TỪ TU THIỀN ĐẾN TU PHẬT





Kỳ Thứ 6

CHƯƠNG IV



BÌNH LUẬN NHỮNG CÔNG ÁN TRONG VÔ MÔN QUAN

Quyển VÔ MÔN QUAN do thiền Sư VÔ MÔN thu thập và viết lời bình. Trong đó là 48 Công Án nổi tiếng đương thời.

Thiền Sư VÔ MÔN pháp danh HUỆ KHAI, sinh năm 1183 vào khoảng cuối đời Tống. Tham học với Thiền Sư Nguyệt Lâm tại chùa Vạn Thọ. Nguyệt Lâm là môn sinh đời thứ 8 của Dương Kỳ thuộc dòng Lâm Tế.

Trong lời mở đầu, ta thấy viết: “Ngài được Nguyệt Lâm giao cho tham chữ VÔ. Qua 6 năm công phu vẫn chưa khai thông được. Ngài phẫn chí, thề quyết không ngủ cho đến khi nào vỡ lẽ mới thôi. Sau vì quá buồn ngủ, ngài lững thững ngoài hành lang, mệt mỏi tựa đầu vào cây cột, bỗng nghe tiếng trống ngọ đánh, bất giác lĩnh ngộ”.

Ngài mừng quá, chạy đến tìm gặp Nguyệt Lâm, toan trình điều sở ngộ. Nguyệt Lâm vừa trông thấy vụt hỏi: “Chạy đi đâu mà như bị ma đuổi vậy?”. Ngài liền quát một tiếng. Nguyệt Lâm cũng quát một tiếng. Hai bên cùng ứng đáp như thế. Sau đó Ngài ứng khẩu đọc bài kệ rằng:

“VÔ VÔ VÔ VÔ VÔ

VÔ VÔ VÔ VÔ VÔ

VÔ VÔ VÔ VÔ VÔ

VÔ VÔ VÔ VÔ VÔ”

Đắc Công Án VÔ bằng bài Kệ 20 chữ VÔ! Chẳng ai hiểu Ngài thấy được nghĩa lý gì của Công Án đó! So với Kệ của chư Tổ nói về TÂM và PHÁP thì ta thấy sự chứng đắc của nhà Thiền thật quá mơ hồ! Thật, giả, đúng, sai chỉ có người đắc biết!

Tu, nghĩa tiếng Việt là SỬA. Kết quả của việc tu hành là cả một thời gian học hỏi, rèn luyện Thân, Tâm. Người thận trọng còn khuyên “Dục tu Tiên đạo, tiên tu Nhân Đạo. Dục tu Phật Đạo, tiên tu Tiên Đạo” Có nghĩa là trước khi tu Đạo Tiên thì phải tu Đạo Làm Người. Trước khi tu Đạo Phật thì nên tu Đạo Tiên”! Phải đâu chỉ cần khai được một CÔNG ÁN là ngang nhiên thành thánh, thành Phật?

Cũng vì không hiểu được thế nào là Tu Phật, Thành Phật, cho nên Ngài Vô Môn đã rơi vào cái TƯỞNG CHỨNG và TƯỞNG RẰNG PHẬT LÀ MỘT VỊ THẦN LINH, Chứng Đắc còn cao hơn cả Phật, Tổ, nên ngay lời Tựa ta đã thấy đầy vẻ kiêu mạn: “Nếu có kẻ gan dạ không màng chi nguy vong, một đạo vô thẳng thì Na Tra tám tay giữ lại không nổi, mà dù cho đến Tây Thiên 28 vị, Đông Độ Sáu Tổ cũng chỉ còn cách nép mình xin tha mạng”.

Trong Đạo Phật chân chính, Thành Phật có nghĩa là “Thành tựu con đường Giải Thoát”. Không phải là thành “Ông Phật”, hiểu theo đại đa số - là thành “một vị thần linh, có 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp, ngồi trên tòa Sen, cứu nhân độ thế” - Người tu theo Đạo Phật, khi chứng đắc là “đắc cái VÔ NGÔ, tức là KHÔNG CÓ TA. Kinh dạy: “khi có tư tưởng mình đã chứng Thánh, Thành Phật nảy sinh, thì phải diệt ngay tư tưởng đó đi”. Vì thế nên gọi là “Phùng Phật Sát Phật”, hay “Vô sát bất hiện thân”. Có nghĩa là nếu không giết những tư tưởng đó đi, thì người nảy sinh tư tưởng đó không thể hiện thân Phật được.

Thế nhưng, qua lời bình của Ngài Vô Môn, ta thấy là Ngài đã hiểu theo nguyên nghĩa của văn tự, mà không hiểu được Ý của câu “Phùng Phật sát Phật”. Vì vậy, Ngài mới có câu “Tây Thiên 28 vị, Đông Độ 6 Tổ cũng chỉ còn cách nép mình xin tha mạng”!

Một bên, theo Đạo Phật chính thống là SOI VÔ, là diệt trừ những cái khởi tăng ngã mạn, cái thấy mình chứng Thánh, Thành Phật. Nhờ đó mà trừ được cái NGÃ CHẤP, PHÁP CHẤP, được Giải Thoát. Một bên - theo nhà Thiền - là Soi Ra, cao, thấp, hơn thua với ngoại pháp! Do đó, phía Thiền Tông chẳng những CÓ TA CHỨNG ĐẮC, mà còn có TA oai phong hơn cả chư Tổ!

Nói về KỆ chứng đắc thì ta thấy 33 vị Tổ luôn chỉ đề cập đến 3 điều quan trọng cho việc tu hành. Đó là: TÂM, PHÁP và TÁNH. Còn Tham Công án, như chữ VÔ chẳng hạn, chỉ là “phá nghi tình”, mà có vị cổ đức đã nói: “Nghi lớn, ngộ lớn, nghi nhỏ, ngộ nhỏ, không nghi thì không ngộ”. Cái Ngộ đó chỉ nói lên sự hiểu biết về môt khía cạnh nào đó mà người Tham Công Án đang muốn khám phá. Chỉ một chữ VÔ làm sao rõ nghĩa hết tất cả các Pháp của Đạo? Còn Hữu, Phi hữu phi vô, Tứ cú, bách phi, Nhân Quả, Bát Chánh Đạo, Giới, Định, Huệ, Niết Bàn, Tứ Quả, Tứ Nhiếp, Tứ Vô Lượng Tâm vv… vất đi đâu? Vậy mà chỉ thấy một chữ VÔ thôi, nhà Thiền cũng đã thấy mình hơn cả Phật, Tổ!

Nhà Thiền cũng hiểu lầm về Kệ Truyền Pháp mà Đức Thích Ca trao cho Ngài Ca Diếp. Theo lời Kệ, ta thấy Phật nói: “Ta có chánh pháp nhãn tạng. Niết Bàn diệu tâm, pháp môn ấy mầu nhiệm vô cùng, chẳng lập văn tự, ngài giáo lý biệt truyền. Vậy ngươi khá giữ gìn chánh pháp này rồi sau sẽ truyền lại cho Anan kế hậu”.

Chánh pháp nhãn tạng. Niết Bàn diệu tâm” tức là con mắt để thấy Chánh Pháp. Chánh pháp này liên quan đến Niết Bàn nơi Tâm vi diệu. Nói lên cái đắc pháp đó đưa đến sự an lạc nơi tâm của người chứng đắc. Tâm đó tất nhiên không còn là cái Phàm Tâm, mà đã trở thành cái “Tâm Vi Diệu”, tức là cái CHÂN TÂM.

Nghĩa của “Đạo Phật” là “Con Đường Giải Thoát”. Con đường này không nằm ở ngoài cái tâm, nên sự chứng đắc của Đạo Phật cũng gọi là “Đắc cái Tâm”. Vì thế, những pháp mà người tu phải học để thành tựu đạo quả đã được Phật, Tổ chỉ rõ:

- Bát Nhã Tâm Kinh, khẳng định là “Tam Thế chư Phật Y Bát Nhã Ba La Mật Đa cố, đắc tam miệu tam Bồ Đề”. Tức là Ba đời Chư Phật đều nhờ Trí Huệ qua bờ bên kia để đắc Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Bờ bên này là Phàm Tâm. Bờ bên kia là Chân Tâm. Trí Huệ này thuộc về cái Chân Tâm, nên gọi là Trí Huệ Qua Bờ Bên kia.

- Tổ Đạt Ma dạy: “Muốn tìm Phật thà tìm Tâm”, “Tức Tâm tức Phật

- Ngũ Tổ cũng dạy: “Nếu không thấy Tâm thì học pháp vô ích”.

- Trước lúc nhập diệt, Lục Tổ dạy: Chúng người hãy chú tâm nghe cho rõ. “những người mê muội đời sau, nếu biết cái Tâm chúng sanh, tức là thấy đặng Phật Tánh. Bằng chẳng biết cái tâm chúng sanh thì muôn kiếp tìm Phật ắt khó đặng. Nay ta dạy các ngươi phải biết chúng sanh ở Tâm mình thì thấy Phật tánh ở Tâm mình. Muốn cầu thấy Phật thì phải biết cái Tâm chúng sanh”.

- Muốn đến bờ Niết Bàn thì Kinh Tâm Địa Quán dạy: “Các vị còn ở trong phàm phu địa, không quán Tự Tâm, nên phải trôi giạt trong bể sinh tử. Chư Phật, Bồ Tát vì Quán được Tâm, nên qua được bể Sinh tử, đến bờ Niết Bàn. Pháp của Như Lai ba đời đều như thế”.

Chư Tổ, chư Phật đều dạy giống nhau, là phải THẤY CÁI TÂM. Phần “Bất Lập văn tự, giáo ngoại biệt truyền”, nói về việc ấn chứng và trao Y Bát. Phần này không viết thành văn bản, mà người trước chỉ ấn chứng và trao Y bát cho người sau, để thay mình cầm nắm Chánh Pháp. Các Thiền Sư không hiểu được tầm quan trọng của “Chánh pháp nhãn tạng, Niết Bàn diệu Tâm”, nên không quan tâm đến. Chỉ nhắm vào hiện tượng CƯỜI của Ngài Ca Diếp. Cho rằng nhờ Ngài Cười mà được truyền Y Bát, nên cho Cái Cười đó chính là: “Đốn Ngộ, là “giáo ngoại biệt truyền”. Chính vì vậy nên pháp họ truyền chẳng giống chút nào với việc truyền pháp của Đức Thích Ca. Không dính líu, nhắc nhở gì đến CÁI TÂM, mà cũng chẳng dính dáng gì đến Nụ Cười. Chỉ giao cho đệ tử Quán Công Án. Công Án này đôi khi rất là rất mơ hồ: Là chữ Vô, hay toàn pháp soi ra, nhìn ngoài, đôi khi không liên quan gì đến Phật Pháp.

Sau đây là những Công Án và lời bình của người viết tập này.

Công Án THỨ NHẤT

CON CHÓ CỦA TRIỆU CHÂU

* Công Án:

Một ông Tăng hỏi Hoà Thượng Triệu Châu:

- Con chó có Phật tính không?

Sư đáp:

- Không.

Lời giải:

Một câu hỏi chứng tỏ ông Tăng hoàn toàn "ngoại quang phản chiếu", không giống với con đường “nội quang phản chiếu” mà người tu Phật chân chính cần phải đặt trọn thân tâm để nghiền ngẫm.

Nếu ông Tăng kia đã được Thầy hướng dẫn rằng người tu cần phải "Minh Tâm Kiến Tánh", "Kiến Tánh Thành Phật", để ngày đêm tự Tham, Quán, hẳn phải chỉ nghĩ đến việc đó để hỏi Thầy rằng “Mình có Phật Tánh Không?”. “Muốn Thấy phải làm gì?”. Lại đi thắc mắc chuyện của con chó, không biết nó có Phật Tánh hay không?! Con chó có Phật Tánh hay không can gì đến thầy, giúp gì cho thầy trên con đường tu học đây!?

Phụ Bản I

Ngài Vô Môn cũng đã lạc đề khi bàn giải. Cái Không ở đây là cái "không có Phật Tánh của con chó", không phải là cái Cửa Không của Thiền Môn, vì Cửa Không của Thiền Môn không ăn nhập với câu hỏi và câu trả lời trên đề tài! Vậy mà cũng cho rằng cứ Tham chữ Không này thì có lúc sẽ: "đoạt đao của Đại Quan Vũ, gặp Phật giết Phật, gặp Tổ giết Tổ, dửng dưng với bờ sanh tử, rong chơi trong chốn lục đạo, tử sinh!" Ngay cả thấy được cái KHÔNG của Thiền môn thì liệu có thể rong chơi chốn lục đạo, tử sinh chưa? Bởi Phật dạy: Giai đoạn đầu, vì chúng sinh chấp lầm những Hiện Tướng, gọi chung là cái pháp CÓ, cho đó là thật, rồi tranh dành nhau, tạo nghiệp nên phải Khổ. Vì thế, Ngài phải đưa ra cái thực tướng của các pháp, để chỉ cho con người thấy: Những pháp thấy có vẻ là THẬT CÓ đó, cuối cùng rồi cũng sẽ về KHÔNG.

Nhưng KHÔNG cũng đâu phái là chỗ về của người tu Phật? Vì mọi người vẫn đang tiếp tục sống trong CẢNH CÓ. Phải giải quyết các pháp Có liên quan với cái Thân Giả Tạm, cho đến lúc nó hết Duyên, hết Nghiệp. Đâu phải tu hành, cho rằng Các Pháp là Không rồi vất bỏ cái Thân đi? Vì thế, Pháp cuối cùng mà người tu Phật phải thấy là CON ĐƯỜNG TRUNG ĐẠO, vượt lên cả CÓ và KHÔNG, thì mới đưa đến Giải Thoát. Chưa thấy được Con Đường Trung Đạo mà đã cho rằng mình Thoát Sinh Tử. Đó là chỗ đoạn kiến của đa số người tu Thiền thời xưa.

Rõ ràng, vì không đọc chính Kinh, chưa hiểu rõ lời Phật, nên thầy trò cứ truyền nhau những cái khởi tăng thượng mạn. Không dạy trừ Ngã Chấp, Pháp Chấp lại dạy nhau đi sát ngoại Phật. Chẳng trách càng tu càng thêm lớn cái Nhân, Ngã. Quán việc của con chó thì sẽ hiểu việc của con chó. Sao không Quán về đề tài của Phật, Tổ xem các Ngài đã tu hành như thế nào để Thành Phật? Mình sẽ phải học gì? Hành gì, để gọi là tu hành? Như thế có phải là lợi lạc cho con đường tu hơn không!

Kết luận: Trò ngoại soi, Người Thầy cũng lộ rõ là không hiểu Phật Pháp nên không biết để nhắc nhở cho đệ tử quay vô! Người bàn cũng lạc đề nốt!


CÔNG ÁN THỨ HAI:

CON CHỒN HOANG CỦA BÁCH TRƯỢNG

* Công Án:

Mỗi khi Hoà Thượng Bách Trượng giảng pháp, có một lão già thường theo tăng chúng vào nghe. Chúng lui, lão cũng lui. Bỗng một hôm lão không lui.

Sư bèn hỏi:

- Người nào đứng đó ?

Lão già đáp:

- Thưa tôi vốn chẳng phải người. Xưa, thời Phật Ca Diếp, tôi đã ở núi này, nhân có học tăng hỏi: "Bậc tu hành còn rơi vào nhân quả không? Tôi đáp: "Không rơi vào Nhân Quả". Bèn bị đoạ làm thân chồn hoang năm trăm kiếp. Nay xin Hoà Thượng cho một lời chuyển ngữ để tôi thoát kiếp chồn hoang.

Bèn hỏi:

- Bậc đại tu hành còn rơi vào nhân quả không?

Sư đáp:

- Chẳng mê mờ nhân quả.

Lão già nghe xong đại ngộ, sụp lạy nói:

- Tôi đã thoát thân chồn hoang, còn ở sau núi, dám xin Hoà Thượng xếp đặt cho theo lệ tăng chết.

Sư bảo thầy duy na bạch chùy bảo tăng chúng ăn xong sẽ làm lễ táng tăng.

Tăng chúng đều bàn :

- Mọi người đều an lành. Niết Bàn đường không có ai đau ốm, sao lại có chuyện như vậy?

Dùng ngọ xong, chỉ thấy Sư dẫn tăng chúng đến sau hốc núi, dùng trượng khều ra một xác chồn hoang rồi đem hỏa táng.

Tối đến, Sư thượng đường kể chuyện lại cho mọi người nghe, Hoàng Bá mới hỏi :

- Người xưa vì đáp sai một lời chuyển ngữ mà bị đoạ làm thân chồn hoang năm trăm kiếp. Giả như câu nào cũng không đáp sai thì sao?

Sư nói :

- Lại gần đây ta nói cho nghe.

Hoàng Bá lại gần, tát Sư một chưởng. Sư vỗ tay cười nói:

- Tưởng râu tên Hồ thì đỏ, lại gặp tên Hồ đỏ râu.

Lời giải:

Đây là một bài học của người tu chưa hiểu Phật Pháp mà mang ra giảng cho người. Nếu người nghe, tin rằng "Bồ tát không rơi vào Nhân Quả" rồi tha hồ gây Nhân xấu thì tội đó, nghiệp đó ai lãnh? Chính vì vậy mà người dạy như thế phải đọa tới năm trăm kiếp làm chồn!

Vì "không mê mờ Nhân Quả", nên bậc tu hành vẫn tinh tấn, làm đủ các Hạnh mà không tính đếm những quả vị lớn nhỏ mình sẽ đạt được. Các vị vẫn Làm mà vẫn Giải Thoát vì những công phu tu học như nước từng giọt dần tích tụ sẽ đầy. Kết quả là điều đương nhiên phải đến, tỷ lệ thuận với sức tinh tấn của hành giả, không cần phải chờ đợi, thắc mắc.

Kết luận: Đây là Công Án mà những người giảng pháp nên Tham, vì mục đích là nhắc những người làm Pháp Sư cần thận trọng trong mỗi câu chuyển ngữ khi mang lời Phật bình theo ý phàm. Vì ở địa vị người giảng sư, mọi lời nói dễ làm cho người nghe tin tưởng là đúng, là cần nghe theo, để lấy đó làm khuôn mẫu mà hiểu, mà hành.

Tội chồng mê cho người rất nặng, vì một người nghe, tin rồi truyền cho người khác... Thế hệ trước tiếp nối thế hệ sau…, cứ thế mà nhân lên không có điểm dừng. Vì thế, người đã làm Thầy, khi giảng pháp, mỗi câu chuyển ngữ đều phải cẩn thận tham khảo, đối chiếu với Kinh sách. Thấy chắc chắn đúng thì mới nên phổ biến, để khỏi mang tội khinh pháp, làm lợi ích cho người nghe, và chính mình cũng không bị quả báo.

 

... CÒN TIẾP ...






© Tác giả giữ bản quyền.
. Đăng ngày 08.02.2012 theo nguyên bản của tác giả từ Sài Gòn.
. TRÍCH ĐĂNG LẠI VUI LÒNG GHI RÕ NGUỒN NEWVIETART.COM .