Năm Nhâm Thìn 2012

Đôi Điều Về Triều Nhà Nguyễn
Đổi Chữ “Long” (Rồng)
Thành Chữ “Long” (Thịnh).



Trong văn học Việt Nam, đặc biệt Hán văn, xưa nay chúng ta vẫn hiểu chữ “Long” là “Rồng” ( ) thường dành để chỉ và để gọi danh xưng của bậc đế vương, tức vua chúa, như Long nhan, Lạc long quân…Nhưng riêng ở triều nhà Nguyễn, vua đầu tiên có niên hiệu là Gia Long lại viết chữ Long có nghĩa là Thịnh, chớ không là Rồng nữa.

Rồng trong quan niệm về Tứ linh :

Theo quan niệm truyền thống của Trung Hoa và Việt Nam, rồng là con vật thần linh, mạnh mẽ nhất được con người ngưỡng mộ, yêu quí, tôn thờ. Chuyện con rồng cháu tiên gắn với huyền thoại Âu Cơ - Lạc Long Quân là niềm tự hào chung cho tất cả các dân tộc Việt Nam. Rồng đi vào cuộc sống của con người trong hầu hết các hoạt động sản xuất, kiến trúc, lễ hội, mỹ thuật, thậm chí cả trong miếu mạo, đình chùa… ở phương Đông. Trên cơ sở đó, con rồng đứng đầu trong bốn loài vật tượng trưng cho sự phong lưu, sức mạnh của con người, gọi là Tứ linh. Đó là Long - Ly - Qui - Phụng dịch theo nghĩa tiếng Việt là : rồng, lân, rùa, phượng.

Câu chữ Hán "Long, ly, quy, phụng vị chi tứ linh" 麟鳳龜龍謂之四靈 dịch nghĩa tiếng Việt là : “Long, lân, quy, phụng gọi là tứ linh”. Bốn linh vật này chỉ có rồng và lân là không có thực về hình thái, do tưởng tượng mà ra. Do đó, rồng thường được mô tả dưới nhiều hình dáng và thông qua nhiều con vật liên quan hoặc có hình dáng rồng rắn. (Lân là thú bốn chân có đầu rồng. Múa Lân biến thể thành múa Rồng).

Thế giới có nhiều loài vật được gọi là Rồng nhưng Con rồng Việt Nam được sử dụng nhiều trong trang trí kiến trúc, điêu khắc và hội họa hình rồng mang bản sắc riêng, theo trí tưởng tượng của người Việt. Rồng là con thằn lằn. Nó khác với rồng trong trang trí kiến trúc và hội họa Trung Hoa và ở quốc gia khác. Các di tích về con rồng Việt Nam còn lại khá ít do các biến động thời gian và sự Hán hóa của triều đại phong kiến cuối cùng ở Việt Nam, nhà Nguyễn.

Con rồng ở Việt Nam cũng tùy theo thời kỳ mà kiến tạo. Như hình con rồng thời Lý, thể hiện sự nhẹ nhàng. Còn con rồng thời Trần thì mạnh mẽ hơn, thân hình to và khoẻ khoắn, vì thời Trần 3 lần chống quân Nguyên-Mông.

Rồng trong đời sống tâm linh con người.

Rồng không chỉ là huyền thoại về dòng giống của người Việt mà còn là biểu tượng của thủ đô nước ta. Theo sử biên niên, ngày sáng lập ra triều đại nhà Lý thì có con rồng xuất hiện nên thủ đô có tên là Thăng Long năm 1010. Đó là thời điểm vua Lý Thái Tổ (Lý Công Uẩn) dời đô từ Hoa Lư (Ninh Bình) ra thành Đại La (khu vực Long Biên sông Hồng).

Rồng không những là biểu tượng của vua, của sự thiêng liêng, rồng còn là biểu tượng của thân hình đất nước, nhiều vị trí địa lý được đặt tên “rồng” (Long) dọc theo chiều dài Tổ quốc như : vịnh Bái Tử Long trong vịnh Hạ Long, đảo Bạch Long Vĩ, kinh đô Thăng Long (Hà Nội ngày nay) đến Cửu Long (đoạn cuối của sông Mékong nằm trên vùng đất Nam Bộ chảy ra biển Đông theo hai sông Tiền – Hậu bằng 9 cửa biển. Từ hình dáng chữ S, người ta còn mường tượng đất nước Việt Nam như một con rồng uốn khúc mà khúc đầu là miền Bắc, khúc giữa là miền Trung, khúc đuôi là Nam bộ.

Trong dân gian, xưa nay người ta vẫn gọi hiện tượng cơn lốc xoáy đưa nước từ mặt đất lên trời cao và di chuyển theo chiều gió đã cuốn theo nhiều sinh vật, đồ vật và tạo nên cơn mưa giông dữ dội ảnh hưởng cả khu vực rộng lớn được gọi là “Rồng hút nước”.

Vòi rồng là luồng gió xoáy có sức mạnh phá hoại ghê gớm, có thể cuốn hút các vật nặng hàng tấn, quăng xa vài trăm mét như đàn trâu bò, ô tô, toa tầu, tàu bè, nhà cửa… Trong sản xuất nông nghiệp người xưa tin rằng rồng đen lấy nước thì được mùa, rồng trắng lấy nước thì báo điềm hạn hán (Rồng đen lấy nước được mùa. Rồng trắng lấy nước thì vua đi cầy – ca dao). Thực ra đó chỉ là hiện tượng thiên nhiên. Khi vòi rồng hút nước có mưa lớn, do phản quang ánh sáng mặt trời tạo thành một giải đen. Còn rồng trắng lấy nước thì không phải là vòi rồng mà do cơn giông gió xoáy tạo ra do mây trắng cuộn lại như một cái vòi chứ không có mưa. Năm nào thấy rồng trắng là năm hạn hán, khô cằn.

Triều nhà Nguyễn đổi chữ Long (rồng) thành chữ Long (thịnh)

Từ xưa tới nay, xuất phát từ nguồn gốc của sự tích “Con rồng cháu tiên” mà mà nhân dân Việt Nam lấy chữ Long (rồng) để chỉ vua qua các triều đại từ nhà Tiền Lê (980-1009) cho đến nhà Hậu Lê (1553-1788) : “Kinh Dương Vương làm vua nước Xích Quỷ vào khoảng năm Nhâm tuất (2879 trước Tây lịch) và lấy con gái Động Đình quân là Long nữ đẻ ra Sùng Lãm nối ngôi làm vua xưng là Lạc Long quân. Lạc Long quân con gái vua Đế Lai tên là Âu Cơ, đẻ mợt lần được một trăm người con trai” (Việt Nam Sử lược, Trần Trọng Kim – NXB VH-TT 1999, trang 23).

Vua Lê Đại Hành tức Lê Hoàn chỉ định người con trai thứ ba tên Long Việt làm thái tử nhưng bị em là Lê Long Đĩnh cướp ngôi. Các chữ “Long” này đều viết theo chữ Hán có nghĩa là “Rồng” đúng quan niệm truyền thống “Tứ linh”. Năm 1010, Lý Công Uẩn lên thay nhà Lê dời đô ra thành Đại La thấy hiện tượng “rồng bay lên” nên đặt tên kinh đô mới là Thăng Long. Mặc dù không đặt tên “Long” (rồng) trong các tên vua (niên hiệu) qua các triều đại nhưng chữ này vẫn được viết theo nghĩa “rồng” để chỉ vua như gọi “long nhan” (mình rồng). Tới triều nhà Nguyễn, bắt đầu từ vua Gia Long tức chúa Nguyễn Phúc Ánh (cháu nhiều đời của Nguyễn Kim, Nguyễn Hoàng có công mở đất phương Nam, từ Quảng Bình cho tới Hà Tiên - An Giang) sau khi tiêu diệt triều nhà Nguyễn Tây Sơn (còn gọi là Tiền Nguyễn) lên ngôi vua năm 1802, đặt niên hiệu “Gia Long”. Từ ngữ “Long” này được vua đầu triều Nguyễn tự xưng đã thay đổi hoàn toàn nghĩa và chữ viết. Chữ “Long” (隆)> từ đây có nghĩa là “Thịnh” – Thịnh vượng” chớ không còn chữ và nghĩa là “Rồng” nữa. Chữ “Gia” có nghĩa tốt đẹp.

Trong tập sách chuyên khảo về tỉnh Gia Định (Monographie de la province de Gia Dinh của học giả Trương Vĩnh Ký (Pétrus Ký) xuất bản năm 1902, ở chương 1 đã giải thích chữ Gia Định như sau :”Gia, très beau; Định, repos, paix, fixer – trang 21). Thực ra, chữ Gia đọc trại từ chữ Hốc Nha (tiếng Khmer) một chức quan của triều đình Vương quốc Cambodia (Campuchia), Đinh là tên ông quan mang chức danh Hốc Nha. Chính ông Mạc Cửu cũng được phong chức danh này khi được vua Campuchia cho khai thác vùng Hà Tiên (1708).

Từ quan điểm thay đổi Long (rồng) thành Long (thịnh), vị vua đầu triều Nguyễn đã chủ trương xóa sạch vết tích cả nội dung lẫn hình thức của văn hóa vật thể và phi vật thể “Long” (rồng), trong đó có kinh đô Thăng Long. Việc ông dời đô từ Thăng Long vào Thừa Thiên – Huế ngoài mục đích củng cố nơi phát tích của dòng dõi họ Nguyễn (từ Nguyễn Hoàng) còn nhằm xa lánh nơi dòng dõi ông bị hãm hại (bởi dòng dõi họ Trịnh). Đóng đô ở vị trí trung tâm của đất nước có chiếu dài gần 2.000 km để điều hành quốc gia là lý do đúng đắn. Nhưng xét về mặt lịch sử và tầm vóc của quốc gia trong đối ngoại (vị trí ngoại giao) kinh đô Huế mới (Phú Xuân) chưa phải là có danh nghĩa tốt. Về mặt phong thủy Á Đông, khu vực Thừa Thiên – Huế có nhiều bất ổn về sự phát triển và trường tồn : đất hẹp, người thưa, vị trí kém thuận lợi, nhiều núi, đồi cát…Cho tới ngày nay, tỉnh Thừa Thiên và thành phố Huế vẫn còn mang nhiều tính chất khó khăn cho sự phát triển so với Hà Nội (thủ đô) và Sài Gòn (TP Hồ Chí Minh).

Chắc chắn triều nhà Nguyễn có chủ ý chuyển đồi chữ Long (rồng) sang Long (thịnh) đi đôi với xó bỏ vết tích văn hóa - lịch sử của kinh đô Thăng Long – ngàn năm văn vật. Bằng cớ là sau khi lên ngôi Gia Long đã cho triệt phá kinh thành Thăng Long với nhiều cách thức : đổi tên Bắc Hà thành Bắc thành (hạ thấp vai trò, vị trí của vùng, miền Bắc đối chiếu với Gia Định thành đặt chức Tổng trấn để quản lý, năm Ất sửu (1805), Gia Long cho triệt phá Hoàng thành cũ để xây dựng thành Thăng Long theo kiểu Vauban của Pháp như đã làm ở Gia Định trước đó – thành Bát quái hay Quy, biến đổi nơi đây thành một trấn, chu vi không lớn hơn kinh thành Huế. Ông đã cho tháo gỡ nhiều vật dụng ở hoàng cung đưa về xây dựng cung điện ở Huế.

Tới năm Tân Mão (1831), Minh Mạng thứ 13 chính thức bỏ tên kinh thành Thăng Long, đặt thành tỉnh Hà Nội. Dân chúng bức xúc đặt câu vè như sau :

Chót vót Thăng Long một cột cờ

Kinh thành ngày trước, tỉnh bây giờ.

Năm 1893 tỉnh Hà Nội là thuộc địa của Pháp, tòa Đốc lý Hà Nội ra quyết định phá thành Thăng Long cũ để mở rộng thành phố. Nhà thầu Auguste Bazin trúng thầu phá thành huy động đến hơn 500 công nhân thực hiện công việc phá dỡ. Tới năm 1897, toàn thành Thăng Long cũ hầu như bị san bằng. Như vậy, Gia Long đã mở đầu việc phá thành Thăng Long, còn thức dân Pháp đã kết thúc việc xóa bỏ dấu vết cũ của Thăng Long. Bài thơ sau đây (có người nói của Nguyễn Du) nói lên nỗi đau buồn của người dân kinh thành cũ trước cảnh triệt phá một di tích lịch sử - một kinh đô tồn tại gần 10 thế kỷ :

Núi Tản sông Lô vẫn núi sông

Thăng Long đầu bạc mắt mòn trông

Ngàn năm nhà lớn thành đường cái

Một mảnh thành con lấp cố cung !

Vua Minh Mạng còn ác độc hơn, đã bài trừ tập quán mặc váy của toàn thể phụ nữ miền Bắc lúc bấy giờ. Năm Mậu tý (1828), ông ra chiếu chỉ cấm đàn bà (phụ nữ) miền Bắc mặc váy trong khi từ mấy trăm năm nay, đàn bà kẻ quê lẫn kẻ chợ sinh sống ở miền Bắc và kinh thành Thăng Long đều mặc váy. Thế mà vua Minh Mạng lại ra chiếu bắt phải bãi bỏ. Bài thơ sau đây nói lên tính hài hước của vấn đề :

Chiếu vua Minh Mạng ban ra

Cấm quần không đáy người ta hãi hùng.

Không đi thì chợ không đông

Đi thì bóc lột quần chồng sao đang !

Nói tóm lại, sự trả thù của triều đình nhà Nguyễn đối với nhân dân miền Bắc hết sức nặng nề, ác độc từ di tích lịch sử - văn hóa đến kinh tế - xã hội và phong tục tập quán, từ vật thể đến phi vật thể, bắt đầu từ xóa bỏ hoàng thành Thăng Long đến biến đổi chữ Long – Rồng thành chữ Long – Thịnh vượng và dời kinh đô từ Hà Nội vào Phú Xuân (Huế), đổi thành phố thành tỉnh nhằm mục đích xóa sạch vết tích ở nơi đã từng hãm hại dòng dõi họ Nguyễn. Và sự trả thù này đã bị trả giá rất đắc cho triều đình nhà Nguyễn. Chính Gia Long đã tuyên bố một cách đáng chê trách, rằng :”Trẫm vì chín đời mà trả thù!”. Chín đời chúa Nguyễn được tính từ chúa Nguyễn Hoàng (còn gọi Chúa Tiên), người bắt đầu vào trấn đất phương Nam ở Quảng Bình. Đời chúa thứ 9 là Nguyễn Phúc Thuần đã bị quân Tây Sơn đuổi bắt ở miền Tây rồi đưa về xử trảm ở Sài Gòn năm 1777, nơi miếu Công Thần (nay là khu vực chùa Lâm Tế thuộc phường Nguyễn Cư Trinh Quận 1 TP Hồ Chí Minh). Gia Long tức Nguyễn Phúc Ánh cháu ruột của chúa Thuần sau này đã trả thù Tây Sơn vô cùng thâm độc, sử sách vẫn còn ghi chép. Mộ của ba anh em Tây Sơn đã bị quật lên, đem đầu lâu bỏ vào khám để cho phóng uế. Công chúa Ngọc Hân và hai con đi trốn nhưng bị bắt giết chết và mồ bị quật lên phơi thi thể.

Ngày nay, dưới chính thể mới của Việt Nam độc lập, thống nhất, gần suốt năm 2010, cả nước Việt Nam tổ chức kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long – Hà Nội chẳng những đã khôi phục lại một di tích lịch sử - văn hóa vẻ vang mà còn tô đậm nét kinh đô cũ – thủ đô mới của nước ta từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công dẫn đến sự ra đời của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, chấm dứt chế độ phong kiến của triều đình nhà Nguyễn tồn tại 13 đời vua từ Gia Long đến Bảo Đại (1802-1945).

Nhân năm Rồng – Nhâm Thìn 2012 của chu lỳ 12 con giáp, nhắc lại chuyện Long (Rồng) và Long (Thịnh) ngày xưa âu cũng là dịp để “ôn cố tri tân” một giai đoạn lịch sử nước nhà : Cái gì của César phải trả lại cho César ! Ngành khảo cổ Việt Nam đã khai quật khu vực Hậu lâu cách đây không lâu cho thấy Hoàng cung Thăng Long từ 1.000 năm trước tới nay vẫn còn nguyên đó và được phơi bày cho cả thế giới đều biết sức sống của một đại dân tộc bao gồm trên 54 dân tộc anh em đều có chung nguồn gốc “Tiên – Rồng” với truyền thống dựng nước và giữ nước vô cùng oanh liệt.

_____________________________________________________



© Tác giả giữ bản quyền.
. Đăng ngày 02.02.2012 theo nguyên bản của tác giả chuyển từ Sài Gòn.
. TRÍCH ĐĂNG LẠI VUI LÒNG GHI RÕ NGUỒN NEWVIETART.COM .