ĐỂ MÙA XUÂN
CÒN MÃI NƠI ĐỜI







Có lẽ trên trái đất này không có một tạo vật nào lại thông minh, giỏi giang, xinh đẹp bằng con người. Các sinh vật khác chỉ có sự sống mà không thể nào có được cái trí, cái tài như chúng ta. Chỉ có con người mới có những đức tính nói lên sự hoàn hảo, tinh tế về cách sống: Nhân bản, nhân văn, nhân hậu, nhân nghĩa, nhân đức, nhân từ... mà những ai có được những tính cách này đều được mọi người tôn quý. Trong vũ trụ mà con người đang sống, được người đạo Thiên Chúa cho là do Thượng Đế tạo ra, bởi vì nó trật tự, hùng vĩ, xinh đẹp, hữu tình quá sức tưởng tượng hay sáng tạo của con người. Nhưng con người không chỉ dừng ở đó để chỉ chiêm ngưỡng và bái phục, mà cũng góp tài trí của mình để điểm tô thêm và sáng tạo thêm, cho cuộc sống ngày càng tốt đẹp hơn lên bằng phương tiện khoa học, kỹ thuật hiện đại mà ta thấy: Chỉ cần 1 cú nhắp chuột là nắm được thông tin toàn cầu, tán gẫu với bạn bè, làm quen với những người xa lạ trên toàn thế giới. Muốn nghe nhạc, học hỏi bất cứ điều gì đều có thể tìm được trên chiếc máy Vi tính nhỏ bé. Con người không ngừng học hỏi, sáng tạo, nên từ rất nhiều năm qua, núi cao, biển lớn, sông dài đã không còn là một trở ngại lớn không thể vượt qua. Họ chinh phục không gian bằng máy bay, đại dương bằng tàu, thuyền. Họ cũng tìm ra nguồn năng lượng để thắp sáng, sưởi ấm, vận hành máy móc, chế tạo ra bao nhiêu tiện ích khác. Về phương diện Y Học, con người cũng không bó tay chờ chết khi lâm bịnh, mà các nhà Khoa Học cũng nghĩ ra những phương pháp cắt bỏ những tế bào bịnh, thay thận, thay tim, ghép giác mạc, thụ tinh trong ống nghiệm… Đó cũng là một loại thần thông biến hóa của con người, mà tín đồ của bất cứ tôn giáo nào cũng phải nhìn nhận.

Con người tuy nhỏ bé, yếu đuối, nhưng hung dữ, thâm độc còn hơn hùm beo, rắn rít, cộng với sự thông minh và sáng tạo, nếu cứ để tự do phát triển mà không hướng thiện có ngày sẽ tranh giành, tàn sát nhau, đưa đến diệt vong. Vì thế mà các tôn giáo đã ra đời để đưa họ vào khuôn khổ. Có hai tôn giáo được cho là có ảnh hưởng lớn nhất trên toàn thế giới, đó là Thiên Chúa Giáo và Phật Giáo. Lý thuyết của hai vị Giáo Chủ có vẻ rất khác biệt, nguồn gốc cũng hoàn toàn khác biệt. Một Chúa Giêsu, nói mình là Ngôi Hai, một trong 3 vị Thiên Chúa ở cõi trời, giáng trần một cách hèn hạ trong máng lừa để cứu rỗi cho loài người, và sau đó, cũng chính loài người đã sát hại Ngài! Một Đức Phật Thích Ca, xuất thân là một Thái Tử, nhìn cảnh khổ của con người rồi phát tâm đi tìm cách Thoát khỏi những thảm cảnh đó. Cho đến khi khám phá ra được rồi thì suốt đời còn lại, Ngài đã dùng mọi cách để truyền bá phương pháp mà ai tin, thực hành theo sẽ có được một cuộc đời sống an, chết lành. Mọi lời hứa hẹn khác đều chỉ là phương tiện mà những người không đọc kỹ chính Kinh thường hay nhầm lẫn để suy tôn Ngài thay vì thực hành theo đó.

Với Đạo Thiên Chúa, sau khi đưa ra Thiên Đàng, Địa Ngục là hai sự thưởng phạt mà mọi người sẽ đối diện sau khi chết để cho biết: Người Thiện Tâm sẽ được về nước Chúa sau khi chết. Muốn vậy, khi sống phải giữ Mười Điều Răn của Chúa, 6 Điều Răn của Hội Thánh, nhưng tóm lại chỉ là “Trước kính mến một Đức Chúa Trời trên hết mọi sự. Sau lại yêu người như mình ta vậy” . Một công thức đơn giản mà xem ra cũng ít người thực thi trọn vẹn.

Đạo Phật thì cũng nói Niết Bàn, Phật Quốc, Tây Phương Cực lạc, cho những người sống thiện, và Địa ngục cho những người chơn ác tâm. Nhìn chung ta thấy, phải chăng dù hai giáo pháp, xuất phát từ hai vị Giáo Chủ, một bên Đông Phương, một bên Tây Phương. Lý thuyết có vẻ khác biệt, nhưng mục đích hình như chỉ có một: Là giáo hóa con người để bớt đi cái ác.
Nhiều người do sự hiểu biết hạn chế đã khích bác tôn giáo không cùng chính kiến với mình, không biết rằng là các Ngài đều là sứ giả, rao giảng về ĐIỀU THIỆN, dùng sự thưởng, phạt để con người bớt làm ác, bớt hại nhau để cuộc sống được tốt đẹp hơn lên. Thế nhưng cũng có rất nhiều người hiểu lầm, chỉ siêng đi nhà thờ, đọc Kinh, cầu xin mà bỏ quên điều kiện bắt buộc là KÍNH CHÚA thì phải YÊU NGƯỜI. Mọi người đều được dạy là tất cả mọi người đều là con của Thượng Đế, được Ngài yêu thương như nhau. Như vậy, ta thử nghĩ: Có khi nào ta lại mở rộng cửa và hoan hỉ tiếp rước một người đánh đập hành hạ, chèn ép, lừa đảo, không đối xử tốt với con mình? Xét từ lòng yêu thương con cái, thì quân dữ chỉ hành hạ Chúa trong một lần duy nhất khi đưa Ngài treo lên cây Thập Giá và dùng lưỡi đòng đâm vào tim Ngài, thì chúng ta một đời hành hạ Ngài bằng cách bắt Ngài chứng kiến cảnh con cái của Ngài bị ngược đãi! Dù Thượng Đế nhân từ vô cùng, nhưng những lời Ngài dạy đã trở thành Điều Răn, không được vi phạm, mà chúng ta hết lần này đến lượt khác, luôn làm trái ý Ngài, thì lúc chết sao xứng đáng để đòi vào nước của Ngài?

Bên phía tín đồ của Đạo Phật cũng thế. Một số do quá tưởng tượng và sùng bái hình ảnh Phật được mô tả trong Kinh, rồi không chịu đọc kỹ, để thấy rằng 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp của Phật không phải để dùng vàng, bạc, đồng gỗ tạc để thờ, mà để mọi người lấy đó làm mẫu rồi tự mình bắt chước làm theo, để bản thân cũng có được. Xin đơn cử vài Tướng Tốt của Phật được trích trong Kinh ĐẠI PHƯƠNG TIỆN PHẬT BÁO ÂN:

Tướng thứ nhất là BÀN CHÂN BẰNG PHẲNG, ta thấy Kinh viết: “Như Lai đã từng trong vô lượng A Tăng Kỳ kiếp dốc lòng tu trì TỊNH GIỚI, cho nên nay mới được cái TƯỚNG BÀN CHÂN BẰNG PHẲNG”. Tướng thứ hai là BÀN CHÂN CÓ NGHÌN XOÁY ỐC, Kinh viết: “Nhờ sự cúng dàng cha mẹ, Hòa Thượng, Sư trưởng và các bậc có đức, cho nên được TƯỚNG NGHÌN XOÁY ỐC DƯỚI BÀN CHÂN”. Tướng thứ 3 là NGÓN TAY DÀI VÀ NHỎ, Kinh viết: “Đối với chúng sinh không mang lòng làm hại, không có ý tưởng cướp đoạt, hễ thấy cha mẹ, Hòa Thượng, Sư Trưởng và các bậc có đức thì ra xa đón chào, sửa đặt tòa ngồi, cung kính lễ bái, dẹp bỏ lòng kiêu mạn, nhờ thế mà nay được TƯỚNG NGÓN TAY DÀI VÀ NHỎ”. Có đủ ba hạnh kể trên, nên được TUỚNG GÓT CHÂN ĐẦY ĐẶN”. Những tướng còn lại cũng thế. Chỉ là : “hiếu kính cha mẹ, Sư Trưởng và những bậc có đức, giúp người, dẹp bỏ lòng kiêu mạn, không nói lưỡi hai chiều, hòa giải những cuộc tranh chấp, tu sạch ba nghiệp, giúp đỡ người nghèo, bố thí” vv…

Những TƯỚNG đó có được là kết quả của những việc mà con người cư xử với nhau, thì làm sao có thể dùng vàng, bạc để tạc được, và chỉ dùng đó để thờ thì được lợi ích gì? Rồi thì Kinh là những bài giảng và lời của Phật dặn dò những việc phải làm: nào là phải Từ, Bi, Hỉ, Xả, nào là Bát Chánh Đạo. Rồi thì Bát Nhã Tâm Kinh, dạy người tu phải “Hành thâm” bằng cách Quán Sát cái Ngũ Uẩn, để thấy nó chỉ là Không, để bớt đắm nhiễm vào nó, thì sẽ hết Khổ. Nhưng các Đệ tử của Ngài thay vì làm theo đó thì lại mang ra mà tụng, gia thêm chuông, mõ, chập chõa, phèng la… bắt Ngài phải nghe đi nghe lại mỗi ngày mấy lượt, thì liệu có phải là phỉ báng Ngài hay không?

Về hình ảnh Đức Phật ngồi trên Tòa Sen đâu có phải là điều gì quá cao siêu mầu nhiệm, hiển linh, mà chỉ là hình ảnh tượng trưng của một vị nhờ tu sửa Thân, tâm, làm những hạnh lành, nên đạt được kết quả là được Giải Thoát Phiền Não, sống giữa phiền não mà không còn bị phiền não làm ô nhiễm. Cái Giải Thoát phiền não giữa phiền não được ví như Hoa sen, vươn lên từ bùn mà không nhiễm mùi bùn. Cho nên Đạo Phật đã dùng hình ảnh của Đức Phật Ngồi trên đài Sen, tượng trưng cho ý nghĩa đó. Nếu người thật, ngồi trên đài Sen thật thì Hoa Sen nào mà có thể đủ to, đủ sức để chứa một người ngồi lên mà không gãy nát hoặc bẹp dúm? Cho nên nếu con người tạc lấy, rồi nhìn ngắm như một biểu tượng, một tấm gương sáng về sự Giải Thoát để học hỏi, làm theo thì nên, còn để thờ thì coi chừng làm oan cho Phật. Bởi vì Ngài dạy: “Chúng sinh là Phật sẽ thành” , tức là mọi người sẽ làm được như Ngài, đâu có Kinh nào, chỗ nào dạy phải tôn thờ Ngài?

Như vậy, phải chăng nếu suy cho cùng thì ta thấy có rất nhiều điểm trùng hợp trong Giáo lý của hai tôn giáo:

- Nếu Đạo Thiên Chúa cho rằng Thiên Chúa là “Đấng trọn tốt, trọn lành”, là Đàng, là Sự sống, là Sự Thật, thì bên Đạo Phật, Phật là Chân, Thiện, Mỹ.

- Bên Đạo Thiên Chúa nói rằng mọi người đồng là con của Thượng Đế, trong mỗi người đều có hình ảnh Chúa ngự trị trong lòng, thì bên Phật giáo nói rằng “Mỗi chúng sinh đều có Phật Tánh, đều là Phật sẽ thành” , dạy người tu phải hành hạnh Thường Bất Khinh Bồ Tát, vì tất cả mọi người đều là Phật sẽ thành.

- Điều Răn của Đạo Thiên Chúa và Giới của Đạo Phật có nhiều điểm rất giống nhau: Không giết, không tham lam, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối.

- Đạo Thiên Chúa cho rằng “Con người là tro bụi, sẽ trở về với bụi, tro”, thì Đạo Phật cho rằng cái Thân con là Tứ Đại (Đất, Nước, Gió, Lửa) hợp thành, hết duyên sẽ trả về cho Tứ Đại.

- Đạo Thiên Chúa nói rằng Chúa “công bình tuyệt đối”, thì Đạo Phật có Luật Nhân Quả không thiên vị.

- Hai tôn giáo đều dạy làm lành lánh dữ và nói về sự thưởng, phạt sau khi chết. Người lành được lên Thiên Đàng hay về Tây Phương Cực Lạc, người ác phải đọa Địa Ngục.

- Khi một người làm ác thì bên Thiên Chúa cho là bị quỷ xúi dục, bên Đạo Phật cho là đã làm theo “Chúng sinh tánh”, hay “Phàm tánh”.

Cái khác nhau giữa hai sự mô tả, thì bên Đạo Thiên Chúa cho Quỷ là một thứ ở bên ngoài con người, nhưng Đạo Phật cho nó chính là tư tưởng của mỗi người, là một loại tư tưởng chưa được cải tà quy chánh.
Nhưng chung quy, Ma Quỷ hay Phàm Tánh đều là những cái xấu, đối đầu với cái Thiện, cái thanh tịnh, trong sáng mà hai tôn giáo đều hướng tín đồ mình tới đó. Rõ ràng hai bên như hai nhóm người leo lên cùng một đỉnh núi, nhưng nhóm leo sườn bên phía Đông, nhóm leo sườn phía Tây, đâu thể nói rằng phía này mới đúng, phía kia là sai, trong khi đích đến là đỉnh Chân, Thiện, Mỹ như nhau?

Con người thì có đủ thứ xu hướng, vì thế, tôn giáo cũng phải đa dạng để thích nghi. Nhưng những tôn giáo chân chính đều dạy tín đồ cải tà, quy chánh, cải ác, hành thiện. Nếu ta đừng nhìn tôn giáo qua hình ảnh của vị sáng lập, mà chỉ nhìn mục đích mà họ hướng con người tới thì sẽ thấy rằng cuộc đời đã quá nhiều buồn đau bởi những điều bất như ý. Nào là được, mất, hơn, thua, ốm đau, những cuộc sinh ly, tử biệt, những làm ăn thất bại làm cho con người luôn mệt mỏi vì đối đầu. Nếu không có những lời đe dọa bị trừng phạt ở một kiếp sau, hẳn là người ác sẽ lộng hành, cuộc đời sẽ hỗn loạn thêm biết bao nhiêu! Và làm gì để cho con người bớt đi cái ác, nếu không nói về sự ban thưởng để khuyến thiện? Một khi con người bỏ đi cái ích kỷ, ác độc thì sẽ sống tốt với nhau để xã hội thêm trật tự, gia đình thêm hạnh phúc. Bởi liệu các vị Giáo Chủ có hài lòng khi thấy tín đồ của mình tay này bỏ hàng núi tiền để xây Nhà Thờ, cất Chùa cho hoành tráng, tạc tượng các Ngài cho uy nghi, lộng lẫy, mà tiền đó chưa hẳn là do kiếm được một cách lương thiện. Trong khi đó, tay kia lại tàn phá thiên nhiên là rào chắn mà các Ngài đã dựng ra để ngăn lũ lụt làm hại các con của Ngài? Chúng ta thấy hàng năm, cứ mùa mưa đến là có nhiều nơi rơi vào tai ách. Người chết, nhà cửa, đồ đạc, gia sản ít ỏi để sống qua ngày cũng bị cuốn theo dòng nước mà lời than khóc chẳng thấu đến trời cao! Kẻ tạo ra tội ác đó chẳng nặng còn hơn phá Chùa sao? Rồi thì khi Bố Thí, nhiều người cũng chọn nơi nào mà đồng tiền được hứa là sẽ nhân lên gấp 100, gấp 1000 lần mà không thấy lời Phật dạy: “Nếu người thí chủ dùng tâm bình đẳng thí cho một người ăn xin rất hèn hạ, xem như tướng phước điền của Như Lai, không phân biệt, lòng đại bi bình đẳng, không cầu quả báo, đó gọi là đầy đủ pháp thí vậy” (Duy Ma Cật tr. 69) Sao không nhìn thấy những người hạ tiện, khốn cùng kia cũng là các con của Chúa, của Phật, nhưng đang còn bị đày đọa có thể vì tiền oan nghiệp chướng nào đó, để giúp họ như gián tiếp giúp các Ngài, và coi việc tàn phá thiên nhiên như phá cảnh quang của nhà các Ngài, bóc lột đồng loại là bóc lột con của các Ngài để dừng tay kịp lúc?

Mệt mỏi với những bon chen quanh năm, điều con người mong ước là được những ngày tháng xả hơi, nghỉ ngơi hoàn toàn, thăm viếng, chúc tụng nhau, cùng thưởng thức những món ngon, cùng vận những bộ cánh đẹp nhất, nhà cửa được trang hoàng lộng lẫy nhất, không còn những đấu đá, đối đầu của ngày thường, mà lòng ai cũng phới phới trong thời tiết hiền hòa, cây cối đâm chồi, nẩy lộc. Những điều đó gom lại làm thành những Ngày Xuân. Và như thế, những gì mà các tôn giáo chân chính mang lại, phải chăng là để Mùa Xuân Còn Mãi Nơi Đời? Bởi nếu cho rằng đây chỉ là CÕI TẠM để chỉ mơ màng một cõi Vĩnh Hằng nào đó, mà quên rằng Cõi Tạm này cũng kéo dài cả 100 năm, mọi người vẫn phải sống ở đó. Sao không tiếp tay xây dựng mà lại thờ ơ hay tìm cách để hủy hoại đi, miễn là có lợi cho mình?

Ai cũng đều biết câu: “Cây xiên bên nào thì ngả bên đó” , để nói về ảnh hưởng về sau của những việc ta làm khi đang sống. Chính những cách sống ngày thường của mỗi người là những viên ngọc quý hay hoa thơm, cỏ đẹp, hoặc là những sỏi đá, gai góc để hình thành Cõi Vĩnh Hằng mà ta sẽ về, vì những việc lành, dữ đều không mất. Khi về trình diện với Thượng Đế, mỗi người đâu có mang theo của cải hay chức vụ, địa vị đã tạo dựng. Chắc chắn Thượng Đế sẽ không có hỏi lúc sống ta học được bao nhiêu bằng cấp? Đi Nhà Thờ bao nhiêu lần? Viếng được bao nhiêu kiểng Chùa? Tụng được bao nhiêu biến kinh? Mà sẽ hỏi về những điều Thiện mà ta đã làm, những gì ta đã đóng góp cho cuộc đời.

Các vị Giáo chủ đã đi xa, nhưng hình ảnh tôn quý, những đức tính cao đẹp, những lời khuyên dạy hữu ích vẫn trường tồn để con người làm mốc mà noi theo. Điều Răn, Giới Luật là những rào cản đạo đức để gìn giữ cho con người không rơi vào ác đạo. Bằng cách nâng con người trở thành Con của các Ngài, để người yêu quý các Ngài sẽ yêu thương nhau. Tình Thương được nhen nhúm trong những cái Tâm con người, sẽ mãi nhân lên, xua tan những đen tối, xấu xa làm vẩn đục cuộc sống, để suốt kiếp sống dù ngắn hay dài của mỗi người sẽ là những Mùa Xuân ấm áp cho cuộc đời. Người Cho sẽ thấy hạnh phúc vì được mang niềm vui của mình san sẻ. Người Nhận thấy đỡ buồn tủi vì không còn đơn độc, muốn phấn đấu vươn lên nhưng truyệt vọng. Chút vốn nhỏ nhoi mà tưởng chừng như vượt quá tầm tay, giờ bàng hoàng mở lòng đón nhận những bàn tay ấm áp đang chìa ra, vực mình lên trong hoàn cảnh bi đát nhất, để thêm tin tưởng rằng Thượng Đế không bỏ rơi họ! Những con người bình thường phút chốc như lung linh ánh hào quang, hóa thân thành Thiên Thần, Bồ Tát đang tầm thinh cứu khổ cứu nạn. Lời cầu xin như đã được Thượng Đế nghe thấu. Thay cho những giọt nước mắt tủi hờn là những dòng lệ xúc động nghẹn ngào vì được cảm thông. Hạnh phúc hiển nhiên mà tưởng chừng như trong mơ! Số vốn ít ỏi mà trở thành liều thuốc hồi sinh cho cuộc đời còn lại của cả một gia đình! Đệ tử của Lưu Linh chỉ cần bớt đi một đêm nhậu. Người giàu có bớt đi một chút hưởng thụ xa hoa, là giúp được bao nhiêu hoàn cảnh đáng thương như thế!

Nếu thật sự Thượng Đế như mô tả, là: “Đấng thông suốt, thấy hết mọi việc” thì hẳn Ngài cũng sẽ hạnh phúc biết bao khi thấy các con mình biết yêu thương, đùm bọc với nhau. Đó là sự thực hành mà Ngài dành cho con người đóng góp phần của mình để nói lên lòng yêu kính Ngài, bởi Ngài đã quá vinh quang, cần gì ta phải ca tụng?

Chưa hết, chữ nghĩa trong Kinh sách đôi khi mang tính ẩn dụ: Nếu “Phật Tánh”, hay “Chúa” vẫn ngự trong mỗi con người chúng ta, thì phải chăng, khi “Phật diệt độ” hay “Chúa chết” cũng mang ý nghĩa là người nào đó đã mất đi ánh sáng hay sự thánh thiện, thanh tịnh của Thượng Đế, của Phật trong họ, để cho bóng tối của đố kỵ, độc ác ngự trị? Và sự Phục Sinh của Chúa, Phật trở lại nơi đời trong mỗi người, có thể là lúc họ dũng cảm xua đi bóng tối, để sự thánh thiện, thanh tịnh lại quay về nơi cái tâm của họ chăng? Và “nhà tạm” mà Chúa ngự trong đó, chắc gì là trong ngăn tủ khóa kín trên bàn thờ? mà có thể là ngay tại trong lòng của mỗi người chúng ta. Vậy mà biết bao lần chúng ta đã lấy lửa hận thù, đố kỵ, để thiêu đốt Ngài!

Mỗi năm một lần, người Phật Tử tưng bừng mừng Lễ Phật Đản với hoa đăng, cờ xí rợp trời. Người Thiên Chúa giáo háo hức dựng cảnh hang đá, máng lừa, mục đồng, để chờ đợi và đón mừng Chúa Giáng Sinh. Trong khi đó, quanh năm, biết bao lần Chúa, Phật đã phải tức tưởi dọn ra khỏi tâm hồn ta để ta trân trọng thỉnh ma quỷ vào ngự trị trong đó! Sao không giữ lòng mình cho thanh sạch để Chúa, Phật sẽ ngự mãi, để “nên một” với các Ngài? Câu “Phật trong nhà không thờ, đi thờ Thích Ca ngoài ngõ” để nhắc những người Phật Tử là mỗi người có cha, mẹ là Phật Thích Ca, Di Lạc đang ở trong nhà, cần nên phụng dưỡng, kính trọng. Phước đức đó còn lớn hơn là cúng chùa, cúng Phật. Nhưng mỉa mai thay! Nhiều người đối xử tệ bạc với cha mẹ, lại sẵn sàng mang tiền bạc, hương hoa đến Chùa để cúng cho hình tượng của Ngài! Câu “Âm phủ dương gian đồng nhất lý” nói về Địa Ngục, Thiên Đàng đã hình thành ngay khi mỗi người còn sống, đâu phải chờ lúc chết mới hiện ra?

Nói về Luật Nhân Quả và sự Công Bình của Thiên Chúa thì chúng ta thấy rằng nếu ai tin rằng những người làm ác cả đời, khi chết cũng sẽ về Tây Phương Cực Lạc, về Nước Chúa, chỉ cần thỉnh Thầy tụng Kinh Cầu Siêu, hay nhờ Linh Mục dâng lễ, thì rõ ràng đã hiểu sai hoàn toàn. Bởi đã nói “Công Bình Vô Cùng” thì phải hiểu rằng không có việc miễn giảm. Nợ là phải trả. Tội là phải đền. Ngôi Trời, Ngai Vàng mà các Ngài còn bỏ thì sá gì vài nải chuối, chút hương hoa lại phải thay đổi luật lệ của mình đã đặt ra sao? Có thay đổi được chăng là chính bản thân người làm tội phải sám hối và sửa đổi ngay khi còn sống, đừng cố tình vi phạm rồi nghĩ rằng đã có người bảo kê sau khi chết, Thượng Đế nhân từ vô cùng sẽ nhậm lời cầu xin để tha thứ cho! Không thể nào có việc như vậy. Bởi nếu như thế không khác nào khuyến khích người đời làm loạn, tha hồ cướp bóc, lừa đảo, hại người, cuối cùng rồi thì cũng về Thiên Đàng. Nếu thế thì Thượng Đế sẽ trả lời thế nào với những người một đời sống lương thiện? Và có lẽ luật Công Bình, Nhân Quả cần phải sửa đổi lại, vì chẳng còn ai tin vào đó nữa! Đôi khi tín đồ hai bên thường hiểu lầm, tưởng rằng một khi đã “Rửa Tội” hay “Quy Y Tam Bảo” là cầm chắc chiếc vé lên Thiên Đàng hay về Tây Phương Cực Lạc, rồi sống buông thả, chờ mong chờ vào sự cứu độ hay cứu rỗi của các Giáo Chủ mà quên rằng các Ngài chỉ cứu rỗi ta bằng cách đưa ra Giáo Pháp để ta làm theo, không phải là để chúng ta tôn thờ, ca tụng các Ngài rồi đương nhiên các Ngài sẽ đưa về nước của mình! Bởi nếu dễ dàng như thế thì các Ngài còn đặt ra Điều Răn hay Giới làm gì? Chỉ cần bảo thờ phụng các Ngài thôi là đủ rồi!

Ngày ngày đi ngang qua Chùa hay Nhà Thờ ta đều nghe vọng ra những lời cầu xin, mà không biết rằng để được nhậm lời hẳn phải có thành ý gì đó để đáp ứng. Muốn Chúa “nới tay”, mà ta đã ngừng tay móc túi, bóp cổ đồng loại bằng hàng gian, hàng giả, lường công, tráo đấu chưa? Cầu Phật Độ cho gia đình ta đừng gặp vận rủi, con cái ngoan, giỏi, được thăng quan, tiến chức mà tâm ta không chịu rời việc ác, cứ tàn phá thiên nhiên, rút ruột, xén bớt công trình! Có bao giờ ta cầu xin cho người nghèo bớt Khổ hay chỉ xin cho mình? Nhà đã có thì xin biệt thự, xe hơi! Ghế đã cao còn muốn ghế cao hơn! Chúa, Phật sẽ cho bao nhiêu ta mới vừa lòng? Cũng đừng nghĩ rằng chuyện “Giu-đa bán Chúa” chỉ có trong Phúc Âm. Một đời chúng ta bán Chúa biết bao lần bằng cách sống bất nhân bất nghĩa để người ngoài nhìn vào đánh giá tôn giáo của mình đang theo! Những “con trùng trong thân sư tử, ăn thịt sư tử” cũng chẳng phải chỉ ở trong kinh sách, mà chính là những Phật Tử với lối sống đạo đức giả, chỉ biết đi Chùa, tụng Kinh mà tâm địa xấu xa, dối trên, lừa dưới, hay những kẻ khoác áo tu hành nhưng chẳng phải vì để cống hiến cuộc đời phục vụ đạo pháp, mà để hưởng dụng của thường trụ, khỏi phải vất vả bon chen kiếm sống. Bởi đâu có thật tâm tu hành, nên đạo chẳng học, đức chẳng tu, lời Phật dạy trong Kinh chẳng chịu đọc kỹ, chỉ “Y Kinh giải nghĩa”, truyền bá mê tín, dị đoan, chồng thêm mê cho người khác! Cho nên, chỉ cần chúng ta sống đúng theo lời Chúa: Kính Chúa, Yêu người, hoặc lời Phật: Từ, Bi, Hỉ, Xả. Mọi người sẽ tùy theo nhiệm vụ, khả năng của mình mà đóng góp cho xã hội và luôn tôn trọng, yêu thương và giúp đỡ nhau, thì trần gian sẽ bớt đi thảm cảnh rất nhiều. Tâm bình, thế giới bình. Nếu mọi người cùng ý thức cõi trần này là cõi tạm, vật chất là phù du, việc lành dữ không mất, để không còn tranh giành, cao thấp, hơn thua, đố kỵ với nhau, và cùng sống an lành cho đến khi hết kiếp, thì ngày nào chẳng là ngày Xuân, đâu phải mỗi năm chỉ diễn ra vỏn vẹn có mấy ngày? Cảnh sống như thế phải chăng là mơ ước của các vị Giáo Chủ khi xuống trần, mà chính Chúa cũng đã phải chịu đổ máu mình ra để giáo hóa chúng ta? Có vậy mới xứng đáng mang danh là Đệ Tử của các Ngài vậy.

 
______________________________________________

(tháng 12/2011)





© Tác giả giữ bản quyền.
. Đăng ngày 08.01.2012 theo nguyên bản của tác giả từ Sài Gòn.
. TRÍCH ĐĂNG LẠI VUI LÒNG GHI RÕ NGUỒN NEWVIETART.COM .