Thử Nhìn Lại Hậu Quả
Hai Cuộc Chinh Phục Trung Quốc của Mông Cổ
ở Thế Kỷ XIII và Mãn Thanh ở Thế Kỷ XVII.



Theo các nhà nghiên cứu sử học và tiến trình lịch sử Trung Quốc, trong một thời gian dài nước này không có tên nước mà chỉ gọi theo tên từng triều đại vua trị vì như Tần, Hán, Tùy, Đường, Nguyên, Thanh. Mãi đến Cách mạng Tân Hợi năm 1911, sau khi lật đổ triều đình phong kiến Mãn Thanh, những người làm cách mạng Trung Quốc mới đặt tên nước mình là “Trung Hoa dân quốc”, gọi tắt là Trung Quốc.

Trong khi đó, Việt Nam có tên gọi là Văn Lang ngay thời đại Hùng Vương – thời đại đầu của dân tộc Việt khởi sự từ cách đây 4.000 năm và thời đại đó đã dài đến 20 thế kỷ với 18 đời vua Hùng Vương trị vì. Triều đại sau Hùng Vương là An Dương Vương đổi tên nước là Âu Lạc. Sau đó là nước ta bị các triều đại phương Bắc đô hộ hơn 1.000 năm tức 10 thế kỷ bị đặt lại với nhiều tên gọi khác nhau nhưng vẫn có tên nước như Giao Chỉ hay An Nam... Nhưng tới khi giành được độc lập, tự chủ từ thời Đinh, Lê và nhà Lý (tức vua Lý Công Uẩn) năm 1010 có tên nước Đại Việt kéo dài tới đầu thế kỳ 19 thì triều nhà Nguyễn (vua Gia Long lên ngôi năm 1802) đổi lại là Việt Nam tới ngày nay với 54 dân tộc.

Như vậy, nếu so sánh Việt Nam với Trung Quốc thì quốc gia của người Việt tộc Kinh từ suốt bốn ngàn năm lịch sử lập quốc đến nay dù bị ngoại bang xâm chiếm và đô hộ trên một ngàn năm vẫn tự hào có tên nước và nhân dân nước này luôn nêu cao tinh thần độc lập, tự chủ và quật khởi. Trong khi Trung Quốc là một đất nước rộng lớn, người đông có 56 dân tộc khác nhau, trong đó người Hán chiếm 94% dân số và các dân tộc không phải Hán như Tạng, Mãn, Mông, Choang chỉ chiếm khoảng 6% dân số nhưng sống trên lãnh thổ rộng 60% diện tích đất đai Trung Quốc.(Lịch sử Trung Quốc, NXB Giáo Dục 1991, trang 3).

Nhìn qua sự phân bố dân tộc và đất đai, ai cũng nhận thấy bốn dân tộc chủ yếu nói trên đã chiếm cứ các vùng lãnh thổ Trung Hoa hay Trung Quốc rất lớn và nằm ở khu vực ngoại vi của Trung Nguyên ở phái Bắc, Tây và Nam, đó là dân tộc Choang có số người đông nhất trên 1338,31 triệu (các tỉnh phía Nam), Mãn 430,50 triệu (các tỉnh phía Đông Bắc), Mông Cổ 341,14 triệu (các tỉnh phía Tây Bắc (Nội Mông) và Tạng 384,79 (các tỉnh phía Tây. Theo cuộc điều tra dân số toàn quốc năm 1982, ở Trung Quốc có 936,70 triệu người Trung Quốc (người Hán) và 67,23 triệu người thuộc các dân tộc khác (Tự điển Bách khoa – Nước Trung Hoa mới, NXB Khoa học xã hội Hà Nội 1991, trang 43).

Những người làm cách mạng Tân Hợi năm 1911 đặt tên nước lần đầu tiên là “Trung Hoa dân quốc” theo cương lĩnh cách mạng do Tôn Trung Sơn đề ra :”Đánh đổ Mãn Thanh, khôi phục Trung Hoa, kiến lập dân quốc, bình quân địa quyền”. Cuộc cách mạng lớn này đặt ra ba vấn đề cốt lõi : 1-Lật đổ chế độ hiện tại là Mãn Thanh, 2-Thành lập nước Trung Hoa theo chế độ dân chủ, 3-Chia lại ruộng đất. Trong đó, quan trọng nhất là đánh đổ triều đình Mãn Thanh.

Mãn Thanh được nhân dân Trung Hoa coi là kẻ ngoại tộc ngoại xâm đã thống trị nước này gần 200 năm (từ năm 1644 tới năm 1840). Từ năm 1840 tới năm 1895, Trung Hoa bị các cường quốc phương Tây và Nhật xâm chiếm đô hộ. Sau năm 1895 là các cuộc khởi nghĩa của nhiều nhóm, phong trào nhằm lật đổ ách đô hộ của ngoại bang, trong đó phát-xít Nhật là gần nhất cho tới cách mạng Tân hợi 1911.

Ngoài Mãn Thanh, trước đó vào thế kỷ XIII, Trung Hoa từng bị cuộc chinh phục của người Mông Cổ thành lập nhà Nguyên để thống trị (1271-1368). Dân tộc Hán dưới các triều đại phong kiến coi ngưởi Mông Cổ và Mãn Thanh là ngoại tộc đã đánh chiếm và thống trị đất nước to lớn này qua nhiều thế kỷ và gây ra họa đồng hóa lớn lao, nghiêm trọng, làm thay đổi nền văn hóa cố cựu và tư tưởng Hán tộc. Trong khi Việt Nam bị các triều đại phong kiến phương Bắc đô hộ cả ngàn năm và sau đó lại xâm lăng ở từng triều đại nữa, trong đó có Mông Cổ và Mãn Thanh. Nhưng hai đế chế này đã thất bại chua cay, trong đó nhà Thanh đô hộ 10 năm bị cuộc khởi nghĩa Lam Sơn của Lê Lợi đánh đổ gìanh độc lập cho đất nước. Còn Mông – Nguyên phát động tới ba cuộc xâm lăng quy mô dưới đời nhà Trần của ta và bị tướng Trần Hưng Đạo Vương (Trần Quốc Tuấn) tổ chức đánh đuổi thắng lợi nhanh chóng. (Xin xem bài Trần Hưng Đạo Vương – Nhà Tổ Chức Quân Sự và Chính Trị ... đã đăng trên Newvietart gần nhất) .

Ở đây, xin đề cập lại hai cuộc đô hộ Trung Hoa của Mông Cổ và Mãn Thanh đã gây tác hại cho Hán tộc và đất nước này như thế nào ?

1-Cuộc chinh phục của người Mông Cổ và sự thống trị của nhà Nguyên (1271-1368) :

Người Mông Cổ gồm nhiều bộ lạc, sống bằng nghề chăn nuôi, săn bắn chiếm cứ ở vùng đồng cỏ rộng lớn thuộc miền Bắc Trung Quốc. Cuối thế kỷ XII, Mông Cổ bước vào xã hội có giai cấp, thủ lĩnh một bộ lạc tên Tê-nin-sin (Thiết Mộc Chân) có công tập hợp các bộ tộc và thống nhất Mông Cổ. Ông là người có tài năng đặc sắc về tổ chức và chỉ huy quân sự nên thành lập một đạo kỵ binh hùng mạnh. Năm 1206 ông được hội nghị quý tộc bầu làm đại hãn (có nghĩa vua lớn của Mông Cổ) lấy hiệu là Cingis Khan (hay Gengis Khan) được lịch sử Trung Quốc gọi là Thành Cát Tư Hãn. Ngay sau khi lên cầm quyền, Khan đã có những đội kỵ binh thiện chiến nên tích cực chuẩn bị chinh phục các nước chung quanh, mở rộng bờ cõi ra bên ngoài, hình thành nên một tư tưởng “bành trướng” kiểu thực dân, đế quốc sau này.

Năm 1209, Mông Cổ tấn công nhà Tây Hạ (khu vực tỉnh Sơn Tây – TQ), vua nước này phải nộp con gái xin hàng. Năm 1211, Thành Cát Tư Hãn đem quân tấn công nước Kim (khu vực phía Bắc sông Hoàng Hà - TQ). Cả một vùng rộng lớn dài hơn ngàn dặm dọc theo hai bờ sông Hoàng Hà, phía Bắc Trung Quốc bị đánh phá, cướp bóc và tàn sát. Năm 1214, quân Mông Cổ vây Trung Đô (Bắc Kinh), nhà Kim phải cầu hòa nhưng năm sau, Mông Cổ lại tiếp tục đánh chiếm Trung Đô, đuổi quân Kim chạy dài xuống phái nam sông Hoàng Hà. Vùng đất phía bắc Hoàng Hà được sáp nhập vào Mông Cổ. Năm 1218, mở đầu đánh sang phía Tây và chỉ trong vòng 7 năm, quân Mông Cổ đã lần lượt chiếm đóng toàn bộ vùng Trung Á và khu vực sông Đơ-nhi-ép ở Đông Âu.

Năm 1226, Mông Cổ quay lại đánh Tây Hạ và chỉ một năm sau, Tây Hạ bị diệt vong. Lúc này Thành Cát Tư Hãn bị bệnh qua đời nhưng bước chân xâm lăng bành trước vẫn được những người thừa kế tiếp tục. Năm 1234, Mông Cổ hợp tác với Nam Tống đánh Kim và nước này bị diệt vong nhưng hai bên lại mâu thuẫn nên tới năm 1251, sau khi giành được ngôi đại hãn, Khu Bi Lai (Hốt Tất Liệt) mở đường vòng xuống phía Tây Nam tiêu diệt nước Đại Lý ở Vân Nam năm 1253. Sau đó tiến đánh Thổ Phồn và Đại Việt. Hốt Tất Liệt bị đại bại ở Đại Việt. Đây là thất bại đầu tiên của Mông Cổ. Năm 1258, Mông Cổ quay lại đánh Nam Tống thắng lợi.

Năm 1260, Mông Cổ đã chiếm trọn Trung Quốc nên Hốt Tất Liệt bắt chước các triều đại phong kiến Trung Quốc lên ngôi vua xưng là hoàng đế đặt tên nước là Nguyên năm 1271. Như vậy, sau khi tiêu diệt Hạ, Kim và Nam Tống nhà Nguyên đã thiết lập được nền thống trị trên đất nước Trung Quốc bao la. Khi nắm quyền cai trị thiên hạ, nhà Nguyên bắt chước bộ máy các triều đình phong kiến cũ, thi hành chính sách áp bức bóc lột phân chia bốn giai cấp hết sức tàn nhẫn, trong đó người Mông Cổ được tự do ưu tiên như khi bị tội giết người thì người Mông Cổ chỉ bị phạt bằng gậy và đưa lên biên giới phía Bắc xung vào quân đội, còn người Hán và các dân tộc khác bị xử tử.

Người Mông Cổ cầm quyền thực hiện chính sách tàn bạo là giết sạch, cướp sạch, đốt sạch nên nhiều vùng ờ Hoa Bắc, Hoa Trung đều bị bỏ hoang, triều đình lấy đem chia cho quan chức Mông Cổ. Dần dần Trung Quốc bị đồng hóa với Mông Cổ, triều Nguyên trở thành kẻ chinh phục ngoại tộc. Trong thời kỳ này, xã hội Trung Quốc tồn tại mâu thuẫn chủ yếu dân tộc và giai cấp. Do đó, trong suốt thời kỳ đô hộ của nhà Nguyên – Mông Cổ, nhân dân Trung Quốc, đặc biệt Hán tộc diễn ra nhiều phong trào nổi dậy để chống lại nhằm giải phóng đất nước. Tới năm 1367, lực lượng nghĩa quân của Chu Nguyên Chương bắt đầu chiến thắng Mông Cổ ở nhiều nơi và truyền hịch nêu rõ khẩu hiệu “đánh giặc Hồ, khôi phục Trung Quốc, cứu dân tộc Hán”. Tới năm 1368, Chu Nguyên Chương lên ngôi hoàng đế đặt tên nước là Minh, hiệu là Minh Thái Tổ, chấm dứt sự thống trị của Nguyên – Mông Cổ nhưng tư tưởng đại hãn, bành trướng, tàn ác đã thống trị trong các quan chức cầm quyền mang tính di truyền..

Minh Thành Tổ thi hành chính sách bành trướng với đường lối “viễn giao, cận công” bang giao với nước xa, đánh chiếm nước gần) và “dĩ Di trị Di” (lợi dụng dân man rợ cai trị dân man rợ) nên có 5 lần đưa quân lên phía Bắc đánh chiếm vùng đất của Tác-Ta, Ôi Rát thuộc Mông Cổ cố cựu. Kinh đô chuyển đến Bắc Kinh và đưa quân xuống phía nam xâm lược Đại Việt vào những năm 1406 nhưng thất bại do cuộc khởi nghĩa 10 năm của Lê Lợi.

2-Thời kỳ bị ngoại tộc thống trị lần 2 – triều Mãn Thanh (1644-1840) :

Người Mãn Thanh vốn là một chi nhánh của người Nữ Chân. Đầu thế kỷ XII, một số chi tộc Nữ Chân đã thành lập nước Kim ở lưu vực sông Hoàng Hà, còn một số khác vẫn cứ trú ở miền đông-bắc TQ. Chính các chi tộc này lớn mạnh đặt tên nước là Mãn Châu rồi đến năm 1636 lại đổi tên nước là Thanh và chinh phục Trung Quốc.

Khi chiếm trọn Trung Quốc triều đình nhà Thanh bắt đầu củng cố bộ máy nhà nước chuyên chế trung ương tập quyền và thi hành chính sách áp bức dân tộc. Các chức tước quan trọng đều thuộc về dóng dõi Mãn Thanh nắm giữ và bắt nhân dân Trung Hoa phải theo phong tục Mãn Thanh, cắt tóc để đuôi sam như dân Mãn và kiểm soát sách vở, tài liệu và đốt nhiều sách có tư tưởng chống Thanh. Trong thời gian này họ đốt đến 13 ngàn bộ sách. Trong thời gian cai trị Đại Việt 10 năm họ vẫn áp dụng chính sách tàn bạo này. Họ đồng hóa Hán tộc theo cách đãi ngộ trí thức và phong nhiều chức vụ để lôi cuốn, đề cao Nho học. Vua Khang Hy (1662-1722) đề xướng “Mãn – Hán một nhà”. Đây là sự đô hộ và đồng hóa rất tinh vi lần hồi đời sống kinh tế - văn hóa - xã hội lên cao đến mức đã hòa nhập Mãn vào Hán. Do đó, thời kỳ Mãn Thanh, đất nước Trung Quốc phát triển về mọi mặt, dân số tăng nhanh, cả nước có trên 400 triệu người. Người Trung Quốc cũ đã quên dần đi cuộc chinh phục và thống trị của dân Mãn vì đã bị đồng hóa mất rồi !

Nhưng từ cuối thế kỷ XVIII trở đi, triều đình Mãn Thanh ngày càng hủ bại, quan lại tham ô và thối nát, ruộng đất ngày càng tập trung vào tay địa chủ, nhân dân ngày càng cực khổ. Nhiều phong trào “phản Thanh phục Minh” nổi lên, có nhóm bỏ nước ra đi. Chính trong bối cảnh này, thực dân Anh trong mối quan hệ ngoại giao của Trung Quốc với các nước phương Tây, phát động cuộc chiến tranh Nha phiến (1840) và từ một nước phong kiến độc lập, Trung Quốc trở thành một nước nửa phong kiến nửa thuộc địa nhanh chóng. Sau đó xảy ra chiến tranh Trung – Nhật năm 1894 và làm miếng mồi ngon cho nhiều nước khác tới xâu xé như Pháp, Mỹ, Đức, Nga…chia khu vực chiếm đóng, khai thác thuộc địa.

Cũng chính từ hoàn cảnh đó, các tầng lớp nhân dân Trung Quốc lần lượt đứng lên chống lại, đánh đuổi ngoại xâm giành độc lập cho đất nước. Từ 1840-1919 là thời kỳ cách mạng dân tộc kiểu cũ, từ 1919 mở đầu bằng phong trào Ngũ Tứ đến năm 1949 thời kỳ cách mạng dân tộc dân chủ kiêu mới hay còn gọi là cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân dẫn đến Đảng Cộng sản Trung Quốc ra đời (1/7/1921) với sự giúp đỡ của Quốc tế cộng sản. Kề từ đây, đất nước và nhân dân Trung Quốc chuyển mình sang giai đọan mới cho đến ngày nay.

Kết luận :

Kể từ khi có lịch sử thành văn, lịch sử tiến hóa Trung Quốc đã trải qua hơn 4.000 năm, kể từ triều đại nhà Hạ đến đầu năm 1949 cách mạng dân tộc dân chủ Trung Quốc thắng lợi. Nhiều nhà nghiên cứu đã đánh giá các thời kỳ hình thành và phát triển của Trung Quốc qua các đặc điểm :

1-Tính không thống nhất : phân chia, ly khai giữa các triều đại, địa phương, tranh giành quyền lực kéo dài làm cho nhân dân khổ cực, nổi bật là thời kỳ Xuân thu Chiến quốc cả ngàn năm.

2-Chủ nghĩa đại hán ảnh hưởng sâu rộng trong tư tưởng mọi thời kỳ, không lúc nào từ bỏ chính sách “cùng binh độc vũ”(dùng quân đội để trấn áp) nhằm mở mang bờ cõi mà chịu ảnh hưởng lớn nhất qua hai cuộc chinh phục và chiếm dóng đô hộ của hai dòng tộc (mà người Hán gọi là Hung Nô – ngọai tộc) là Mông Cổ và Mãn Thanh. Chỉ có hai ngoại tộc này đã đồng hóa với Hán tộc đến nay đã hình thành nên văn hóa “bành trướng”.

3-Vai trò thao túng của chủ nghĩa quân phiệt trong hệ thống quyền lực Nhà nước qua các triều đại, trong đó chủ nghĩa đại dân tộc hòa quyện với tham vọng “mưu bá đồ vương”, luôn mở rộng biên cương mặc dù dân số quá đông, đất đai qúa lớn. xưa là đất liền, nay là biển đảo.

Đối với Đại Việt nay là Việt Nam, Việt tộc trong Bách việt đã từng đối đầu với Hán tộc ở cương vực cổ là Nam-Bắc Hoàng Hà. Nền văn minh Việt tộc và Hán tộc xuất phát cùng thời kỳ với 4.000 năm lịch sử tiến hóa (thời đại Hùng vương). Với 1.000 năm Bắc thuộc Đại Việt vẫn vùng lên tháo gỡ ách nô lệ và về sau đã đánh bại hai cuộc ngoại xâm của Mông – Nguyên và Mãn Thanh. Đông, Tây, Bắc ngoại vi của Trung Quốc đã bình ổn từ thời kỳ thống nhất đất nước như thu phục Tân Cương, Tây Tạng và Mãn Thanh là cố cựu liền biên giới. Biển đông rộng lớn từ Bắc xuống Nam (có Hải Nam) đáng lẽ là biên cương hải đảo tận cùng của Trung Quốc. Còn mặt Nam có Việt Nam là hai nước láng diềng, núi liền núi, sông liền sông nay lại là hai chế độ cùng song hành bè bạn. Biên giới đã được phân chia cắm mốc rõ ràng hai nước như bài thơ trên sông Như Nguyệt đã chỉ :

Nam quốc sơn hà Nam đế cư
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư !

Hiện nay chỉ còn lại bài toán “Biển đông của Việt Nam” tức biển Nam đối với Trung Quốc không thuộc Trung Quốc mà đường lưỡi bò có ý nghĩa như biên giới mở rộng của Trung Quốc trên biển Nam vốn mang tính “cùng binh độc vũ” và “viễn giao, cận công” trong tư tưởng bành trướng thời xưa, đế quốc kiểu mới..


_____________________________________________________



© Tác giả giữ bản quyền.
. Đăng ngày 13.02.2012 theo nguyên bản của tác giả chuyển từ Sài Gòn.
. TRÍCH ĐĂNG LẠI VUI LÒNG GHI RÕ NGUỒN NEWVIETART.COM .