, nhìn chung vẫn theo cùng một dạng, mà nhiều nhà nghiên cứu mỹ thuật suy nghĩ đến một mẫu mực đã được khuôn định (Theo GS Nguyễn Đức Nùng).

Điều mà những nhà nghiên cứu kiến trúc Phật Giáo Việt Nam ghi nhận rõ là: ở đầu tượng là hệ thống "Thiên quan", mang dạng thức kiến trúc gần giống như kiểu mũ "Tỳ Lư" (Mũ của các vị Pháp sư).

Bất cứ Thiên quan nào cũng được chia ra làm hai phần rõ nét: Phần bên ngoài: một vành bao chạy từ đỉnh tai nọ đến đỉnh tai kia, qua phía mặt trước. Phần trong: được nhô lên cao hơn, gần giống như một tấm che chạy vượt từ thóp lên, để che búi tóc cuộn ngược đỉnh. (Theo PGS Trần Lâm Biền).

Một số tượng Quán thế Âm không có tấm che nầy, nhưng thay vào đó là một "vành Thiên quan" thứ 2, nằm song hành với vành ngoài, như thấy rõ nhất ở pho tượng thờ chính tại chùa Thượng Trưng (Vĩnh Phú).

Điểm nổi bật nhất trong cách tạc ở Thiên quan là: Tuy được làm như một mảnh gỗ cong, tuy nhiên, không phải là mảnh gỗ khác ghép vào, mà thường cùng chung một khối gỗ với phần đầu của pho tượng.

Một đặc điểm khác: Trên Thiên quan, thường trang trí hình hoa sen nụ hay hoa cúc, được đạt cân xứng ở hai bên trên hoa văn hình vân xoắn. Từ xa nhìn tưởng chừng như một khối chạm trỗ gắn thêm vào, nhưng kỳ thực là cùng chung khối đỡ tạc tượng duy nhất mà thôi.

Ngoài ra, trên Thiên quan còn được sử dụng nhiều hạt tròn nổi khối, mà trong cách trình bày thường chú trọng nhiều đến luật cân xứng với từng hạt lớn hay chồng lên nhau theo hình tháp.

ÐIÊU KHẮC TƯỢNG QUÁN THẾ ÂM

Những nghệ nhân thực hiện các công trình điêu khắc trên đã chứng tỏ tài năng khác thường trong từng điệu tiết, đồng thời cũng theo đúng kinh điển thường mô tả dáng từ bi của đức Quán Thế Âm. Về xuất xứ của tượng Quán Thế Âm trong nghệ thuật điêu khắc Việt Nam có nhiều giả định khác nhau.

Một số nhà nghiên cứu nghệ thuật cổ điển thì cho rằng: Trong buổi khởi nguyên, pho tượng đức Quán Thế Âm Bồ Tát tại Ấn Độ là một vị Bồ Tát "nam giới"; nhưng đến khi du nhập vào Việt Nam của cư dân chuyên sống bằng nền nông nghiệp lúa nước, luôn đề cao "bà mẹ của đất" cùng với những "yếu tố âm" cho nên những pho tượng đức Quán Thế Âm Bồ Tát là nữ giới, với khuôn mặt từ bi, dịu hiền. Đầu tượng hơi cúi xuống; những chi tiết của khuôn mặt tuân thủ theo cách tạo dáng trong khuôn mặt của đức Phật.

Về phương diện tạo dáng, những pho tượng Quán Thế Âm tại Việt Nam gần với con người thực hơn tượng thời nhà Lý và các thời đại sau nầy; điều nầy nói lên sự gần gủi và tương thông với cuộc đời và tính nhân bản của cách tạc tượng đương thời.

Cũng như những pho tượng Tam Thế thường thấy trong những ngôi chùa cổ tại Việt Nam, dáng ngồi của tượng Quán Thế Âm Bồ Tát ngả về phía đằng trước và thân thì tô lên dày hơn. Những điều nêu trên cho thấy rõ là kiểu dáng tượng Quán Thế Âm ở thế kỷ XVII tại nước ta có một phong cách độc đáo, khó lẫn lộn với những tượng các nước khác cùng loại.

QUAN THẾ ÂM TRONG DI ÐÀ TAM TÔN

Cách bài trí thông thường trong Phật điện của các chùa chiền theo Phật Giáo Đại Thừa ở Việt Nam, bộ tượng ở vào vị trí trong cùng, cũng là nơi cao nhất là Tam Thế, gồm 3 pho tượng các vị Phật: Hiện tại, Quá khứ và Vị Lai, chủ trì ba ngàn thế giới, xuyên suốt thời gian từ xa xưa cho đến mai sau. Ngay trước hàng tượng nầy, thấp hơn một chút là bộ tượng Di Đà Tam Tôn.

Bộ nầy gồm có: đức Phật A Di Đà ở vị trí giữa, đức Quán Thế Âm Bồ Tát ở bên phải, Đại Thế Chí Bồ Tát ở bên trái. Đức Quán Thế Âm trong bộ tượng biểu hiện cho việc tiếp dẫn chúng sanh vào miền Cực Lạc.

Bộ tượng nầy trong hầu hết các chùa đều được tạc trong tư thế ngồi; nhưng đôi khi, để biểu hiện tánh chất cứu độ, còn được tạc trong tư thế thẳng đứng.

Căn cứ những điều ghi trong Kinh Bi Hoa, thì: Vua Vô Tránh Nhiệm và các người con đã đạt tới cõi Bảo Tạng Như Lai Pháp Vô Thượng Tâm, do đó được lên cõi Tịnh Độ. Vua Vô Tránh Nhiệm được thụ ký là Vô Lượng Thọ Phật tức đức Phật A Di Đà; người con cả của nhà vua được thụ ký là Quán Thế Âm Bồ Tát; còn người con thứ hai thì được thụ ký là Đại Thế Chí Bồ Tát; tất cả những người con khác của vị vua nầy cũng đều được thụ ký cả.

Pho tượng Quán Thế Âm loại nầy thường có ở hầu hết các ngôi chùa Phật Giáo Đại Thừa ở nước ta, là nhân vật được lý tưởng hoá: thân hình nuột nà khuôn mặt phúc hậu, từ bi; đôi mắt luôn luôn khép hờ, nhìn xuống, để soi rõ nội tâm.

Trong bộ tượng nầy, đức Quán Thế Âm Bồ Tát tiêu biểu cho lòng Từ bi, cùng với tượng Đại Thế Chí ở phía đối xứng thì tượng trưng cho Trí tuệ. Xem như thế, Từ bi và Trí tuệ phối hợp với nhau, cũng đã bổ cứu cho nhau, họp thành ngôi Chánh đẳng, Chánh giác là đức Phật A Di Đà ở chính giữa.

Tượng Quán Thế Âm trong bộ tượng nầy được hoạ theo những kinh điển của Ấn Độ, cho nên trở thành nam giới. Cũng như tại Trung Hoa, từ đời nhà Đường trở về trước, thì hình tượng của đức Quán Thế Âm cũng là nam giới.

Nhưng do đức Quán Thế Âm Bồ Tát có thể hiện hình trở thành bất cứ loại hình gì, với giới tính và địa vị khác nhau, cho nên, ở đây, đức Quán Thế Âm cũng như đức Phật, không có sự phân biệt là nam tướng hay là nữ tướng.

Bộ tượng Di Đà Tam Tôn thuộc về loại tượng sớm nhất hiện còn có và đạt giá trị nghệ thuật cao là ở toà Thượng trong chùa Thầy (Thiên Phúc Tự - Hà Tây).

QUAN ÂM CHUẨN ÐỀ

Quán Thế Âm Chuẩn Đề là một trong sáu trường hợp ứng thân của Quán Thế Âm, dùng phép Chuẩn Đề để có được hiệu nghiệm cao nhất trong việc cứu vớt chúng sanh.

Thiền Tông Phái rất sùng kính đức Quán Thế Âm Chuẩn Đề, coi là một vị Tôn giả của Phật bộ. Theo những kinh sách Phật Giáo Đại Thừa thì Ngài có hình tướng 3 mắt, 18 tay, là đóa hoa sen chưa nở.

Dưạ theo trên tinh thần nầy, trong nhiều chùa chiền tại Việt Nam, có tượng Quán Thế Âm Chuẩn Đề nhiều tay, ngồi hay đứng trên toà sen, có hình tướng nữ nhân, hình dáng nuột nà. Tòa sen được đặt trực tiếp trên bệ; trong trường hợp mà mặt bệ được làm thành mặt nước và có một quái vật nhô lên đội toà sen, thì đó được gọi là Quán Thế Âm Nam Hải.

Pho tượng Quán Thế Âm Chuẩn Đề được tìm thấy vào năm Nhâm Ngọ, niên hiệu Diên Thành 5, tức là năm 1582, hiện còn tại chùa Phẩm (Hải Hưng). Tượng nầy ở thế ngồi tĩnh tọa, cao khoảng 78cm.

Tượng ngồi trên toà sen, lại được đặt trên bệ, tính ra tất cả chiều cao vào khoảng 130cm. Pho tượng nầy theo khuynh hướng tả chân, với dáng hình giống như một thôn nữ dáng hình thon thả, mặt trái xoan, mũi dọc dừa, mắt đăm chiêu, miệng như dáng đang mỉm cười, tai đeo hoa, đầu đội mũ, nhưng để tóc mai chảy qua tai xuống vai phủ lên trên áo. Ngoài hai tay chính kết ấn Liên Hoa ở trước ngực, còn nhiều tay mọc từ nách và sườn. Trên bệ tượng, ngoài dòng niên đại, còn ghi tên hội chủ là nhà sư Chân Minh cùng 13 người nữa, phần lớn thuộc nữ giới.

Quán Thế Âm Chuẩn Đề ở một số chùa có số tay là: 12, 14, 18, 24, 32, 36, 42... Ở đây Quán Thế Âm Chuẩn Đề đã được Việt hoá, trở thành nữ nhân, là Phật mẫu với dáng đẹp Việt Nam đôn hậu.

QUÁN THẾ ÂM QUÁ HẢI

Những tượng Quan Thế Âm Nam Hải là một thể dạng của Quan Thế Âm Chuẩn Đề, thường được nâng thêm một bước, về phương diện nghệ thuật cũng như về kích thước trong nghệ thuật tạo hình.

Nhiều chùa chiền khắp nơi đặt tượng Quán Thế Âm Nam Hải ở giữa Phật điện, tuy nhiên, ở các hàng dưới thấp tượng đối gần nơi Phật tử để lễ cầu nguyện, thì cũng có thể đặt ở giữa gian bên, để Phật tử có thể tiếp cận dễ dàng, như tại chùa Bút Tháp (Ninh Phúc Tự - Hà Bắc); cũng có nhiều chùa lại đặt tượng ở hàng trên cùng, cao nhất, như ở chùa Bối Kê (Đại Bi Tự -Hà Tây).

Nếu tượng Quan Thế Âm Chuẩn Đề là pho tượng chung của Phật Giáo Đại Thừa, thì đến đời Nguyên ở Trung Hoa (1280 - 1368) đã sáng tạo ra nhân vật Phật Bà Quán Thế Âm nguyên là Diệu Thiện tu hành đắc đạo, có hình tường "Thiên thủ, thiên nhãn".

Rồi từ cốt truyện nầy, khi du nhập sang Việt Nam, lại tiến thêm một bước nữa, để xác định rõ Phật Bà Quán Thế Âm tu hành tại chùa Hương Tích như đã trình bày.

Phật Bà thường xuất hiện cứu người trên vùng bể Nam của nước ta, do đó, mang tên là Quán Thế Âm Nam Hải.

Thành thử, nội dung truyện Phật Bà cũng như nhân vật đều được Việt hoá từ nhiều thế kỷ trước đây. Những pho tượng về đức Quán Thế Âm Nam Hải được thờ cúng rất phổ biến trong những ngôi chùa theo Phật Giáo Đại Thừa.

Trong cách tạo dáng, ngoài số tay như Quán Thế Âm Chuẩn Đề, có khi lại còn nâng lên tới hàng trăm tay, thậm chí cả nghìn cánh tay, như ý nghĩa "Thiên thủ, thiên nhãn".

Đức Quán Thế Âm Nam Hải trong điêu khắc và đồ họa bao giờ cũng gắn liền với hình ảnh biển ca; cả phần tượng cao rộng và toà sen được đặt vững chắc trên hình đầu rồng hay trên đầu quỷ không đến 10 cm2.

Phần lớn tại những chùa miền Bắc, tượng Quán Thế Âm Nam Hải có 42 cánh tay lớn mọc trực tiếp từ thân hình ở hai bên sườn. Trong loạt tượng nầy, những tượng xuất hiện sớm nhất là vào đời nhà Mạc (thế kỷ XVI) như tượng Quán Thế Âm Nam Hải ở chùa Hạ (Vĩnh Phú), hiện nay được trưng bày tại Bảo Tàng Viện Hà Nội.

Đây là pho tượng có kích cỡ lớn, ở thế ngồi tĩnh tọa cao tới 180cm, đặt trên toà sen và bệ tượng nâng độ cao lên toàn thể là 327cm. Đến nay toàn thể pho tượng vẫn còn được giữ gìn bảo lưu khá hoàn chỉnh. Tượng Phật Bà ngồi trên toà sen do quỷ đội, vượt qua biển cả.

Các tay tượng từng đôi đăng đối trong nhiều động tác khác nhau: ngoài hai tay chính mọc lên từ vai đưa ra trước ngực kết ấn và hai tay khác để trên lòng đùi trước bụng cũng kết ấn, các đôi tay khác toả ngang vừa, đưa lên hay cầm báu vật, bấm ngón trong tư thế “tam niệm”.

Nghệ thuật tạo hình của những pho tượng nầy là dấu ấn quan trọng trong điêu khắc Phật Giáo Việt Nam qua từng thời kỳ phát triển khác nhau.

Qua nội dung của các họa tiết điêu khắc ở đây, thì toàn cảnh của pho tượng nầy có dáng một phụ nữ nông thôn, đẹp bụ bẫm, khoẻ mạnh, đôn hậu, hiền từ.

Con quỷ đội toà sen có dáng mặt người, hai bên có hai đầu rồng vươn cao như trợ lực. Bệ tượng được chạm khắc và trang trí rất công phu; có các hình chim thần, mặt người đỡ các góc, có cả hình cá hoà rồng, ngựa bay, mây lửa và nhiều đường nét hoa văn đa dạng và kỹ xảo khác nữa.

Từ mặt bệ còn nhô lên hai bông sen, dùng làm chỗ đứng chầu của hai tượng Thiện Tài và Long Nữ. Loại tượng đức Quán Thế Âm Thiên Thủ, Thiên Nhãn, không phải chỉ ý nghĩa tượng trưng vài chục cánh tay, từ 12 đến 42 cánh tay, mà thực sự gần đúng theo số đếm thực.

Qua những công trình khai quật khảo cổ học trong mấy chục năm nay, số tượng theo thể loại nầy không ít, mà trong đó thường tập trung ở những chùa chiền phía Bắc.

Đó là những pho tượng Quán thế Âm tại chùa Đa Tốn (Gia Lâm, Hà Nội) chùa Bút Tháp (Thuận Thành, Hà Bắc) chùa Tam Sơn (Tiên Sơn, Hà bắc), chùa Mễ Sở (Châu Giang, Hải Hưng) mà trong đó tượng Quan Thế Âm tại chùa Tam Sơn đã bị hư hỏng khá nhiều trong cuộc chiến vừa qua. Tượng Quán Thế Âm chùa Đa Tốn có 42 tay lớn và 652 tay nhỏ. Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Du Chi thì có 42 tay lớn và hàng loạt tay nhỏ tổng cọng là 694 tay.

QUÁN THẾ ÂM TỌA SƠN

Tượng Quán Thế Âm Tọa Sơn thường đặt ở gian bên của phật điện trong hầu hết chùa chiền, đăng đối với tượng Quán Thế Âm Tống Tử đặt phía bên kia. Đây cũng là một dạng thức của đức Quan Thế Âm đã được Việt hoá kể từ đời Hậu Lê trở về sau, với truyện tích tiền thân của vị Phật nầy tu tập tại chùa Hương Tích.

Tượng nầy bao giờ cũng được đặt ngồi ở trên mỏm núi, dáng tự nhiên, một chân co chống và một chân buông thõng, hai tay để trên hai đầu gối, các vạt áo chảy lan xuống vách núi.

Trên vách núi có khi chạm một số sinh vật như: cá sấu, chim, khỉ, hổ (như pho tượng tại chùa thôn Đại Trà - Hải Phòng), vừa gợi lên cảnh trí thiên nhiên hùng vĩ còn hoang sơ, nhưng đồng thời cũng tạo nên vẻ hoàng tráng với quang cảnh không gian mênh mông chung quanh.

Một số chùa tại miền Trung thì đằng sau pho tượng còn có thêm một bối cảnh tự nhiên tả cảnh trời bể màu xanh tươi.

QUAN ÂM TỐNG TỬ

Pho tượng nầy được trình bày theo sự tích Quán Âm Thị Kính được truyền bá sâu rộng trong dân gian. Theo những nhà nghiên cứu lịchsử nghệ thuật thì loại tượng nầy xuất hiện ở Việt Nam tương đố muộn, niên đại vào thế kỷ XVIII hay XIX về sau. Hình thức pho tượng nầy có thể xem là việc đổi mới của tượng Quan thế Âm Tọa Sơn, tuy nhiên khi thờ phụng thì hai tượng được thiết trí đăng đối nhau.

Tại chùa Mía (Hà Tây) pho tượng Quan Thế Âm Tống Tử được xem là đẹp nhất về đồ hoạ, màu sắc và thể dáng trong tất cả những pho tượng cùng chung thể tài nầy.

Tượng to vừa phải bằng con người thực, dáng dấp của một thôn nữ hiền thục, phúc hậu, ngồi trên môt mỏm núi, chân trái hơn co còn chân kia duỗi thẳng, rất tự nhiên, hai tay đỡ một đứa bé (con của Thị Mầu). Bên cạnh có môt con vẹt đậu, mà theo một số truyền thuyết (Quán Thế Âm Truyền Kỳ - 1943) thì con vẹt biểu trưng cho Thiện Sỹ.

Những chi tiết chạm khắc trên đã theo như tích truyện, mà trong đó đứa bé thì được hình dung hoá là "chúng sanh trong bể trầm luân".

Nhìn chung lại, những hình tượng đức Quán Thế Âm rất gần gủi với người bình dân Việt Nam, thường biểu hiện cho sự "cứu khổ, cứu nạn", "viễn ly khổ ách".

Những ngôi chùa thuộc Phật Giáo Đại Thừa thường thiết lập tượng nầy trong nhiều kiểu dáng, có khi có đủ 5 kiểu nêu trên. Ngoài những loại tượng Quán Thế Âm kể trên, nhiều chùa còn có bộ tranh Thập Điện Diêm Vương đang xét xử những người từng gây nhiều tội ác trên dương thế; trong đó có cả cảnh đức Quán Thế Âm vào tận ngục thăm hỏi và cứu độ chúng sanh.

Những tượng Quan Thế Âm nổi tiếng

Tượng Quán Thế Âm chùa Đa Tốn (Hà Nội) mặc dù những pho tượng nầy thường để trần, lại có pho với hai dạng tay, như tượng tại chùa Đa Tốn có 42 tay lớn và 652 tay nhỏ kèm theo đó, những bàn tay nhỏ được phân bố thành 5 lớp, phân chia theo từng cặp cân xứng với nhau ở hai bên sườn.

Đây là pho tượng đức Quán Thế Âm Bồ Tát Nam Hải sớm nhất hiện biết được tại nước ta. Các nhà nghiên cứu thường lấy pho tượng nầy làm chuẩn để nghiên cứu và so sánh những tượng cùng thể tài và thể loại.

Những tay với các ngón búp măng dài, bao giờ cũng được làm điều hoà và cân xứng với nhau. Ở những tay lớn, đôi trên thường đỡ mặt trăng hay mặt trời, hoăcđỡ cây tháp, với ý nghĩa "xiển dương Phật Pháp" (Phật Học Từ Điển - Đoàn Trung Còn). Những tay khác cầm những loại nghi vật, nhưng thường được kết ấn.

Những kiểu kết ấn thường thấy là: (a) Liên hoa hợp chưởng ấn (Ấn hình hoa sen chấp trước ngực). (b) Tam muôi ấn (Hai bàn tay chồng nhau,tay ngửa ra, đặt trên đùi).

(c) Gia trì bổn tôn ấn (Cong hai ngón taynhẫn và giữa, ngón cái thì giữ lấy).

(d) Ấn Vô Uý.

(e) Ấn Cam Lồ.

(f) Ấn thuyết pháp.

(g) Ấn Cứu độ chúng sanh trong ba cõi.

Trong những loại ấn nầy, về phương nầy hay phương diện khác đều nói lên "khả năng và uy lực" của đức Quán Thế Âm Bồ Tát, trong việc cứu độ chúng sanh.

Tượng Quan Thế Âm tại chùa Kiêu Kỵ

Gia Lâm có đến năm khuôn mặt, nhưng nhìn chung thì bất cứ khuôn mặt nào cũng đã toát ra đầy đủ tánh dịu hiền, đầy vẻ suy tư về những cảnh thăng trầm của cuộc thế.

Về nghệ thuật tạo hình: Các loại tay lớn của tượng ít nhiều có những đường nét mềm mại, uyển chuyển, tưởng chừng như trong "tư thế múa" (theo L. Bezacier - 1933). Đồng thời, theo từng thứ lớp đều đặn, những cánh tay cứ mở rộng ra dần dần, theo kiểu "cánh hoa nở" (Luvicarana).

Phẩm phục: Áo của đức Quan Thế Âm trong những hình tượng điêu khắc ở những ngôi chùa cổ thường không bao kín như những pho tượng Tam Thế, nhiều nơi áo không tay, có nhiều nếp chồng xếp nhau đều đặn. Nổi bật nhất là nhiều nơi đầu vạc áo được chạm bong kênh, buông lửng xuống, thành một mũi nhọn vừa phải, để tạo nên kiểu dáng riêng của loại tượng nầy. (Theo Trần Lâm Biền).

Đài sen: Ở những đài sen đỡ phía dưới, thường là bộ phận được cấu tác tách rời khỏi tượng; kích thước cân xứng với độ nở của phần dưới cơ thể. Đài sen thường phân chia ra nhiều lớp cánh, cách đều nhau, tuy nhiên, các cánh sen nho hẳn ra trong thế cuốn tròn, không mang tính chất chạm nổi như đài sen của các thời đại khác.

Phía dưới của đài sen có hình một đầu quỷ hay đầu rồng. Những dạng hình quỷ thường mô phỏng theo mặt người, nhưng lại có những nét rất hung tợn. Hình con quỷ chỉ có đầu và hai tay, được nhô lên từ mặt biển đầy sóng gió cuộn lên.

Theo phân tách, thì dù là dưới dạng rồng hay dạng quỷ, thì linh vật nầy vẫn mang tính cách là Diêm Vương, với tên là "Ô Ba Nan Đà Long Vương" hay còn gọi tên là "Nan Đà Long Vương". Quỷ nâng cao toà sen lên tức là quay trở về với Chánh Pháp.

Phía dưới hình quỷ là một chiếc bệ cao, có ba tầng, hai tầng 1 và 3 thì xoè ra, nhưng tầng 2 thì bé nhỏ lại. Cách chạm khắc và biểu tượng cho chiếc bệ nầy cũng giống như bệ Tam Thế. Trên bệ có trang trí những hình khắc nổi các hình hoa cúc, hình hổ phù trên nền vẽ theo ngọn lá sen. Ngoài ra còn có hình long, lân... rất phổ biến trong những phù điêu thời Hậu Lê.

Nhìn chung lại, tượng Quán Thế Âm Nam Hải cũng như nhiều pho tượng Quan Thế Âm khác của thế kỷ thứ XVI, đã thể hiện rõ nét nghệ thuật chạm khắc đời nhà Hậu Lê và Mạc, lại mang nhiều đường nét dân dã.

Tượng Quán Thế Âm chùa Bút Tháp

Pho tượng Quán Thế Âm tại chùa Bút Tháp thì những khuôn mặt đều mang một phong cách đặc biệt: những đường nét từ bi, nhân đức, có tính chất sang quý hơn tượng của chùa Đa Tốn. Những mặt trên không có Thiên quan, mà lại để tóc trần, cuốn búi cao lên trên đỉnh đầu.

Tượng có 42 tay lớn trong đó có hai đôi tay chính; đôi thứ nhất chắp trước ngực, mang hình thức búp sen, trong thể ấn "Liên Hoa", để biểu hiện cho Lý Tính và Trí Tuệ của con người cùng một thể trong cội nguồn. Còn đôi tay thứ hai đặt trên lòng đùi theo ấn "Samâdhi" (tức là Thiền định). 38 tay khác đặt trong tư thế cao thấp không đồng đều nhau, được chắp vào vào ở hai cạnh sườn phía đằng sau. Những bàn tay kể trên đều trong thế ấn quyết, không cầm nghi vật.

Theo những tài liệu còn giữ thì tượng nầy được tạc nên vào năm Bính Thân (1656), của những tay thợ lành nghề nhất của làng Phương Xá. (Tài liệu của GS Hà Văn Tấn).

Tác phẩm mỹ thuật nầy được cấu tạo gọn gàng, bố cục rất chặt chẻ từ trên xuống dưới; chiều cao khoảng 3,7 mét, chỗ phình rộng nhất là 2,1 mét và bề dày vào khoảng 1,15 mét. Nhìn tổng quan thì pho tượng được phân chia ra làm hay phần rõ rệt và kết dính nhau bằng nòng sắt từ bên trong. Pho tượng nầy có 42 tay lớn và 789 cánh tay nhỏ, tổng cọng là 831cánh tay ở đằng sau.

Quán Thế Âm Nam Hải theo truyền thuyết thì có 11 đầu, ở ngôi chùa nầy, ngoài khuôn mặt chính ra, còn có hai mặt nữa ở hai bên má và 10 đầu xếp thành 3 tầng ở trên mũ; trên đỉnh còn nâng một pho tuợng đức A Di Đà nhỏ nữa, biểu hiện cho sự gắn bó giữa hai nhânvật nầy, theo kinh Phật. (đức Phật A Di Đà biểu hiện cho Từ Bi và Trí Tuệ).

21 cặp tay lớn, ngoài cặp tay chắp trước ngực và để trong lòng trước bụng, những tay khác đều được dang ta đăng đối nhau,với những ngón tay trong các tư thế khác hẳn nhau, thấp thoáng như tất cả đang trong sự chuyển động miên tục, 789 cánh tay được xếp thành vòng tròn hào quang, lấy điểm sau gáy pho tượng làm tâm điểm, các cánh tay theo chiều hướng đó cứ mọc ra thẳng tắp theo hình vòng tròn đồng tâm lan rộng ra dần. Trong lòng mỗi bàn tay nhỏ lại được khắc một con mắt nữa, để biểu đạt ý nghĩa về "Thiên thủ, thiên nhãn".

Tuy trông khác thường nhưng không vì thế mà giảm phần uy nghi. Trên đầu đội mũ theo hình hoa sen nở, lại còn có thêm 8 đầu nhỏ nữa, xếp thành ba tầng cao vút lên như ngọn tháp. Trên đỉnh nhọn của tháp người ấy lại còn thêm một pho tượng nhỏ nữa, ngồi trong tư thế tĩnh tọa.

Tất cả gần nghìn tay, nghìn mắt như đã nói được xếp thành một vòng hào quang, mà trên đỉnh lại còn gắn thêm một đôi chim đầu người, trông như đang dang cánh rộng để bay xà xuống dưới. Bệ tượng có nhiều tầng, phía trên là đầu rồng đội toà sen, phía dưới là một đế hình vuông, chung quanh đều có những nét chạm trỗ tinh vi hình hoa sen tám cánh; ngoài ra còn rồng, phụng, sư tử,cờ quạt, cuốn thư.

Về phía bốn góc của bệ, lại còn có hình của võ sĩ nhỏ, cao khoảng 0,30 mét, như để nâng bệ tượng lên cao hơn. Phía mặt tròn của bệ tượng phác họa hình của đại dương, mà trong đó có hình những loài thủy tộc như tôm cá, ngạc ngư, ốc rùa... Mọi sinh vật trong dáng đang bơi lội tung tăng với những đợt sóng đang cuồn cuộn đẩy về phía trước. Tuy đã mất những góc cạnh sắc bén nhưng không vì thế mà giảm mất giá trị cảnh trí.

Từ giữa biển cả, một con rồng lớn đang nhô đầu lên cao, đội toà sen đưa đức Quán Thế Âm vượt trùng dương. Gần đây có nhiều đợt trùng tu, bổ khuyết, nhưng không theo được những đường nét cũ, nên đã trở nên lạc lỏng, chắp vá, thiếu mỹ thuật.

Pho tượng nầy cùng với những pho tượng khác trong chùa Mía là những tác phẩm điêu khắc độc đáo, được chính quyền xếp vào loại "điêu khắc ưu hạng" cổ truyền Việt Nam.

Maspéro viết: Tượng đức Quán Thế Âm Bồ Tát có 6 kiểu: tượng Quán thế Âm Chuẩn Đề có 3 mắt và 18 tay cầm pháp bảp; tượng Thiên Thủ Thiên Nhãn tạc theo điển bà Diệu Thiện nghìn tay, nghìn mắt; tượng Quán Thế Âm toạ sơn ngồi trên núi đá; tượng Quan Thế Âm đội mũ ni hoặc đứng, hoặc ngồi trên toà sen cầm lọ nước cam lộ và cành dương liễu; tượng Phật Bà Quan Âm ngồi toà sen có đầu yêu quái đội trên toà sen tạc theo điển Quan Âm bắt giống yêu quái hay hiện ra làm người lái đò, quấy nhiễu hành khách qua sông; tượng Quan Âm Tống Tử tạc theo điển bà Thị Kính bị Thị Mầu đổ oan tình, nuôi trẻ thơ (con vẹt là hậu thân của Thiện Sĩ).

Tượng Quan Thế Âm chùa Hội Hạ (Vĩnh Yên)

Pho tượng Quán Thế Âm được nói đến nhiều là tượng ở chùa Hội Hạ (huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Yên) là tượng Quán Thế Âm Nam Hải, nhưng cũng được gọi là Quán Thế Âm Chuẩn Đề, vì hai tay chính thuộc về thân thể đang kết ấn Chuẩn Đề ở trước ngực; Ngài dùng phép Chuẩn Đề hiệu nghiệm nhất để cứu độ chúng sanh; ngoài đôi tay trên, còn hai mươi đôi tay nữa, đưa tổng số lên đến 42 tay, nên cũng được sắp vào loại tượng Quán Thế Âm Thiên Thủ, Thiên Nhãn.

Quán Thế Âm chùa Hội Hạ đang ngồi toạ thiền trên toà sen, có 42 tay xếp từng đôi một, đăng đối nhau, trong những loại động tác khác nhau: 2 tay chấp trước ngực, hai tay để trong lòng trước bụng và 38 tay chia ra từng cặp toả ra hai bên; nhiều đôi tay cầm những vật báu (pháp khí) nhà Phật như: mặt trăng, mặt trời, bảo tháp, tràng hạt, bánh xe, hòm kinh sách, chuông đồng, gương đồng, sừng tê, giải lụa, bình nước cam lồ và cành dương liễu...

Cũng có đôi tay không cầm gì mà đang kết ấn. Các đôi tay nầy được xếp hai bên sườn từ vai xuống hông, mà không hề dị dạng; tuy nhiều nhưng đối xứng với nhau từng cặp một, với những thế khác nhau, thuộc những thời điểm khác nhau.

Đầu tượng đội mũ Thiên quan vành cao, thành đứng, trang trí những dây hoa cúc, có những nếp cánh sen và mây xoắn; đặc biệt là phía trước mũ là hình chạm nổi đức Phật ngồi, trong vòng những hào quang chiếu sáng.

Mặt tượng bầu bĩnh, dáng phúc hậu, với đôi tai dài đeo hoa, trán nở, lông mày cong che đôi mắt đăm chiêu, mũi dày, miệng chúm, cầm thoa. Cổ ngắn nhưng vẫn có ngấn.

Mình tượng mập mạp, khoác áo cà sa rủ những nếp chảy xuôi trong những mảng vuông vức hai bên ngực, đối lập với mảng cánh tay toả ngang ra, đã tạo nên tính chất đàng bệ và bề thế. Hai đùi tượng bè ra, khuỳnh ngang áp sát bệ, trong tư thế ngồi khiến cho pho tượng tuy kềnh càng nhưng rất chắc chắn.

Hình dáng của đức Quán Thế Âm tại đây được xây dựng từ những hình ảnh bình dân, đầy nhân tính, dáng mộc mạc, đôn hậu, hiền từ.

Bệ tượng gồm có hai phần, được đóng kín trong khối bán cầu ở phần trên và khối lục lăng ở phần dưới. Hai phần được gắn với nhau bằng con quái vật đầu người nhô lên ở giữa; hai cánh tay ở hai bên, thêm hai đầu rồng ở phía trước để tăng chân đế chuyển lực xuống phía dưới.

Phần khối bán cầu là một toà sen có ba lớp và lớp nhụy hoa viền ở phía trên, cánh sen nở rộng ra, lại được trang trí thêm bằng những loại hình xoắn ở bên trong.

Khối lục lăng ở dưới có mặt trên là biểu hiện của Nam Hải, sóng cuồn cuộn; mặt trên thót giữalại thành 3 nấc: nấc trên: chạm hình rồng lưng võng yên ngựa và rồng triện hoa dây; nấc giữa: thụt vào trong, có tượng chim thần gắn ốp lưng vào các góc; nấc dưới cùng: có những hình ô hộc, chạm hoa lá, rồng mây, cá hoá rồng ngựa có cánh.

Trên mặt bể có nhô lên hai đài sen nhỏ, làm chỗ đứng cho hai tượng Thiện Tài và Long Nữ chầu hai bên Phật Bà.

Tượng Quán Thế Âm chùa Một Cột

Chùa Một Cột còn có tên là chùa Diên Hựu xây ngay ở trung tâm của kinh thành Thăng Long. Ngôi chùa được dựng lên trong giai đoạn đầu tiên bắt nguồn từ một giấc mơ.

Trong lịch sử nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc, đồ họa Phật Giáo Việt Nam, chùa Một Cột (Diên Hựu) tại thành phố Hà Nội được nổi bật lên như một tác phẩm độc đáo trên những ý nghĩa thờ cúng và cấu trúc, đồng thời cũng đã gây những cuộc tranh luận không ít. Điều đáng nói trước tiên là hình tượng bông sen mọc lên giữa một hồ nước hình vuông, trong xanh, khá nghệ thuật, mà các nhà nghiên cứu suy nghĩ theo chiều hướng riêng.

Giáo sư Nguyễn đăng Thục trong Lịch Sử tư tưởng Việt Nam (tập I) cho rằng: Chùa một Cột với hình tượng Linga - Yoni (Dương Vật và ÂmVật) của Ấn Độ Giáo của người Chăm Pa.

Ông viết: "Chùa Một Cột là một công trình hợp sáng rất thần tình, vì nó đã hoá trang linh phù Linga - Yoni của Chiêm Thành (Chăm Pa) hình tượng một bông sen xuất hiện ở giữa đầm nước trên cái cuộn bằng đá đồ sộ, đội một điện nhỏ mái ngói, nhắc nhở dân chúng cái hình ảnh cái nhà sàn cao cẳng của văn minh Đông Sơn..”.

Nhận định nầy gây ra những ý kiến tham luận chống đối.

Trong Việt Nam Phật Giáo Sử Luận (I), Nguyễn Lang cho rằng: Ý kiến nầy không có cơ sở. Theo Nguyễn Lang, "Phật Giáo chưa bao giờ từng bị ảnh hưởng lạ kỳ như vậy, trong văn học cũng như trong nghệ thuật". Không những về hình tượng, mà ngay cả kiến trúc gỗ của ngôi chùanhỏ trên cột của chùa Một Cột, cũng đã gây sự chú ý cho các nhànghiên cứu theo những tầm nhìm khác nhau.

Theo giáo sư Nguyễn Đăng Thục khi đi tìm nguồn gốc của Chùa Một Cột thì thấy dạng thức những ngôi nhà sàn được trình bày trên đồ đồng Đông Sơn.

Theo nhà dân tộc học Nguyễn Khắc Tụng lại cho rằng: Chùa Một Cột có nguồn gốc từ miếu Thổ Thần, miếu Cây Hương... Tuy nhiên, dù cho đi tìm về nguồn gốc từ hướng nghiên cứu nào đi chăng nữa, nhưng không một nhà nghiên cứu nào phủ nhận hình tượng bông sen của chùa Một Cột. Về phương diện nầy thì phải có tầm nhìn sâu xa hơn mới thấy được giá trị tư tưởng sáng tạo của hình tượng nầy.

Vào đời nhà Lý trong nghệ thuật kiến trúc thì chức năng của chuà Một Cột cũng có những điểm khác biệt, nếu so với chức năng chỉ có một đài thờ đức Quan Thế Âm Bồ Tát của những chuà chiền hiện nay.

Sách Đại Việt Sử Ký Toàn Thư có ghi về trường hợp kiến tạo ngôi chùa nầy như sau:

Mùa đông, tháng 10 năm Thiên Cảm Thánh Vũ thứ 6 (1049), đã dựng chùa Diên Hựu. Trước đây, vua chiêm bao thấy Phật Quan Âm ngồi trên toà sen, dắt vua lên tòa. Khi tỉnh dậy, vua đem việc ấy nói với bầy tôi, có người cho là điềm không lành. Có nhà sư Thiền Tuệ khuyên vua làm chùa, dựng cột đá ở giữa hồ, làm toà sen của Phật Quan Âm trên cột như đã thấy trong giấc mộng. Cho các nhà sư đi lượn vòng chung quanh, tụng kinh cầu cho nhà vua sống lâu. Vì thế, gọi là chùa Diên Hựu...

Trên văn bia chùa Một Cột (Nhất Trụ Tự Bi) khắc ngày 15 tháng 6 năm Cảnh Trị thứ 3 (1665) cho chúng ta biết chi tiết hơn về ngôi chùa dựng năm 1049 như sau: "Nước Việt ta xưa, trong thành Long Biên có một cái hồ hình vuông. Năm đầu niên hiệu Hàm Thông đời nhà Đường, dựng một cột đá ở giữa Hồ. Trên cột xây một toà lầu ngọc, trong đó đặt tượng Quan Âm để thờ cúng... Khí đất nhìn chung thì rất anh linh, cầu gì được nấy.

Đến khi triều nhà Lý xây dựng kinh đô ở đây, cũng noi theo dấu cũ, ngày càng sùng kính, cho nên càng thêm linh thiêng.

Khi vua Lê Thánh Tông chưa có Hoàng tử, cũng thường đến nơi đây để cầu nguyện. Một đêm, nằm mộng thấy được Phật Quan Thế Âm mời lên trên lầu, ôm một đứa bé đặt vào lòng. Tháng đó, Hoàng Hậu có mang Hoàng tử. Vua bèn sửa thêm ngôi chùa Diên Hựu ở bên phải chùa Một Cột để mở rộng việc thờ cúng, làm sáng tỏ việc tôn sùng.... Trải qua ba bốn triều đại, đều nối tiếp nhau dựa trên cơ sở cũ sửa sang thêm và đều được hưởng phúc như cát sông Hằng... (Văn bia Hà Nội - 1978 - trang 59).

Trên đây là những phong cách điêu khắc đức Quán Thế Âm Bồ Tát theo chiều dài lịch sử Phật Giáo Việt Nam. Cũng từ tư duy mỹ thuật từng thời đại, đã thể hiện rõ nét hướng đi của nền mỹ thuật nói chung.

ỨNG THÂN VÀ BIẾN THÂN

SỰ LINH ỨNG:

Ngài Ðạo Tuyên đời nhà Ðường, trong một bài viết về tình hình tín ngưỡng Bồ Tát Quán Thế Âm trong giai đoạn đó đã viết:

“Hiện nay (618), có đến trên 400 cuốn kinh sách đủ loại nêu ra những cách xưng niệm danh niệm tụng các vị Quán Thế Âm, Ðịa Tạng, Di Lặc, Di Ðà... thì sẽ được các Ngài đến cứu giúp, hộ trì, không thể nào kể xiết được chứng liệu đó”.

Những cuốn tiêu biểu nhất được truyền bá khắp quảng đại quần chúng (Trung Hoa) phải kể đến: Quán Thế Âm Linh nghiệm Ký. Lục Quan Thế Âm Linh Nghiệm Ký, Hệ Quán Thế Âm Kinh Nghiệm Ký...

Trong cuốn “Bắc Sử - Lỗ Cảnh Du Truyện” có đoạn ghi rằng: “Ông Lỗ Cảnh Dụ thời Bắc Ngụ bị bắt nhốt trong thiên lao đã 6 năm, về sau đã nhất tâm tụng niệm “Kinh Quán Thế Âm” (Pháp Hoa Kinh - Phổ Môn phẩm) thì những gông cùm tự nhiên tung ra”. “Lại có người bị tội sắp hành hình, thì cây đao của đao phủ tự nhiên nặng chịch rơi xuống, đứt đoạn cho nên đã thoát chết”.

Theo “Linh Nghiệm Ký”, các phạm nhân hàm oanđã hết sức vui mừng không kể xiết, vì sau khi đã thành tâm tụng niệm hồng danh “Quán Thế Âm Bồ Tát” hàng ngàn, hàng vạn biến, thì “gông cùm tự nhiên đứt đoạn” hay là “cửa nhà lao tự nhiên mở toang, giải thoát tù nhân”. Tuy nhiên “Linh Nghiệm Ký” cũng phân chia ra làm kẻ thiện, người ác khác nhau, trong khi được hưởng những âm huệ thiêng liêng nầy.

Sách viết:

“Với những người bị hàm oan, thì Bồ Tát Quán Thế Âm ra sức phát nguyện từ bi. Giúp cho họ tránh khỏi những trừng phạt; tuy nhiên, đối với những kẻ khi bị tù tội vẫn không chịu sám hối, vẫn không hề từ bỏ những trò dao búa, thì không bao giờ hưởng được ân huệ nầy cả...”

Sách ghi chú: Trì tụng tức là dốc lòng cầu nguyện, thành tâm quán tưởng đến đạo hạnh của Ngài, không một sát na nào xa lià, thân với tâm ý là một, thì mới hiệu nghiệm được.Trong phần thứ 15 của Phẩm “Quán Thế Âm Bồ Tát - Phổ Môn” của Diệu Pháp Liên Hoa Kinh có nói rằng:

“Phàm những kẻ nào gặp phải những cảnh khổ nạn vủa Vua chúa, đến lúc sắp bị chém, nếu nguyện lực của vị Bồ Tát Quán Thế Âm, đạo sẽ bị đứt ra từng đoạn; hoặc giả: kẻ nào bị lao tù cấm cố, chân tay bị xích, bị khoá, khi tụng niệm đến oai lực của Ngài, tự nhiên được cởi trói”.

Phân tách đoạn nầy, học giả E. Conzé viết: “Ðây là bút pháp trừu tượng hoá. Tù tội có thể hiểu theo 2 nghĩa: về thể xác tù tội và tinh thần tù tội. Nếu tội nhân hiểu được lẽ thường của nhân quả luân hồi, thì sẽ được sống trong tinh thần an nhiên tự tại, thì dù cho bị tù tội, nhưng tâm hồn khi đã quán triệt rồi, thì thanh thản, tự do”.

SÁCH “ÐẠI TỪ, ÐẠI BI”

Một thể tài khác cũng được khai thác sâu rộng là “Quán Thế Âm Ðại Từ, Ðại Bi, Cứu khổ Cứu Nạn, Linh Cảm Ứng.” Cách giải thích thông thường là đề cao quá mức sự linh nghiệm trong khi trì tụng hồng danh của Ngài. Chẳng hạn như trong cuốn “Ngũ Tạp Trở”, chương XV, có đoạn viết:

“Những lời dạy của đức Phật Thích Ca chỉ có một vị duy nhất là không tịch mà thôi. Ðó chính là “Quán Thế Âm Ðại Sĩ”, rủ lòng từ bi vô hạn đối với tất cả chúng sanh, ra sức tế độ trong mười phương. Xét ra, công đức và sự tu tập nầy còn cao hơn giáo lý của Khổng Tử và Mạnh Tử rất nhiều”. Sách ra đời vào cuối nhà Minh, nhưng đến nay vẫn còn được nói đến nhiều.

Thông thường, những lời đánh giá chức năng của Quán Thế Âm Bồ Tát rất cao, trong mọi trường hợp. “Từ” và “Bi” mà Phật Giáo đề xướng trong cách ứng xử với chúng sanh cũng có những chỗ khác với đức “từ bi” mà thế gian từng lý giải. “Từ bi” ở đây có hàm ý sâu rộng hơn. “Ban vui” là từ, “cứu khổ” là bi. Ðiều gọi là “ban vui” (tức là “Từ”) là nói rõ chư Phật và chư Bồ Tát thương yêu và bảo vệ chúng sanh, đem niềm hoan lạc đến cho chúng sanh.

Kinh “Ðại Trí Ðộ Luận” Quyển 27, có đoạn viết:

“Ðại từ là vui cùng với tất cả chúng sanh. Ðại bi tức là diệt hết mọi khổ não cho chúng sanh”.

Kinh Diệu Pháp Liên Hoa - Phẩm Thí Dụ - cũng có đoạn:

“Ðại từ, Ðại bi, hai điều nầy không bao giờ được lơi lỏng, phải luôn luôn cầu việc tốt, đem lợi ích cho tất cả chúng sanh”.

Ðức Phật có một danh hiệu rất cao quý là “Lưỡng Túc Tôn”, tức là dùng để chỉ Trí tuệ và Từ bi. Trí tuệ thuộc về tự lợi, tự ngộ. Từ bi thuộc về lợi tha, ngộ tha.

Trong cuốn “Cứu Kính Từ Bi Luận”, danh sĩ Thẩm Ước đời nhà Lương (Nam Triều) giải thích: “Những lời dạy của đức Phật vốn là Từ bi”.

Trong bài “Yến Tử Khán Thiền Sư” Vương Duy đời Ðường cũng có câu: “Cứu thế Từ bi nhiều, tức là không tạo đến nghiệp chướng nữa”. Tinh thần thể hiện về “Từ bi” là “cứu độ”. Tuy rằng, chư Phật và chư Bồ Tát đều là thể hiện của Ðại từ, Ðại bi, tuy nhiên, trong giáo lý nhà Phật, khi nói đến “Ðại bi” là đề cập đức Quán Thế Âm Bồ Tát; khi nói đến “Ðại từ” tức là đề cập đến đức Ðương Lai Hạ Sanh Di Lặc Tôn Phật.

ỨNG THÂN VÁ BIẾN THÂN CỦA ÐỨC QUÁN THẾ ÂM

Trong kinh văn cũng như trong thờ phụng, đức Quán Thế Âm Bồ Tát thường hiện ra trong những thân như sau:

Lòng Từ Bi:

Những đau khổ về vật chất cũng như về tinh thần của chúng sanh thật là vô biên, đầy rẫy ở khắp mọi nơi trong ba ngàn thế giới, kinh quan hình ảnh của trăm ngàn cảnh khổ đau, sầu não, bi lụy không kể xiết. Chúng sanh trong những hoàn cảnh nầy thường ngưỡng trông đến sự cứu độ của Ngài. Ngài khởi tâm Ðại Bi thương xót, hiện thân với Thiên Thủ, Thiên Nhãn, tùy theo cảnh huống và tình trạng của mỗi chúng sanh để cứu độ.

Mã Ðầu Quán Thế Âm:

Cứu khổ nhưng diệt tà, vẫn là hai ý niệm đối lập và cần thiết trong chức năng cứu độ của Ngài. Trong trường hợp thứ hai, Ngài cũng hiện thân với khuôn mặt trang nghiêm, hung dữ “đầu to, miệng lớn” để trù chứng ma. Giải lý là: Với ma quỷ hung ác, nếu hiện ra với khuôn mặt từ bi, hoà ái, ác quỷ sẽ không sợ; buộc Ngài phải hiện thân “mã đầu”, mục đích trấn áp, cương quyết diệt ác.

Quán Thế Âm Thập Nhất Diện:

Cũng trong ý nghĩa biến hoá khôn lường và từ bi vô hạn, hình ảnh “Thập nhất diện” của Ngài cũng thường phổ biến.

Kinh văn chép: Một thời, lúc đức Thế Tôn tại thế, thì đức Quán Thế Âm là một vị Bồ Tát chuyên hộ trì chánh pháp của đức Bổn Sư tại thế gian. Bồ Tát thường hiện thân dưới nhiều sắc thái khác nhau, đi khắp nơi, khuyên dạy mọi người ra công tu tập. Trong khi đó, bọn quỷ cũng hoá ra giống y như Ngài để phản giáo.

Thành thử Bồ Tát liền hoá thân ra ba bốn đầu khác nhau, để hoá giải và chinh phục chúng. Bọn quỷ không từ nan, cũng hoá thân ba bốn đầu. Ðức Quán Thế Âm hiện ra thêm 10 đầu, thì bọn quỷ cũng cố sức hiện 10 đầu như vậy. Sau cùng Ngài hiện ra thêm đầu thứ 11, uy nghi và mãnh liệt hơn: đó là đầu của đức Phật A Di Ðà. Bọn quỷ nao núng và thất bại, không còn dám bắt chước nữa.Từ sự tích nầy (thêm hình ảnh của đức Di Ðà), chúng sinh đã phân biệt được Phật và quỷ.

Ghi chú:

Tranh tượng Bồ Tát Quán Thế Âm 11 đầu phổ biến nhiều nhất là nghệ thuật Phật Giáo Tây Tạng. Trong tranh, đức Quán Thế Âm mang 9 đầu của 9 vị Bồ Tát, 1 đầu của đức Di Lặc, đầu 11 là của đức A Di Ðà. Cứ mỗi 3 đầu, thì tượng trưng cho 3 đặc tính: (a) từ bi với chúng sanh khổ nạn (b) quyết tâm đối trị chống hung ác, (c) hoan hỹ với thiện hành, thiện căn.

Một cách giải lý khác: 10 đầu dùng để biểu trưng cho 10 cấp độ Thập điạ; 1 đầu là hình ảnh của Phật quả.

Chuẩn Ðề Quán Thế Âm:

Thịnh hành nhất ở Phật Giáo Tây Tạng. Theo giáo pháp, do căn cơ và cá tánh của chúng sanh mỗi người một khác, nên đường tu tập không thống nhất. Trường hợp Ngài hiện thân Phật Mẫu Chuẩn Ðề Quán Thế Âm để cứu độ, dìu dắt những người tu tập theo phương pháp trì tụng Mật chú, dựng Ðàn Tràng Mạn Ðà La, lập ấn quyết.

Như Ý Luận Quán Thế Âm:

Hình tượng nầy phổ biến khắp nhân gian, với người bình dân. Như Ý Luân là cầu gì được đó, thuận theo ý mình. Kinh văn giải thích: Ðại phàm những người nào có đủ chân thành, chánh tín, thì cầu gì sẽ đạt như sở nguyên. Cũng tương tự như trong ý nghĩa: Ngày xưa, ai có được viên ngọc của cá Ma Kiệt, thì ước gì được đó, nên gọi là Như Ý Ngọc.

“Bất không quyên sách”:

Một hiện thân khác là Bồ tát Quán Thế Âm (với sợi giây) Bất không quyên sách. Còn được gọi là Giây Thần Thông. Bồ Tát Quán Thế Âm dùng nắm Giây nầy, để cứu độ những người đang xông pha vòng nguy hiểm. Ðặc biệt là lênh đênh trên biển cả. Hai hình ảnh khác:

- Gặp kẻ trộm cướp hung tàn, Ngài dùng giây để bắt tại chỗ.

- Gặp quân thù ác độc tấn công, Ngày dùng giây để bắt giặc.

Kinh Phổ Môn dạy: “Bồ Tát Quán Thế Âm có đến 32 (hay 33) ứng thân, vừa cứu độ chúng sanh, vừa giải trừ tai nạn”.

HÌNH TƯỚNG BỒ TÁT QUÁN THẾ ÂM:

Lai lịch của Ngài ở những quốc gia Phật Giáo được trình bày dưới nhiều điển liệu khác nhau. Do danh từ nầy phát xuất tại Trung Quốc (cũng như danh xưng của Ngài tại Kampuchia là “Lokecvara”, tại Tây Tạng dưới dạng các “Tara” (từ nước mắt của đức Quán Thế Âm Bồ Tát), ở Nhật Bản là “Kwanon”), Quan Âm (Kwan-Yin) được trình bày đa dạng. Nhiều công trình nghiên cứu nổi tiếng về lại lịch nầy. Chẳng hạn như trong Hồng Lâu Mộng (hồi thứ 50) của Tào Tuyết Cân viết:

Lý Hoàn đưa ra một câu đố “Quán Âm chưa có chuyện thế gia (chuyện riêng), hãy trích ra một câu trong “Tứ thư”. Cuối cùng thì Bảo Ngọc đoán ra được; lời giải là: “Làm thiện mà không ai biết”. Câu đó trích trong “Lễ Ký – Trung Dung”: “Những người cao thượng làm việc thiện mà không ai biết”. Ý của câu nầy có nghĩa: Không ai biết mà chứng thực cho. “Chứng” ở đây có nghĩa là “Chứng nghiệm”, “Chứng Thực”. Ý nghĩa của lời giải nầy là chỉ việc ta không thể xem xét và tìm tòi được lai lịch, cũng giống như thuở bình sinh của đức Quan Thế Âm vậy...

(Bản dịch của Á Nam Trần Tuấn Khải- Trí Ðức Tùng Thư)

NHỮNG TIẾN KIẾP CỦA QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT

Truyện tích Song Mã Ðồng

Hiện nay, trong kho tàng sử liệu, kinh văn và truyền thuyết Phật Giáo Trung Hoa, Tây Tạng, Tích Lan cũng như tại Việt Nam có nhiều huyền thoại khác nhau chung quanh những tiền kiếp của Ngài.

Một trong những huyền thoại - truyền thuyết nổi tiếng nhất là truyện “Song Mã Ðồng”. Theo nguyên Hán Văn, Song = hai; Mã = ngựa; Ðồng = trẻ nhỏ. Bộ kinh Rig Veda (Phệ Ðà) của Ấn độ có 4 tập chính lần lượt xuất hiện với những tác giả khác nhau được tu góp lại, trong đó, bộ Véda sớm nhất là Loceos Veda (Lệ Câu Phệ Ðà). Tác phẩm ra đời vào khoảng 1,500 năm trước Công nguyên.

Trong Lệ Câu Phệ Ðà có đề cập đến nhiều vị thần, mỗi vị có một khả năng khác nhau và giữ một chức năng khác nhau. Vị thần đầu tiên là “Nhân Ðà La”, vị thần chiến tranh, dũng mãnh, mưu trí, nhưng cũng tàn bạo. Vị thần thứ nhì là A Ki Ni (Akkini), tức là “Thần Lửa” có khả năng giúp cho dân chúng sinh sống, làm lụng, nhất là về nông nghiệp.Vị thần thứ ba là Sô Ma (Chomad), tức là “Thần rượu” hay “Thần Hoan hỷ”, góp phần giúp những thú vui cho dân chúng khi cầu nhàn.

Quan trọng hơn hết là vị thần thứ tư, có tên Asvin (A Thấp Bà), tức là Song Mã Ðồng.

Vị thần sau nầy được ghi chép và thờ phụng trong nghi lễ của Bà La Môn Giáo và Ấn Ðộ Giáo. Trong nguyên bản, thần A Ki Ni và thần Song Mã Ðồng là hai anh em sinh đôi, “một đôi thiên thần thanh niên mỹ lệ” như danh xưng của họ. Song Mã Ðồng tức là đức Quán Thế Âm sau nầy. Mật Tông Tây Tạng thường phác họa hình ảnh của Song Mã Ðồng (Quán Thế Âm) là: Một thanh niên cường tráng, nhanh nhẹn, trên đầu đội mũ hình hoa sen, ngồi trên xe 3 bánh bằng vàng, do ngựa, chim hay trâu kéo.

Hình trạng: Công đức chính của Song Mã Ðồng là cứu khổ, cứu nạn. Ðặc biệt hơn hết là trị bệnh, cứu nguy cho tất cả mọi người, hễ ai cần đến sự giúp đỡ của Ngài. Ngài có thể giúp cho người mù được sáng mắt trở lại; người tàn tật sẽ được lành lặn. Con bò già có thể vắt được sữa. Người vợ của hoạn quan có thể sinh con. Phụ nữ lỡ thì có thể kiếm được chồng. Những người đi biển gặp sóng gió hãi hùng, thập tử nhất sinh vẫn được Ngài cứu vớt. Người già có thể cải lão hoàn đồng, kéo dài tuổi thọ. Người bị những chứng nan y cũng có thể diệt được căn chứng hiễm độc.

Truyện kể:

Lê Câu Phệ Ðà - tập V, phần I, có chép như sau: Trên biển Hải Châu (?), một thuyền lớn chở gần 200 người trên đường lánh nạn ở vùng đất mới, trong số đó phần lớn là phụ nữ và thiếu nhi.

Chẳng may, gặp cơn bão cực kỳ nguy hiểm, thuyền bị lật, đánh tan từng mãnh. Mọi người tưởng chừng như bị chết chìm vô phương cứu vớt. Vừa khi đó, họ niệm danh hiệu của Ngài Song Mã Ðồng (Quán Thế Âm); tức thì từ trên không trung, có những thanh gỗ rộng và dài rơi xuống nơi thuyền bị đắm.

Mọi người giúp nhau chuyển lên những thanh gỗ an toàn trở về đến bến. Từ đó, họ lập lại cuộc đời mới. Và mỗi khi gặp cơn nguy nan nào, họ niệm danh hiệu Ngài và lập tức được đáp ứng. Truyền thuyết nầy được phổ biến sâu rộng, bằng thi ca, âm nhạc, tranh tường. Nước Thiên Trúc (Ấn Ðộ cổ đại) tôn thờ vị Thần nầy khắp mọi nơi, mọi nhà.Có rất nhiều câu chuyện cứu vớt tương tự của Ngài Song Mã Ðồng, tập trung thành pho sử thi tuyệt vời trong kho tàng văn chương Ấn.

ÐỨC QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT THEO KINH “BI HOA”

Trong những truyện tích có liên hệ đến Bồ Tát Quán Thế Âm, có tài liệu cho rằng: Ngài xuất thân trong gia đình vua chúa. Kinh Bi Hoa, phẩm 12, mục 3 có viết như sau:

Một thời, có vị Chuyển Luân Thánh Vương, tên là Vô Tránh Niệm. Nhà vua có bốn người con trai, mà vị Thái tử đầu tiên là Bất Diến (Bất Huyến), tức là đức Quán Thế Âm Bồ Tát sau nầy. Vương tử thứ 2 là Ni Ma, tức là ngài Ðại Thế Chí Bồ Tát (Maha Sthamaprapta), đại diên cho trí tuệ của đức Phật Thích Ca. Vương tử thứ 3 tên là Vương Tượng, tức là Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát (Manjusri), tượng trưng cho thần thông của đức Phật. Vương tử thứ 4 là Mẫn Ðồ, tức là Phổ Hiền Bồ Tát (Samantabhadra), tượng trưng cho “bình đẳng tính trí”.

Thái tử Bất Diến mang một ý nguyện to lớn là thể hiện lòng từ vi rộng lớn, tức là tìm cách để có thể dứt hết đau khổ và phiền não của chúng sanh. Phật Ðà đã đặt cho vị thái tử nầy là Quán Thế Âm. Phụ vương của những vương tử trên là Vô Tránh Niệm, sau nầy thành Phật, tức là Vô Lượng Thọ Phật (Amitayus) của thế giới Cực Lạc Tây Phương, tức là Phật A Di Ðà (Amitabha và Amitayus).

Kinh điển Phật Giáo Tây Tạng cho ghi rằng:

Vào thời vua Vô Tránh Niệm trị vì thiên hạm có Phật Bảo Tạng ra đời. Nhân đó, nhà vua khuyên các Vương tử và đại thần trong triều phát tâm sắm lễ vật qúy báu để dâng lên đức Phật. Thái tử Bất Diến cũng mang hết những phẩm vật quý báu của riêng mình để cúng dường. Quan đại thần Bảo Hải trong triều thấy vậy, đã khuyên Thái tử Bất Diến:

- Thái tử vì phước đức mà cúng dường Phật, Tăng. Tốt nhất là đem công đức nầy để cầu đạo Vô thượng Bồ đề. Phước báo mong cầu chỉ là thứ hữu lậu, không thoát khỏi vòng sinh tử luân hồi. Tốt nhất là đem công đức đó mà cầu phước vô lậu, đời đời kiếp kiếp trường tồn, bằng cách hồi hướng về Ðạo Bồ Ðề.

Nghe xong, Thái tử Bất Diến quán chiếu sâu xa, thưa rằng:

“Nay tôi nguyễn đem tất cả công đức tu tập để hồi hướng cầu đạo Vô thượng Bồ Ðề. Tôi nguyện: Thực hành những công hạnh Bồ Tát, làm việc lợi ích cho quần sanh. Khi đắc quả, phàm những chúng sanh nào lâm vào cơn khốn cùng, nguy hiểm, không nương tựa vào đâu, cứ nhất tâm xưng danh hiệu của tôi, tức thì tôi sẽ cứu độ”.

Ðức Bảo Tạng Như Lai sau khi nghe lời Thọ ký của Thái tử Bất Diến, liền dạy:

“Nay Thái tử có vọng nguyện muốn đoạn trừ mọi khổ đau trên thế gian, dứt bỏ phiền não cho họ, tất cả mong được an vui; do đó, ta đặt cho danh hiệu “Quán Thế Âm”.

QUÁN THẾ ÂM THEO TÍCH TRUYỆN TRUNG HOA

Giai thoại 1:

Trung Quốc Truyền Thuyết Dị khảo của nhà văn Quách Mạt Nhược có ghi lại truyện tích của Ðức Bồ Tát Quán Thế Âm (dựa theo Ðạo Tuyên Ðại Sư), lược truyện như sau:

Trong một tiền kiếp (thứ 15) của vị Bồ Tát Quán Thế Âm, Ngài sinh làm Công chúa Diệu Thiện, người con út của vua Diệu Trang Ðại Vương. Nhà vua có 3 người con gái, nhưng hai người chị lớn của Diệu Thiện thì tính tình độc ác, kiêu căng, ganh tỵ. Nàng Diệu Thiện thì trái lại, rất mực nhân từ, đức hạnh.

Trong giai đoạn nầy, do những tranh chấp tôn giáo, nhà vau Diệu Trang Vương nghe theo lời sàm tấu, phá hoại của những kẻ nịnh thần nhưng có thế lực hùng hậu trong triều, chủ trương tiêu diệt Phật Giáo. Họ tổ chức những cuộc ruồng bố tăng ni, đốt phá chùa chiền, miếu thờ, đạo cụ, kinh điển. Những chương trình hoằng pháp của chư tăng bị xem là phản nghịch. Tình hình Phật pháp thời đó vô cùng bi đát, thảm thương chưa từng thấy.

Công chúa Diệu Thiện rất đau đớn trước tình trạng phá hoại nầy. Một ngày nọ, công chúa đang lén lút cầu kinh trong thư phòng, bỗng nhiên từ ngoài bay vào khung cửa sổ một bài Kinh Phật Giáo đã bị lửa đốt cháy xém, nhưng vẫn còn đọc được. Ðó là bài Tâm kinh “Bát Nhã Ba La Mật Ða” của ngài Quán Tự Tại Bồ Tát.Công chúa bị thu hút bởi lời kinh, vì trước đây đã có nhiều lời dạy về giá trị tinh thần cao cả và linh thiêng của Tâm Kinh nầy.

Công chuá nhặt bài Kinh lên và trong khi thoáng nhìn, nàng cảm thấy toàn thân và tâm trí rung động vô cùng mãnh liệt về bài Kinh. Hơn thế nữa, dù bị lửa đốt, nhưng toàn Kinh văn vẫn còn nguyên vẹn.Công chúa suy nghĩ rất lâu về sự kiện kỳ lạ chung quanh Tâm Kinh, cũng như duyên kỳ ngộ nầy. Công chuá sai thị tỳ ra ngoại thành xem tình hình về kinh sách thất tán, thì được biết: Vua cha đã cho đốt sạch kinh điển, đàn áp tăng ni, đốt phá chùa chiền. Vì nhận thấy phụ vương vì nghe lời ngoại đạo, hành động quá độc ác, cho nên hết lời can gián.

Nhưng kết quả đã không đem lại thành tựu nào, mà nàng đã bị xử phạt vì đã lén lút giúp đỡ các tăng ni lánh nạn. Nàng vẫn một mực duy trì lòng chánh tín và từ bi của mình trong cơn pháp nạn. Cuối cùng, nghe theo lời sàm tấu của nịnh thần phản giáo, công chúa đã bị vua cha lưu đày, trở thành thứ dân, sống nghèo khổ.

Những đau khổ về thể xác đã không khiến cho nàng nao núng. Một ngày kia, trong một tình cờ, công chúa được một vị cao tăng bí mật truyền dạy Phật pháp. Nàng phải trải qua muôn ngàn cay đắng trong cảnh ruồng bắt Phật Giáo đồ, nhưng vẫn cố kiên trì để tham học, thiền định. Nhiều cuộc tấn công của binh lính triều đình, cộng thêm những kẻ ngoại đạo được bọn gian thần giúp đỡ, tìm cách để tiêu diệt nàng.

Công năng tu hành của nàng ngày càng tinh tấn, với sự dày công tu luyện và sự hộ trì của chư Thiên. Bỗng nhiên, Công chúa mọc thêm nhiều cánh tay, mỗi cánh tay cầm một loại binh khí khác nhau để trừ Ma Vương và Ma Quân quấy nhiễu không ngừng. Mỗi bàn tay của nàng lại có trên một con mắt Trí Huệ. Không một sức mạnh nào có thể khuất phục được nàng. Kể từ đó, nhân gian biết được Công Chúa đã đắc đạo, rủ lòng từ bi, ra sức tế độ mọi người. Nàng đắc đạo, tức là đức Bồ Tát Quán Thế Âm.

Khi Ngài nhật diệt, dân chúng khắp nơi lập bàn thờ, ngày đêm âm thầm khấn vái, mong nhờ đến đức từ bi cứu độ của đấng Bồ Tát. Về sau, chính vua cha cũng phải cần khấn để vượt qua những phút hiễm nghèo. Phật Giáo được trùng hưng. Truyện tích nầy được thể hiện qua thi ca, tuồng tích, tranh tượng, sử thi.

Giai thoại 2:

Giai thoại nầy cũng được ghi những nhân vật như trên, tuy nhiên nội dung thì hoàn toàn khác. Người viết ra thiên truyện nầy là Triệu Mạnh Chiêu, vốn một thời là Quản Ðạo Thăng (quan quản lý quỹ và lương thực của hội Ðạo Giáo). Nhan đề là “Quán Thế Âm Bồ tát Lược Truyện”; ngoài bià ghi thêm dòng chữ “Thần thánh hoá chuyện Ðệ tam Công chúa”. Sách chia làm 13 phần, 4,560 câu. Sách của Ðạo Giáo, cho nên mang nhiều màu sắc thần bí, bùa phép.

Truyện diễn ra vào thời Bắc Tống ở Trung Hoa, dưới triều vua Trang Vương. Nhà vua cũng có ba người con gái như tích truyện kể trên là Diệu Nhân, Diệu Duyên và Diệu Thiện. Diệu Thiện chính là đức Bồ Tát Quán Thế Âm đã đắc đạo về sau. Lúc đó, cả ba cô công chúa đã đến tuổi trưởng thành, cho nên Trang Vương tính đến chuyện kén những phò mã cho ba nàng. Hai cô gái đầu và thứ rất vui sướng, khi được phụ vương kén chồng; nhưng công chúa Diệu Thiện thì nhất quyết không đồng ý, nằng nặc xin vua cha xuất gia tu hành.

Trang Vương nổi giận, liền đuổi Diệu Thiện ra khỏi Vương cung, sống theo lê dân, không phụ cấp cho một khoản tiền nào để độ thân. Tuy nhiên, nàng không lấy đó là chuyện cần thiết. Nàng kiếm một thảo am ở Hương Sơn, dốc chí tu hành. Ngày hai bữa nhờ thực phẩm cúng dường của thập phương, vốn đã không mấy khá giả.

Nhưng về sau, trong triều có nhiều biến chuyển, khiến cho Trang Vương không chịu nổi đả kích đã lâm trọng bệnh, tình trạng vô cùng nguy ngập, cái chết gần kề. Lúc nầy, công chuá Diệu Thiện tu hành đã đắc đạo; cô liền hoá thân trở thành một vị lão tăng, xin vào cung để chữa bệnh cho nhà vua.

Vị lão tăng nầy sau khi thăm bệnh xong liền tâu:

- “Muôn tâu, trường hợp bệnh tình nầy chỉ còn có một cách: phải dùng tay và mắt của một người thân nhất trong chính huyết thống của Hoàng tộc, thì may ra có thể chữa lành được bệnh nầy”.

Diệu Tang Vương chỉ còn hai người con gái là người thân thích nhất, nhưng đứng trước tình trạng phải hy sinh đến thân xác, cả hai tìm cách để chối từ và lánh né ngay.

Vị lão tăng liền tâu:

- Như vậy thì chỉ còn cầu cứu đến vị tiên trưởng (?) ở Hương Sơn cứu độ sinh linh; phải đến đó để cầu cứu, may ra mới có thể thoát khỏi nguy cơ nầy.

Vị tiên trưởng đó chính là công chúa Diệu Thiện, do dày công tu luyện mà thành.

Triều đình phái viên đại thần thân tín đến am Hương Sơn để cầu cứu. Vị tiên trưởng (Diệu Thiện) đi vào cung thăm bệnh tình phụ hoàng, liền chặt cánh tay mình, móc mắt mình, hiến cho nhà vua chữa bệnh. Nhờ vậy, nhà vua lành được. Nhưng khi thấy con gái của mình đã mất đứt cánh tay, mất đôi mắt, thì ngài vô cùng đau khổ, khóc lóc thảm thiết, cầu xin Thần Linh giúp cho Diệu Thiện mọc tay và có mắt.

Chỉ một lúc sau, quả nhiên điều đó ứng nghiệm. Hơn thế nữa, công chúa đã đắc quả, thành Bồ Tát có nghìn tay, nghìn mắt. Ngài kể lại quá trình tu tập của mình cho vua cha nghe. Nhà vua vô cùng hối hận về hành động đuổi nàng ra đi trước kia. Diệu Thiên khuyên nhà vua nên tu đức hành thiện, theo lời dạy của kinh sách. Nhà vua nghe theo.

Nhận định của học giả Phùng Hữu Lan:

Nội dung viết theo tư tưởng Lão Giáo, lại quay sang Phật Giáo và luân lý của Khổng Giáo. Cả ba hướng theo Tam giáo đồng hành, vốn thịnh hành đời nhà Tống, Trung Quốc. Vết tích Hương Sơn nay vẫn còn. Về sau, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng: Vị Diệu Trang Vương đó có thật, chính là Sở Trang Vương thời Xuân Thu Chiến Quốc. Sau đó nhà vua đã ra lệnh xây chùa Hương Sơn, cho tạc bức tượng “Toàn tay, toàn mắt”.

QUÁN THẾ ÂM THEO PHẬT GIÁO TÂY TẠNG

Phật Giáo phân chia thành hai trường phái: Hiển Tông và Mật Tông. Hiển Tông còn được gọi là Hiển Giáo; giáo nghĩa chính là của đức Thích Ca Mâu Ni (Ứng Thân Phật), công khai thuyết giảng (tức là hiển); do đó, có tên gọi là Hiển Tông. Mật Tông còn gọi là Mật Giáo, Mật Thừa, Chân Ngôn Tông, Kim Cang Thừa. Mật Tông tiếp thu giáo chỉ tậm thâm của đức Ðại Nhật Như Lai (Pháp Thân Phật), truyền thừa một cách kín đáo (tức là mật); còn gọi là Ngôn giáo Chân thật, do đó, lấy tên Mật Tông.

Ðặc trưng chủ yếu của Mật Tông là: dùng bùa phép, thần chú, dựng Mạn Ðà la, có những nghi lễ tổ chức biểu trưng một cách cao độ; có những quy định cực kỳ nghiêm khắc, hình thức cúng tế vô cùng phức tạp, không phải là người trong Giáo phái thì không truyền cho. Thành thử trong mỹ thuật, hội họa, điêu khắc, đồ tượng của Mật Giáo và Hiển Giáo đã có những khác biệt nhau khá lớn.

Vì nhu cầu về giáo nghĩa, sự tạc tượng của Mật Giáo phần nhiều là những loại tượng các vị Thần linh, có “hàm ý khũng bố”, để chống đối những thế lực của Ma giáo. Hình ảnh của đức Bồ Tát Quán Thế Âm cũng không ra ngoài ý nghĩa đó. Trong Mật Tông, đức Quán Thế Âm thường được thể hiện qua 6 hình ảnh sau đây:

Quán Thế Âm nghìn tay, nghìn mắt Thánh vương- Quán Thế ÂmQuán Thế Âm “đầu ngựa”- Quán Thế Âm 11 đầu- Quán Thế Âm Chuẩn Chi - Quán Thế Âm Như Ý Luân.

Mỗi thể loại mang một ý nghĩa khác nhau về nội dung cũng như nghi lễ cúng dường của tín đồ Phật Giáo Tây Tạng.

VỀ HÌNH ẢNH QUÁN THẾ ÂM NGHÌN TAY, NGHÌN MẮT

Hình ảnh nầy cũng thường thấy trong tranh tượng Phật Giáo Trung Hoa, Việt Nam, Triều Tiên, Nhật Bản. Nói là “nghìn tay, nghìn mất” nhưng chỉ mang ý nghĩa biểu trưng cho “con số nhiều” và “khả năng khác thường” về nhìn (mắt) (và hành động (tay). Tượng nầy còn được gọi là “Ðại Bi Quán Thế Âm” với công năng vô thượng, vô biên, bất khả tư nghị của Ngài.

Bộ kinh quan trọng nhất nói về hình ảnh nầy là “Kinh Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm Bồ Tát Quảng Ðại Viên Mãn Ðại Bi Tâm Ðà La Ni” (chú Ðại Bi), nhưng với tư tưởng của Mật Giáo.

Sách ghi chép nội dung như sau:

Ở một thời xa xưa, Vô lượng ức kiếp, cũng là thời mà đức Bồ Tát Quán Thế Âm nghe được vị Thiên Quang Vương Tĩnh Chú Như Lai đọc lên câu “Ðại bi, tâm đà la ni”, thì Ngài liền phát nguyện muốn mưu cầu “lợi ích, an lạc cho tất cả chúng sanh trong bể trầm luân”.

Ngay sau khi đó, Ngài có phép mầu, hiện ra trên người nghìn bàn tay và nghìn con mắt. Một nghìn bàn tay biểu thị sự che chở và bảo vệ chúng sinh, không phân biệt giàu nghèo, sang hèn. Một nghìn con mắt để biểu thị cho sự quan sát thấu đáo toàn bộ đau khổ, sinh tử trên thế gian nầy. Chủ đích của Ngài là cứu độ cho tất cả chúng sinh. Mọi người đều được hoan hỹ, không gặp phải một trở ngại nào. Ðiều nầy là sự biểu hiện của Ðại từ, Ðại bi, cứu khổ, cứu nạn.

Khi cúng dường đức Quán Thế Âm “thiên thủ, thiên nhãn” được coi là có thể đắc quả 4 dạng Thành tựu pháp:

1- Tức diệt (Thanh tịnh hay niết bàn)

2- Tăng ích (Gia tăng những lợi lộc về tinh thần cũng như về thể chất).

3- Kính ái (Cung kính, thân ái, gieo lòng từ bi cho tất cả mọi người chung quanh mình)

4- Hàng phục (Chiêu hàng chúng ma, diệt sạch những chướng ngại, bày tỏ quyết tâm giải trừ ách nạn, trong mọi trường hợp).

Cách biểu thị hình ảnh “thiên thủ, thiên nhãn” là hình tượng hoá, thể hiện lòng từ bi, bác ái, nhân hoà vô cùng, vô hạn của Ngài. Những tay và ngững mắt được bày trên “25 hữu”. “Hữu” có nghĩa là tồn tại trong tam giới. Tam giới là dục giới, sác giới và vô sắc giới.

(a) Dục Giới: gồm có 14 “hữu”:

4 ác thú: địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, atula (thần ác).

4 đại bộ châu: Ðông Thắng Thần Cxhâu, Nam Thiêm Bộ Châu, Tây Ngưu Hoá Châu, Bắc Câu Lô Châu.

6 trời dục: trời Tứ Thiên Vương, trời Ðao Lợi, trời Dạ Ma, trời Ðâu Suất, trời Lạc Tiến Hoá, trời Tha Hoá Tự Tại.

Những cõi trời nầy được sắp theo thứ tự của mức đạo hạnh và thành tựu trên con đường tu tập của chúng sinh.

(b) Sắc Giới: Gồm có 7 hữu, được phân định ra như sau đây: Trời Sơ Thiền, trời Nhị Thiền, trời Tam Thiền, trời Tứ Thiền , trời Ðại Phạn, trời Tịnh Cư và trời Vô Tưởng.

Không Vô Biến Xứ, Thức Vô Viên Xứ, Vô Sở Hữu Xứ, Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ. Ðây là nơi cư trú của những người vừa không có dục vọng, vừa không có hình thể.

Tượng Quán Thế Âm nghìn tay, ng(c) Vô Sắc Giới: có 4 hữu, được phân định ra như sau đây: hìn mắt đa dạng:

Ngoài ra, tại Tây Tạng, từ thế kỷ IX về sau lại có thêm một dạng thể đức Bồ Tát Quán Thế Âm “nghìn tay, nghìn mắt” khác nữa.

Hình tượng nầy được mô tả như sau: Trên mặt có 3 mắt, trên cánh tay có 100 bàn tay; trên mỗi bàn tay lại có một con mắt; trên đầu đội mũ kim quang; trên mũ nầy có hoá Phật (tức là chữ Phật). Cánh tay chính của ngài có đến 18 cánh tay, hai tay trước tiên thì chắp lại trang nghiêm; còn lại một tay thì cầm gậy Kim cương; một tay cầm cái xiêng có 3 ngạnh; một tay cầm cái quạt hình hạt gié; một tay giữ lấy bảo ấn; một tay nắm một cây tích trượng; một tay cầm chuỗi ngọc; một tay cầm vòng ngọc; một tay cầm hoa sen đang nở; một tây cầm dây thừng bằng luạ; một tay cầm cành dương liễu; một tay cầm tràng hạt; một tay nắm ấm nước; một tay rót nước cam lồ ra; một tay tung ra những hạt mưa báu; một tay trong tư thế tự nhiên; một tay bên phải và một tay bên trái làm ký hiệu như hướng về huyệt đan điền (ở rốn).Như thế, mỗi tay biểu hiện cho một phép mầu, khả năng khác thường của Ngài. Ngoài ra còn 982 cánh tay khác, mỗi tay cầm một loại binh khí.

KHÁI NIỆM VỀ BỒ TÁT

Bồ Tát là một danh từ được phiên âm tiếng Phạn là”Bồ Ðề Tát Ðoả (Bodhisatta hay Bodhisattva) được gọi tắt. Nguyên nghĩa là “Giác hữu tình”, cũng được dịch nghĩa là “Ðại sĩ”.

Trong Quốc Phật Học Ðại Từ Ðiển (Bắc Kinh – 2002) đã định nghĩa về Bồ Tát như sau: “Bồ Tát là khái niệm tổng thể và giàu ý nghĩa để chỉ những vị chứng quả diệu thâm trong Phật Giáo, nhưng còn theo đuổi tâm nguyện độ thóat chúng sanh, nên còn lưu lại trong tam giới để hành trì đại nguyện nầy. Tư tưởng chính của Ðại Thừa PG”Bồ Tát là danh hiệu dành cho những vị tu hành đạo Phật đã chứng quả. Tuy vậy, theo đẳng thứ, thì Bồ Tát vẫn còn dưới chư Phật một cấp bậc, cho nên phải tu thêm một kiếp nữa mới thành Phật.Vì còn muốn giác ngộ cho chúng sanh, cho nên chư Bồ Tát vẫn còn giữ chức năng cứu độ mọi loài trong ba cõi, theo ý nghĩa căn bản trong giáo lý của Ðại Thừa Phật Giáo.

Theo danh từ Nam Phạn (Pali), Bodhisatta gồm có hai phần: “Bodhi” là trí tuệ hay giác tuệ; “Sattva” là chuyên chú, (hay) gia tăng thêm nhiều công năng để phụng sự cho một lý tưởng nào đó.Theo Giáo lý Ðại Thừa Phật Giáo, vị Bồ Tát là hànhgiả sau khi hành trì Ba la mật đa (paramità = lục độ) đã chứng Phật quả, những do hạnh nguyện không nhập Niết Bàn (nirvana), khi tất cả chúng sanh vẫn chưa giác ngộ.

Khái niệm Bồ Tát dùng để chỉ cho bất cứ chúng sanh nào, dốc chí tu hành để đạt thành “Tuệ Giác”; ngoài ra còn lập lời “Chú nguyện” đi theo con đường Chính đẳng, Chính giác.Qua khái niệm Bồ Tát, hiểu theo một phạm trù khác, tất cả chúng sanh đều có khả năng đắc quà thành Phật, vì đạo lý của đức Phật đã không là đặc ân cho một hạng người riêng biệt nào cả.Trên con đường hành trì, hai yếu tố cơ bản của một vị Bồ Tát là lòng Từ Bi (karuta), đi song song với Trí tuệ (prajnâ).

Do hạnh nguyện “Tự giác và giác tha” , lý tưởng của chư Bồ Tát là đi theo con đường cứu độ chúng sanh và sẵn sàng nhận lãnh hết mọi thứ thống khổ của chúng sanh, đồng thời hồi hướng công đức của mình cho chúng sanh khác.

CẤP ÐỘ

Trên con đường tu học của Phật Giáo, mỗi cá nhân theo khả năng từ bi và trí tuệ của mình, có mức độ khác nhau. Con đư4ờng nầy phân chia các cấp độ của người luyện tâm tu học thành ba nhóm: Thanh Văn, Duyên Giác và Bồ Tát. Các phân định nầy đã được giải lý trong Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Kinh như sau:

- Những ai có trí huệ sau khi nghe Pháp của đức Thế Tôn, rồi tin nhận, nỗ lực cầu đắc Niết Bàn, để thoát ly tam giới, thì được gọi là “Thanh Văn”.

- Những ai sau khi nghe Pháp của đức Thế Tôn, rồi tin nhận, nỗ lực cầu Trí huệ tự nhiên, chăm lo thục hành pháp môn Toạ Thiền, đợc cư thanh tịnh, hoàn toàn hiểu rõ nguyên nhân của tất cả các Pháp, thì gọi là “Duyên Giác” (tức “Bích Chi”).

- Những ai sau khi nghe Pháp của đức Thế Tôn, rồi tin nhận, nỗ lực cầu Nhất thiết trí (thánh trí), cầu Phật trí, Tự nhiên trí, Vô sư trí, cầu các tuệ, lạc, các vô úy của đức Như Lai, với lòng từ bi đem sự an lạc vô lượng cho chúng sanh, làm lợi ích cho chư Thiên và loài người.

- Nguyện cứu độ tất cả chúnh sanh, thì gọi là “vi- thuợc căn cơ Ðại Thừa” “Chư Bồ Tát” do vì cầu đắc thừa nầy, cho nên gọi là “Ðại Bồ Tát”.

Dấu hiệu cơ bản của mỗi thể loại kể trên đây căn cứ vào lòng mong ước của hành giả và kết quả của giải thoát. Thành thử, mức độ và hình thức hành luyện khác nhau; cấp độ hành luyện của mỗi pháp đều khác hẳn nhau.

TU CHỨNG

Con đường tu hành và hành trì của một vị Bồ Tát khởi đầu bằng phương pháp “luyện tâm Bồ Ðề” (Bodhicitta) và giữa hạnh nguyện (pranidhăna).Hành trình tu học của vị Bồ Tát được phân chia ra làm 10 giai đoạn theo trình tự (10 quả vị tu chứng), được gọi là “Thập địa” (dasabhumi):

Hoan hỷ địa (pramudità – bhumi): Khi đắc quả nầy, Bồ Tát sẽ rất hoan hỷ trên con đường Giác ngộ (bodhi). Vị Bồ Tát đã phát Bồ đề tam và thệ nguyện cứu độ tất cả chúng sanh thoát khỏi vòng Luân hồi (samsâna), không nghĩ đến lợi ích riêng của mình, hành trì Bố thí (dâna), không cầu lấy phúc, đồng thời chứng được tính Vô ngã (anâtman) của tất cả các Pháp (dharma).

Li cấu địa (vimală – bhumi): Bồ Tát giữ Giới luật (sila) và thực hiện thiền định (dhyâna , samàdhi)).

Phát quang địa (prabhâkări - bhumi) Bồ Tát chứng được lý Vô Thường (anitya), tu trì tâm Nhẫn nhục (hsânti) trong những khi gặp phải mọi thứ chướng ngại trong công việc cứu độ chúng sanh khỏi khổ nạn.Ðể có thể đạt đến cấp độ nầy, vị Bồ Tát cần phải đoạn trừ hết Ba độc (tham, sân, si), thực hiện được bố cấp định an chỉ (dhyâna) của Bốn xứ (về thiền định), chứng nămquả trong Lục thông.

Diệm huệ địa (arcismati – bhumi) Bồ Tát cần phải giải toả toàn vện những sai lầm, tu tập về Trí huệ Bát Nhã và 37 Bồ đề phần.

Cực nan thắng địa (sudurjayă bhumi) Bồ Tát nhập định, đạt trí huệ, nhờ đó được liễu ngộ Tứ diệu đế và Chân như, tiêu diệt hết nghi ngờ và biết phân biệt. Bồ Tát tiếp tục hành trì 37 giác chi.

Hiện tiền địa (abhimukhi bhumi) Bồ Tát liễu ngộ được các Pháp đều là vô ngã, quán triệt về Thập nhị nhân duyên, chuyển hoá trí phân biệt thành trí Bát nhã, nhận thức về Tánh Không. Trong “xứ” nầy, Bồ Tát đã đạt được trí huệ Bồ đề (bodhi) và có thể nhập Niết Bàn thường trụ (pratisthita nirvana). Vì lòng từ bi muốn cứu vớt chúng sanh trong bể trầm luân, chư Bồ Tát càn lưu lại trong thế gới hữu tình, những không bị sinh tử ràng buộc; đó là Niết Bàn vô trụ (apratisthita nirvana).

Viễn địa hành (Durangamă bhumi) Khi đạt được cảnh giới nầy, vị Bồ Tát đầy đủ khả năng, uy lực, đủ mọi phương tiện (upaya) cần thiết để giáo chúng sinh. Ðây là giai đoạn mà vị Bồ Tát tùy ý xuất hiện trong một dạng bất kỳ nào.

Bất động địa (Acala bhumi) Trong giai đoạn nầy, không còn có bất kỳ cảnh ngộ gì khiến cho Bồ Tát giao động được. Bồ Tát đã biết được là lúc nào mình đạt được Phật quả.

Thiện huệ địa (Sadhumati bhumi) Trong cấp độ nầy, Trí huệ của Bồ Tát đã viên mãn, đạt được Thập lực (Dasabala), Lục thông (Sadabhijna), Bốn tự tín và Tám giải thoát.Thành thử, vị Bồ Tát biết rõ được cơ sở của mọi giáo pháp và giảnh dạng giáo lý chân truyền.

Pháp vân địa (Dharmamegha bhumi) Lúc nầy, Bồ Tát đạt được Nhất thiết trí (Sarvajnata), đại hạnh Pháp thân của Bồ Tát đã đạt tới mức viên mãn. Ngài ngự trên toà sen, cùng với vô số chung quanh, trụ xứ cung trời Ðâu Suất.

HÀNH LUYỆN CỦA VỊ BỒ TÁT:

Những công năng hành luyện của một vị Bồ Tát trong đại nguyện cứu độ chúng sanh cõi Ta Bà bao gồm:

Tự lực và gia trì lực Tiến trình vào Phật Ðạo, mỗi hành giả đều chọn con đường trực nhập, qua sự luyện tâm theo hạnh Bồ Tát, cần có ba đức tính:

Tín nguyện, Từ bi, Trí tuệ

Ba đức nầy là những điều kiện cần có, để có thể biến tâm động trở thành tâm bất động. Trước hết, sự tín nguyện của một vị Bồ Tát sẽ tạo nên những điều “vô công dụng hạnh”; đó là những hành động không dụng công, không tác động, không chủ đích; đây là hành vi phát sinh do lòng từ ái của hành giả.

Về đức từ bi: Ðức từ bi của một vị hành luyện của Bồ Tát đạo là Ðại từ, Ðại bi. Ðại từ là mang lại an vui cho tất cả chúng sinh. Ðại bi là cứu khổ cho tất cả chúng sinh. Nội dung của Ðại từ, Ðại bi chính là hạnh bố thí của chư Bồ Tát, đã từng xả mình để cứu người, xả trừ ba độc, tiêu trừ chấp ngã.

Về bố thí có 3 dạng thức: (a) Tài thí: Bố thí các vật ngoài thân mình tức “Ngoại tài thí”; bố thí xả cả thân thể, sinh mạng của mình gọi là “nội tài thí”. (b) Pháp thí: Pháp thí là đêm những hiểu biết về hành trì Phật pháp của mình để giáo hoá chúng sinh. (c) Vô uý thí: Tức là sự gia cường sức mạnh cho chúng sanh, chống lại sự sợ hãi trước bạo lực, trở ngại, trước các thế lực của thiên nhiên, chống tội ác do con người tạo ra.

Trí tuệ: Trí tuệ mà bậc Bồ Tát phát triển ở đây là “Nhất thiết trí”, “Trí Bát nhã” hay “Thánh trí”. Trí tuệ Bát nhã là hướng dẫn các hành vi cao đẹp trên con đường luyện tâm, tiến đến giải thoát- chuyển không gian ra khỏi vòng sinh tử,luân hồi.

Kinh văn dạy: “Năm độ như đui mù, Bát Nhã như người dẫn đường”.

BA DẠNG BỒ TÁT:

Trong giáo lý đức Phật, Bồ Tát được phân chia ra làm 3 dạng: Trí tuệ Bồ Tát (Pannadhika), Tín đức Bồ Tát (Saddhadhika) và Tinh tấn Bồ Tát (Viriyădhika).

Tri tuệ Bồ Tát không chú trọng về lòng nhiệt thành sùng đạo, nhưng điểm chính yếu là phải mạnh dạn trong việc tinh tấn phát triển Minh tuệ giải thoát. Tín đức Bồ Tát giàu lòng nhiệt thành sùng mộ, tin tưởng nơi cúng dường thờ phụng, nhưng lại ít chú trọng về việc trau dồi tâm trí và bồi đắp công đức, vị tha. Tinh tấn Bồ Tát thì tập trung năng lực vào tinh thần phục vụ chánh pháp.

Như thế, các vị Bồ Tát, dùng ở dạng nào, đối với trên thì cầu được Phật, đối với dưới thì cầu giáo hoá cho chúng sinh. Cái tâm của Bồ Tát là Ðại từ, Ðại bi.

Ðại từ là thương xót, tưởng nhớ đến chúnh sinh; hễ ai có cầu điều gì thì tùy lòng nguyện và căn nghiệp của người đó mà giúp họ. Ðại bi là thương xít hết thảy mọi chúng sinh đang chịu nhiều khổ não, ra sức cứu vớt và độ cho khắp cả. Tấm lòng của Bồ Tát quảng đại như thế, cho nên mới phát tâm tế d3ộ chúng sinh, khiến cho các loài trong tứ sinh và trong tam giới, thảy thảy mong cho được giải thoát.

NHỮNG HẠNH NGUYỆN CỦA BỒ TÁT

Khi mới phát tâm, chư vị Bồ Tát ai nấy đều phát 4 điều thệ nguyên lớn, gọi là “tứ hoằng thệ”:

1- Chúng sinh vô biên thệ nguyện độ (Thề xin độ hết chúng sinh. Ấy là lấy “Khổ đế” mà phát thệ).

2- Phiền não vô lượng thệ nguyện đoạn (Thề xin dứt hết vô số phiền não. Ấy là lấy “Tập đế” mà phát thệ)

3- Pháp môn vô tận thệ nguyện học (Thề xin học hết vô tận pháp môn. Ấy là lấy “Diệt đế” mà phát thệ).

4- Phật đạo vô thượng thệ nguyện hành (Thề xin thực hành đạo Phật vô thượng. Ấy là lấy “Ðạo đế” mà phát thệ).

Ðối với bản thân, chư Bồ Tát đã phát 4 điều nguyện như sau:

1- Tâm như đại điạ: Nguyên cái tâm của mình như đất rộng lớn, để nuôi dưỡng chúng sinh, mau thành chánh quả.

2- Tâm như kiều thuyền: Nguyện cái tâm của mình như chiếc cầu, như con thuyền, dùng để đưa chúng sinh qua bên kia bến bờ giải thoát.

3- Tâm như đại hải: Nguyện cái tâm của mình như biển lớn; bể nuôi chứa chúng sinh trong chỗ chân nguyên.

4- Tâm như hư không: Nguyện cái thân của mình như hư không, bao hàm hết thảy chúng sinh, vạn vật, cùng với chúng sinh đều bình đẳng, vô nhị.

BẢN NGUYỆN CỦA BỒ TÁT NHẬP HOAN HỶ ÐỊA

Kinh văn viết:Hoa Hỷ địa là điạ đầu tiên và cũng là điạ quan trong nhất trong Thập địa. Ở địa nầy, ngoài phát ra những lời nguyện từ ý muốn xác quyết mãnh liệt nhất, bao trùm tất cả; như: toàn bộ vũ trụ, toàn bộ không gian các chiều; thì toàn bộ cảnh giới, hết thảy các kiếp (karma), các số phận sẽ được vận hành không gián đoạn, khi có đức Phật xuất hiện. Những lời đại nguyện của một vị Bồ Tát khi phổ độ chúng sanh được thể hiện trong 10 điều chính yếu, được khái quát như sau:

Thứ nhất: Tôn kính và phụng sự hết thảy chư Phật, không loại trừ một vị nào và thể hiện lòng tôn kính trong tu trì và đạo hạnh, cứu độ chúng sanh.

Thứ hai: Mãi mãi hộ trì Giáo pháp của chư Phật trong bất cứ hoàn cảnh nào và không gian nào.

Thứ ba: Có mặt mỗi khi đức Ðức Phật xuất hiện thuyết pháp, cũng như khi Giáo pháp của Ngài được phát triển tại đó.

Thứ tư: Thực hành “Bồ Tát hạnh”, tức là Hạnh nguyện rộng lớn vô lượng, vô tận, sẽ vượt thoát khỏi mọi ô nhiễm và mở rộng các đức hạnh toàn hảo Ba la Mật (Paramita), đến với tất cả chúng sinh rộng khắp trong ba cỏi.

Thứ năm: Mang đếên cho chúng sanh Giáo lý huyền diệu của chư Phật, bằng những lời lẽ dễ hiểu nhất, thích dụng nhất, khiến cho chúng sanh có thể tìm thấy chỗ an trú trong Trí huệ của các bậc Toàn trí (các vị Phật).

Thứ sáu: Cần phải có một lối nhận thức “tự nội” về vũ trụ rộng rãi và vô tận; ở trong tất cả các đa phức có được.

Thứ bảy: Nhất tâm thể hiện về những mối liên quan hỗ tượng xâm nhập chặt chẽ nhất , cần thiết nhất của một và tất cả, tất cả là một; làm cho mọi Quốc độ của chúng sanh được thanh khiết, như Quốc độ của chư Phật.

Thứ tám: Nhất tâm kết hợp với hết thảy chư Bồ Tát trong sự nhất thể trong thệ nguyện giữ gìn đầy đủ và trọn vẹn phẩm chất, đạo hạnh, kiến thức, tâm linh của chư Như Lai. Như thế, sẽ giúp ích cho vị Bồ Tát có thể nhập vào mọi giới chúng sanh. Thể hiện sự giáo hoá, vượt khỏi mọi tư nghị.

Thứ chín: Bánh xe Pháp luân sẽ vận hành bất thoát chuyển, thệ nguyện ra sức phổ độ chúng sanh, bằng cách thực hiện công năng như các vị Ðại y sư.

Thứ mười: Thể hiện sự chứng ngộ tối thượng trong mọi thế giới, bằng cách vượt qua cá Bồ Tát địa (Thập địa); thành tựu các thệ nguyện của mọi chúng sanh, không ngừng thể hiện Bồ Tát tính.Cùng với quan điểm và ý nghĩa nầy, khi trình bày những khả năng linh nghiệm của các vị Bồ Tát, Kinh Thập Ðịa viết:

Khả năng nầy cũng giống như một chiếc thuyền lớn trơi trên đại dương; khi thuyền còn ở trong bờ chưa ra biển khơi, cần phải bỏ nhiều công sức chèo chống để khởi hành; tuy nhiên, khi đã đưa thuyền ra khơi, khjông cần phải nhờ sức người giúp thêm, vì gió lớn giúp thuyền lướt sóng.”

Lời Kinh trên đây hàm ý:

Một vị Bồ Tát, qua bao nhiêu kiếp luyện tâm, luyên thân, luyên đức, tức là đã tích tập thiện nghiệp, thì chỉ một nỗ lực nhỏ thì cũng vượt trội, tác dụng vô cùng. (theo Conzé).

Cũng trong nhận định trên, “Kinh Bồ Tát Kim Cương Tạng” (Vajra Garbha) có đoạn dạy rằng:

“Các nam tử, các nữ nhân trong Phật Ðạo! Khi vị Bồ Tát đang ở địa thứ 7, tức là đã hoàn toàn thể nghiệm làm sạch con đường tu hành bằng trí tuệ siêu việt, tức là đã trang bị cho chính mình bằng các Bản nguyện, được hộ trì bằng cách thể hiện Gia trì lực của Như Lai.

“Chư vị hoàn toàn thanh tịnh, chân thành trong tâm, khai triển lòng Từ bi vô biên, thương xót mọi chúng sanh không giới hạn nào.

Vị ấy đã thể nhập vào chính sự hiệu biết rằng: Bản chất của chúng vốn là vô sanh (anutpana), bất sanh (ajàta), vô tướng (alakshana), vô thành (asambhuta), vô loại (avinasita), vô tận (anisshthica), vô chuyển (apravritti), vô diệt (anabhinir vritti) và vô tự tính (abhavasbhàva)”.

GIỚI LUẬT BỒ TÁT

Giới luật của Ðại Thừa Phật Giáo có một số điểm khác hẳn với Tiểu Thừa Phật Giáo. Ðại Thừa Phật Giáo thường hướng đến lợi ích của chúng sanh là điều chính yếu; trong khi đó, Tiểu Thừa Phạt Giáo tập trung vào việc đạt được phúc đúc cho chính mình.

Giới luật của một vị Bồ Tát trong Ðại Thừa Phật Giáo được trình bày trong Kinh Phạm Võng (Brahmajàla Sutra), ghi rõ 58 giới, mà trong đó có 10 điều cấm kỵ quan trọng nhất là (1) Giết hại, (2) Trộm cắp, (3) Tà dâm, (4) Nói dối, (5) Sau rượu, (6) Nói xấu người khác, (7) Khen mình mà chê người, (8) Ganh ghét, (9) Hờn giận, (10) Huỷ báng Tam bảo.

Bồ tát hạnh nguyện: Hạnh nguyện của vị Bồ Tát là quyết tâm đạt tới Bồ Ðề, vì lợi ích của loài hữu tình, nhằm dắt dẩn cho họ đếnb cảnh giới Niết Bàn. Hạnh nguyên nầy là hiện thân của Bồ đề tâm (Bodhicitta) , được các Tỳ kheo các hàng cư sĩ trong Ðại Thừa phát nguyện.

VỊ THẾ CỦA BỒ TÁT

Qua những nhận định trên của một vị Bồ Tát trong Ðại Thừa Phật giáo, có nhiều ý nghĩa và giá trị tương đồng của vị A La Hán (Arhat) trong Phật Giáo Tiểu Thừa, mà trong đó, vị A La Hát tập trung vào sự giải thoát cần thiết cho chính mình.

Trong nhận định chung, Khái niệm về đức Bồ Tát đã từng được tìm thấy ý nghĩa trong nhiều Kinh căn của Tiểu Thừa Phật Giáo, nhất là khi trình bày về các “tiền thân của đức Bổn Sư Thích Ca” ( theo Bản Sanh Kinh). Trong những kinh điển Ðại Thừa Phật Giáo, khi nói đến công năng của vị Bồ Tát đắc quả, người ta thường xem đó chính là tiền thân của chư Phật trong tương lai.

Trường hợp ngài Ðương Lai Hạ Sanh Tôn Phật và kinh điển liên quan đến Ngài đã cho thấy rõ ràng quan điểm đó. Trong chiều hướng đó, trong kinh điển Ðại Thừa Phật Giáo đã phân chia ra làm hai hạng Bồ Tát ở hai cảnh trí giải thoát khác nhau:

Thứ nhất: Bao gồm những vị Bồ Tát đang sống trong chúng sinh.

Thứ hai: Bao gồm những vị Bồ Tát siêu việt, tiến đến Phật quả.

Những vị Bồ Tát đang hiện sống trên trái đất , với tất cả chúnh sanh là những vị trải rộng lòng từ bi, hỷ xã quảng đại của mình, ra sức giúp đỡ chúng sanh, để chúng sanh hướng về Phật quả. Ðó là hạnh nguyện chính của Bồ Tát trong thế gian.

Những vị Bồ Tất “siêu việt ” (hiểu theo nghiã thông dụng của từ nầy) là những vị đã đạt các hạnh nguyện Ba La Mật (pàramità) – Ðáo bỉ ngạn – và Phật quả- nhưng chưa nhập Niết Bản. Tùy theo căn cơ và chức năng, các vị Bồ Tát thể hiện trong vị thế nầy hay vị thế khác, không ở một địa vị giáo hoá cố định. Ðây là điều khác nhau cơ bản trong các cấp độ ở Phật Giáo Ðại Thừa và Phật Giáo Tiểu Thừa.

Ðó là chư vị đã đạt tới Nhất thiết trí, không còn trong vòng sinh tử luân hồn, xuất hiện trong thế gian dưới nhiều dạng khác hẳn nhau, cũng theo mục đích cứu độ chúng sanh.

Ðó là chư vị được Phật tử tôn thờ và đảnh lễ, quan trọng nhất là Bồ Tát Quán Thế Âm Avalokitesvara), Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi (Manjusri) , Bồ Tát Ðại Hạnh Phổ Hiền (Samantabhadra) , Bồ Tát Ðại Thế Chí (Maha Sthàmapràpta) ; Bồ Tát Ðại Tạng Vương (Ksitigarbha)...

MƯỜI PHÁP TU HÀNH “BỒ TÁT HẠNH”

Ðối với phép tu hành của các vị Bồ Tát, thì có mười phép có tính phương tiện như sau:

Thứ nhất: Người tu Bồ Tát hạnh thì lòng không keo lận, bao giờ cũng sẵn lòng xả thân mạng của mình không chút toan tính, chỉ muốn vì lợi ích của chúng sinh, mà không cần phải báo đáp trở lại cho mình. Ðiều nầy được gọi là “Bố thí phương tiện

Thứ nhì: Người tu Bồ Tát hạnh, thì luôn luôn tuân thủ theo đóng những giới luật, tự mình có đủ uy lực cần thiết, không kinh thường kẻ khác, đối với các cảnh trần gian lòng không nhiễm trược. Ðiều nầy được gọi là “Trì giới phương tiện”.

Thứ ba: Người tu Bồ Tát hạnh, thì luôn luôn xa lià những sự điên đảo, hung ác và không có tướng bỉ với ngã; đối với chúng sinh nếu có kẻ nào ngang tàng, xâm phạm đến mình, cũng chịu nhịn nhục, để loại trừ những tác hại. Ðiều nầy được gọi là “Nhẫn nhục phương tiện”.

Thứ tư: Người tu Bồ Tát hạnh đối với mọi việc trong sạch thì phải chịu khó nhọc, dũng mãnh, không lười nhác; học được pháp gì thì suy nghĩ sâu sắc, không xao nhãng, cẩu thả trong nhận thức. Ðiều nầy được gọi là “Tinh tiến phưong tiện”.

Thứ năm: Người tu Bồ Tát hạnh, xả bỏ hết “ngũ dục” (sắc dục, thanh dục, hương dục, xúc dục, vị dục) và mọi điều phiền não, mà đối với mọi pháp môn Thiền định giải thoát thì phải có nguyện ý tu tập, cầu chứng được Phật quả. Ðiều nầy được gọi là “Thiền định phương tiện”.

Thứ sáu: Người tu Bồ tát hạnh, xa lià những điều ngu si phiền não, nuôi lớn những công đức tu tập, luôn luôn hoan hỷ tiến tu, không chán nản; khai phát các tuệ giải, thành tựu Ðại Bồ Ðề. Ðiều nầy được gọi là “Trí tuệ phương tiện”.

Thứ bảy: Người tu Bồ Tát hạnh, vận dụng cái tâm bình đẳng, đại Từ bi, tạo những lợi lạc cho hết thảy chúnh sinh, dù phải trải qua nhiều kiếp, những vẫn không mỏi chán. Ðiều nầy được gọi là “Ðại từ phương tiện”.

Thứ tám: Người tu Bồ Tát hạnh, tuy hiển rõ chư pháp là vốn không có tự tính, những vẫn lấy cái tâm bình đẳng mà chịu mọi điều phiền não, dù cho phải trải qua bao nhiêu kiếp ở trần gian, vẫn không nản lòng, sờn chí. Ðiều nầy được gọi là “Ðại bi phương tiện”.

Thứ chín: Người tu Bồ Tát hạnh, lấy cái vô ngại trí tuệ mà khai phá cho tất cả chúng sinh, khiến họ liễu ngộ các giác tỉnh bản hữu, không có điều gì nghi hoặc nữa. Ðiều nầy được gọi là “Giác ngộ phương tiện

Thứ mười: Người tu Bồ Tát hạnh, chuyển cái pháp luân, vô thượng hóa đạo hết thảy chúng sinh, để họ nghe theo để tu tập, tạo thêm khả năng Bồ Ðề Hạnh. Ðiều nầy gọi là “Chuyển bất thoái pháp luận phương tiện”.

Những điều kể trên cho thấy được rằng: Thực đức của các vị Bồ Tát là mở rộng lòng từ bi, sử dụng linh họat các phương tiện trong tam giới. Họ không nhập Niết Bàn, mà vẫn cứ vào trong cõi sinh tử, hoá độ chúng sinh. Họ lấy ý nghĩa “tự giác và giác tha” làm cơ sở hành trì.


... CÒN TIẾP ...



. © Tác giả giữ bản quyền
. Tác phẩm cập nhật ngày 26.02.2012.
. Đăng tải lại xin vui lòng ghi rõ nguồn Newvietart.com ©