TƯỞNG NHỚ TRƯNG VƯƠNG
QUA BÀI HÁT “ĐÊM MÊ LINH”

Nhân ngày Giỗ Hai Bà Trưng, mùng 6-2 âm lịch, chúng ta cùng nhau tường nhớ về Hai vị Anh thư đầu tiên trong lịch sử Tiên Rồng, qua bài hát “Đêm Mê Linh” cùa nhạc sĩ Văn Giảng, lời của Võ Phương Tùng:

. Canh dài, ta ngồi trong rừng cây vang âm hờn thiên thu
. Trời vắng, hồn lắng tiếng sơn hà trong gió hú.
. Ai thấy chăng xưa hùng cường? Ai thấy chăng nay xiềng cùng, Đằng đằng nặng hận thù?
. Ai đắp non sông trường tồn? Ai kết liên dân tài hùng, Xua tan giặc Đông Hán, xua ta giặc xâm lấn?

Thời Thượng cổ, nước ta có tên là Lạc Việt, một xứ trong Bách Việt. Tiếng “Lạc” có nguồn gốc từ chim Lạc (là giống chim ăn tôm, cá, to con, mỏ dài, chân cao, sải cánh rộng, cùng họ với giang, sếu, cò, có thói quen di trú và có tiếng kêu cạc, lạc, nay gọi là Hạc. Chim Lạc cũng được khắc trên Trống đồng nổi tiếng Ngọc Lũ) do người xưa đã theo đường di trú của chim Lạc mà đến lập nghiệp tại nơi này. Ngoài ra, người Trung Hoa xưa quen gọi nước ta là Giao Chỉ, do khi Hạ Vũ lên ngôi vương Trung Hoa vào thế kỷ XXII TCN có cử các đoàn khảo sát mọi nơi và khi đi qua vùng Lĩnh Nam, thấy nhiều đầm lầy, có giống Giao long hung dữ, bèn đặt tên đất này là Giao Chỉ. Sau là tên một bộ thời Hùng Vương, rồi lại được nhà Hán dùng để đặt tên một quận nước ta thời Bắc thuộc.

Năm 34 Hán đế là Quang Vũ cử Tô Định sang thay Tích Quang làm Thái thú quận Giao Chỉ. Tô Định là người rất gian tham. Y ra sức vơ vét tài sản, tăng thuế khóa, khống chế, đè nén các Lạc tướng và con cháu họ, khiến cho cả giới quý tộc cũ và nhân dân đều oán hận bọn quan đô hộ.

Khi ấy Trưng Trắc, Trưng Nhị là con gái của Lạc tướng huyện Mê Linh. Đất Mê Linh là đất bản bộ cũ của các Vua Hùng, kéo dài trên hai bờ sông Hồng, trải rộng từ vùng núi Ba Vì (Sơn Tây) sang vùng núi Tam Đảo (Vĩnh Phúc). Nhà Hán ban đầu đặt cả châu trị, quận trị và đô úy trị Giao Chỉ ở Mê Linh, vừa cai quản toàn vùng Nam Việt và Âu Lạc cũ, vừa trực tiếp khống chế “Đất Tổ” của người Việt. Sang thời Đông Hán quận trị mới dời xuống Luy Lâu,Thuận Thành, Bắc Ninh. (Nhà Đông Hán ra đời sau nhà Tây Hán, và trước thời Tam quốc ờ Trung Hoa gồm Tây Thục, Bắc Ngụy và Đông Ngô).

. Ta cùng, chung lòng mong ngày vang danh thơm dòng oai linh
. Thề quyết, rèn chí quét quân thù đang cướp nước.
. Ta cháu con dân Việt hùng, nơi Mê Linh ta trùng phùng, Đồng lòng nguyền vẫy vùng
. Ta chiến binh đang thề nguyền, Quanh ánh thiêng nung lòng bền
. Gian nguy càng hăng chí, Xung phong chờ đến ngày!

CUỘC KHỞI NGHĨA CỦA CON TRAI, CON GÁI LẠC TƯỚNG

Chính sách cai trị tàn bạo của nhà Đông Hán đã thôi thúc Thi Sách, Trưng Trắc hiệp mưu tính kế nổi dậy chống lại. Nhưng chẳng may việc bị bại lộ, Tô Định đã giết Thi Sách trước khi cuộc khởi nghĩa nổ ra. Hành vi bạo ngược của Tô Định không những không làm dập tắt được ý chí đấu tranh cùa Trưng Trắc, mà trái lại càng làm cho ngọn lửa căm thù bốc cao.

Tháng 3 năm 40, Trưng Trắc đã cùng em gái là Trưng Nhị phát động cuộc khởi nghĩa ở khu vực của sông Hát (làng Hát Môn, huyện Phúc Thọ, Hà Tây) với mục đích đền nợ nước, trả thù nhà. Sách Thiên Nam Ngữ Lục chép về lời thề của Trưng Trắc trước quân sĩ, khẳng định lý do khởi nghĩa:

“Một xin rửa sạch nước thù
Hai xin nối lại nghiệp xưa họ Hùng
Ba kẻo oan ức lòng chồng
Bốn xin vẹn vẹn sở ‘công lênh’ này”
(Công lênh: công sức bỏ vào việc gì)

Hai Bà thông đạt giấy tờ đến các vị Lạc hầu, Lạc tướng, Bố chính khắp các huyện đất nước Âu Lạc cũ thuộc quận Giao Chỉ, Hợp Phố, Cửu Chân, Nhật Nam, hẹn cùng nhau nổi dậy khôi phục nền độc lập nước nhà. Những người yêu nước khắp nơi rầm rập kéo về tụ nghĩa ở cửa sông Hát. Đây là chỗ gặp nhau của hai dòng sông lớn là sông Hồng và sông Đáy (nước sông rất trong nên ta có thế nhìn xuống tận đáy, chảy qua Đôn Thư, Hà Tây), thời kỳ đầu Công nguyên, cửa sông Hát còn nằm ở phía trước cửa đền Hát Môn hiện nay. Nơi này là đầu mối của các đường giao thông nối liền Mê Linh và Châu Diên, nằm trong vùng quê của cả Trưng Trắc và Thi Sách. Nơi đây tuy ở vị trí trung tâm, nhưng lại có đầy đủ điều kiện để xây dựng một căn cứ khởi nghĩa. Thiên Nam Ngữ Lục mô tả: “Hát Môn có thể dụng binh. Sông sâu làm cứ, rừng xanh làm nhà”. Hai Bà Trưng đã phát động khởi nghĩa và mở Hội Thề ở đây. Rồi từ cửa sông Hát, đại quân kéo xuống đánh chiếm Đô úy trị (Hạ Lôi, Mê Linh, Vĩnh Phúc), tiến công thành Cổ Loa (Đông Anh, Hà Nội) và từ đó tiến đánh thành Luy Lâu, là dinh của Thái thú Tô Định. Bản thân y hoảng sợ phải bỏ hết của cải, giấy tờ ấn tín tháo chạy về nước.

Theo gương dân Lạc Việt, các dân Nam Hải, Tượng Ngô và Uất Lâm cũng có nhiều nơi nổi dầy chống nhà Hán, vì thế, hiện nay ở Lưỡng Quảng còn có những đền thờ Bà Trưng thì việc này tất phải có thật. Chỉ trong một thời gian ngắn, ngọn cờ chính nghĩa của cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng đã tập hợp được 65 huyện thành –nghĩa là toàn bộ lãnh thổ nước ta hồi đó. Nền độc lập lại được phục hồi sau hơn 200 năm chìm đắm dưới ách đô hộ cùa nhà Hán, Trưng Trắc được suy tôn làm Vua (sử cũ gọi là Trưng Vương), đóng đô ở Mê Linh – quê hương cùa Hai Bà.Trưng và Thi Sách.

“Đô kỳ đóng cõi Mê Linh
Lĩnh Nam riêng một triều đình nước ta”.

Cần phải nói lại cho rõ là chỉ có bà Trưng Trắc mới xưng làm vua mà thôi, niên hiệu là Trưng Nữ Vương. Bà em Trưng Nhị chỉ nhận mình là Bình Khôi Công chúa, lúc nào cũng ở bên giúp đỡ bà chị, chứ không phải Hai Bà cùng làm vua.

. Ai vì nước? Ai thề ước? Ta xung phong, nguyện dâng thân hiên ngang, nguyện đấu tranh xua tan quân Đông Hán!
. Ai trung thành? Ai liều mình? Thề hy sinh, thề tung hoành hiên ngang, thề kiên trung chiến đấu, thề chiến thắng!
. Canh dài, ta ngồi mơ ngày đi xông pha giành non sông
. Ngời chói, bừng sáng ánh tươi hồng hăng chí nóng.
. Quanh ánh thiêng reo bùng bùng, Ta nắm tay ca trầm hùng, hẹn ngày rạng Lạc Hồng.
. Mơ xuất quân đi rập ràng, mơ quét tan quân bạo tàn, Xua tan giặc Đông Hán, xua tan giặc xâm lấn!

TÊN HỌ THẬT CỦA TRƯNG TRẮC, TRƯNG NHỊ VÀ THI SÁCH

Theo Lĩnh Nam Chích Quái, họ của Hai Bà là Lạc, bà chị tên Trắc, bà em tên là Nhị. Còn theo truyền thuyết dân gian, Thần tích miếu Mèn và đình Nam Nguyễn (Ba Vì) thì thân mẫu Hai Bà Trưng là cháu ngoại vua Hùng, người làng Nam Nguyễn. Bà góa chồng sớm nên phải một mình nuôi dạy hai con gái. Truyền thuyết còn kể rằng quê thân phụ của Hai Bà Trưng là làng Hạ Lôi (Mê Linh). Gia đình bố mẹ cùa Hai Bà Trưng chuyên nghề dâu tằm, cho nên mới đặt tên con theo các loại kén (kén tốt nhất, kén dày gọi là kén chắc, là trứng chắc, tức Trưng Chắc; còn kén loại hai, kén mỏng, là kén nhì, là trứng nhì, tức Trưng Nhì; còn loại ba là thứ xấu). Người xưa viết chữ Hán, do tiếng Hán Việt không có chữ”chắc” và chữ “nhì” là tiếng Nôm, nên viết là Trưng Trắc và Trưng Nhị, có dấu cá bên. Có thể là qua tam sao thất bản, dấu cá bên đã bị bỏ đi. Đến khi phiên âm ra chữ Quốc ngữ, người dịch trước đã viết là Trắc và Nhị, rồi người sau cứ theo thế.

Tên húy của chồng bà Chắc là Đặng Thi. Thi là tên chứ không phải là họ. Tiếng “sách” là chữ viết sau chữ “thi” trong câu văn, điều này được nhiều học giả thừa nhận. Các bản sử Quốc ngữ chép là Thi Sách, tuy có bản chú thích thêm ông có họ Đặng. Nhưng ngày nay ta đã quen gọi là Trưng Trắc, Trưng Nhị, Thi Sách thì cũng đã thành Tên mới rồi, có thể gọi các nhân vật lịch sử ấy như thế cũng được. Quê của Hai Bà Trưng có thể ở khu vực bên bờ sông Hồng, đoạn từ Hạ Lôi lên đến khu vực chùa Mía.

- Trưng Trắc là con của Lạc tướng Mê Linh vùng Phú Thọ và Vĩnh Phúc ngày nay, giỏi võ nghệ, lấy chồng là Thi Sách con trai của Lạc tướng Châu Diên (Sơn Tây, Hà Tây - sách Việt Nam Sử lược chép là phủ Vĩnh Tường, Vĩnh Yên). Việc hai gia đình có thế lực lớn của hai vùng quan trọng nhất nước ta lúc đó, làm thông gia với nhau khiến cho thanh thế của họ càng thêm mạnh.

MÃ VIỆN PHỤC THÙ - HAI BÀ TRƯNG THUA TRẬN

Nghe tin Trưng Trắc xưng vương, năm 41 vua Quang Vũ nhà Hán cử đệ nhất danh tướng lúc bấy giờ là Mã Viện tổng chỉ huy đem 2 vạn quân cùng 2000 thuyền xe chia làm hai cánh, theo hai đường thủy bộ sang phục thù. Trưng Vương đã chủ động tổ chức lực lượng đánh địch ngay tại vùng địa đầu Tổ quốc (khu vực cửa sông Bạch Đằng), rồi sau đó lui về ghìm giữ địch ở Lãng Bạc (Gia Lương, Bắc Ninh). Cầm cự không nổi, Trưng Vương buộc phải bỏ Lãng Bạc. rút quân về cố thủ ở Cổ Loa, rồi rút về Hạ Lôi. Tháng 3 năm 43, Mã Viện đem toàn lực tiến đánh quân ta tại cửa sông Hát, Hai Bà cùng các nữ tướng Lê Chân, Hoàng Thiều Hoa, Nguyễn Đào Nương …đều anh dũng bỏ mình tại trận. Nhiều bộ Quốc sử chép :Hai Bà thế bức, gieo mình xuống sông Hát Giang tự tận.

(Trong khi Bắc sử chép Hai Bà chết vinh dự tại trận là đáng tin hơn cả, vì Hai Bà không thể tự tận mà bỏ mặc binh tướng. Người nước ta xưa có quan niệm sai lầm cho thế là sự không hay nên sử gia viết khác đi, các bộ sừ đều viết không rõ ràng về việc này: - Sách Việt Điện U Linh chép Hai Bà thế cô, phải nhảy xuống sông tử tận. –Đại Việt sử ký Toàn thư chép không rõ ràng, chỉ nói quân chạy tan cả, thế cô, đều thua chết. –Việt Sử Tiêu Án của Ngô Thì Sĩ viết Hai Bà mất tích sau thua trận. –Thần tích xã Hạ Lôi, Phúc Yên nói Hai Bà bay lên trời, đây chỉ là một cách nói Hai Bà đã chết, dân xã này vào Đền thờ Hai Bà kiêng màu đỏ (màu máu).

Ngày 6-2 âm lịch hàng năm chúng ta kỷ niêm ngày Hai Bà tuẫn tiết tại sông Hát.

- Bình định xong xứ ta, Mã Viện bắt hết thảy các quý tộc và người có chút uy thế chính trị gồm hơn ba trăm người, cho đưa cả sang tỉnh Hồ Nam, không còn liên lạc gì với đồng bào ta. Chỉ có một số rất ít các quý tộc đào tẩu vào rừng sâu cùng với các quý tộc Thái, Mường trong rừng sâu xa xăm là thoát nạn.

- Mã Viện cho dựng cột đồng ở biên giới nước ta và Trung Hoa để ghi công ‘chinh Nam” của mình, trên có khắc sáu chữ “Đồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt” (cột đồng gãy thì dân Giao Chỉ bị giết hết). - Có lời truyền tụng rằng người nước ta qua đấy thường lấy đất đá chất vào, lâu ngày thành gò đống, do sợ cột đồng gãy. – Thuyết khác nói chính người Hoa đã lấp cột đồng ấy đi, để lấn đất biên giới. – Đại Việt Sử Ký Toàn thư chép “Cột đồng được đặt ở động Cổ Lâu thuộc Khâm Châu” – Việt Sử Thông Giám Cương Mục lại chép là động Cổ Sâm, được học giả Đào Duy Anh cho là đúng hơn. Chuyện cột đồng của Mã Viện thuộc về truyền thuyết, có người cho là không chắc có thật. Nếu có thật thì cột đồng dựng ở biên giới bộ Giao Chỉ bấy giới thì phải là phía bắc Hợp Phố, đất cũ Âu Việt nhà Thục, nay thuộc Quảng Đông, Trung Hoa.

- Cũng về sư tích “Cột đồng của Mã Viện”, vào năm 1304, Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi được nhà Trần cử đi sứ sang Trung Hoa. Quan tiếp sứ thấy Mạc Đĩnh Chi người bé nhỏ, đen đủi, nên có ý khinh thường mới ra một câu đối:

Đồng trụ chí kim đài dĩ lục
(Cột đồng đến nay rêu xanh phủ)

Mượn tích ngạo mạn của Mã Viện thuở nào, viên quan tiếp sứ có ý mỉa mai rằng Đất nước ta đã suy kém từ lâu đời. Nhưng, viên quan này đã bị Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi đối lại một câu rất đích đáng:

Đằng Giang tự cổ huyết do hồng
(Sông Bạch Đằng từ xưa máu còn đỏ)

Một bên nhắc chuyện xâm lược, một bên nêu chuyện chống xâm lăng. Hành vi cướp nước thể hiện qua tích “Cột đồng Mã Viện” thì đã bị rêu xanh phủ, còn sự tích “đuổi giặc Nguyên của Trần Hưng Đạo và quân dân ta thời Trần” thì nước sông Bạch Đằng như vẫn còn đỏ máu của chúng. Đối đáp nhưng cũng là đã cho quân giặc biết tay, mặc dù vẫn hết sức nhã nhặn, văn chương.

Tuy nhiên, nếu không có chiến công lừng lẫy của Trần Hưng Đạo – Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi dù có tài giỏi bao nhiêu cũng không thể nghĩ ra được một vế đối tài tình như vậy.

Cũng từ đó, Tam nguyên Thám hoa Vũ Phạm Hàm đã cúng đôi câu đối nổi tiếng ở Đền Kiếp Bạc (Hải Dương) thờ Trần Hưng Đạo như sau:

Vạn Xuân hữu sơn giai Kiếm khí
Lục Đầu vô thủy bất Thu thanh

(Vạn Kiếp núi sông hơi kiếm tỏa
Lục Đầu sông nước tiếng thu reo

Đôi câu đối dẫn ngắn gọn, cô đọng, nhưng đã thể hiện đước khí phách oai hùng của dân tộc trong trận chiến thắng quân Nguyên xâm lược.

TÓM TẮT

Dù có nhiều giả thuyết về tên họ thật của Hai Bà cũng như sự kiện Hai Bà trầm mình tuẫn tiết hay là chiến đấu cùng quân sĩ đến hơi thở cuối cùng, thì ngày nay Trưng Vương vẫn đời đời được ghi nhớ về công lao của Hai vị anh thư đầu tiên với tên gọi là Trưng Trắc, Trưng Nhị và phu tướng của Bà chị là Thi Sách, cùng với việc Hai Bà tự tận ờ dòng sông Hát - mãi mãi tượng trưng cho tinh thần anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang của Phụ nữ nước ta nói riêng, và của Dân tộc Việt Nam nói chung vậy.


___________________________________

(Tham khảo: Các sách Lịch Sử Việt Nam và Bài hát Cộng đồng, Thành Đoàn TpHCM, 1991))
© Tác giả giữ bản quyền.
. Cập nhật ngày 20.02.2012 theo nguyên bản của tác giả từ SaìGòn .
. Đăng tải lại vui lòng ghi rõ nguồn Newvietart.com