Ảnh của Duy My

- Du Lịch Nam Cát Tiên –
Về Với Di Tích của
Vương Quốc Phù Nam Một Thời Để Nhớ.



Năm 2011, tôi có hai chuyến du khảo về nguồn thú vị đáng ghi nhớ từ miền đông đến miền tây Nam Bộ tức về vùng đất đỏ miền Đông thuộc khu vực sông Đồng Nai và vùng đồng bằng đất đen miền Tây thuộc lưu vực sông Cửu Long. Một ở vùng cao và một ở vùng thấp của miền Nam.

Ở miền Tây Nam Bộ, tôi có một lần đến vùng U Minh và một lần tới đất mũi Cà Mau. Sau đó, tôi tổ chức buổi nói chuyện tại Cung văn hóa lao động thành phố Hồ Chí Minh về đề tài “Văn minh U minh miệt thứ và Cà Mau đang phát triển”để so sánh với “Văn minh miệt vườn” của cố nhà văn Sơn Nam nói về vùng đất mới trỗi dậy từ những năm trước 1945-1954. Còn “U minh miệt thứ”của tôi lại nói về vùng đất sinh sau đẻ muộn – kém phát triển và bắt đầu xây dựng sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng và đất nước thống nhất sau 30/4/1975.

Từ miền đông tới miền tây Nam bộ, đất Gia Định xưa và Sài Gòn cách đây trên 300 năm, kể từ Thống suất Nguyễn Hữu Cảnh theo lệnh chúa Nguyễn tới đất Gia Định khai mở Sài Gòn- Chợ Lớn được đánh dấu từ cột mốc lịch sử mùa xuân năm 1689 để lập Phiên trấn dinh tổ chức nền hành chính sơ khai quản lý vùng đất mới. Từ đó cho tới năm 1802 vua Gia Long lên ngôi lập ra triều nhà Nguyễn, đất nước ta mới có tên Việt Nam, nối liền một dải từ cửa Nam quan (Trung Quốc) tới mũi đất Cà Mau, có chiều dài nằm dọc theo bờ biển gần 3.600 km congcong hình chữ S, diện tích cả nước rộng chừng 312.000 km2 (theo Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim biên soạn năm 1919 và xuất bản lần thứ nhất năm 1921)tới năm 2004 tính lại được 330.991,5 km2 (theo Tập bản đồ hành chính xuất bản tháng 11/2004).

Chiều dài đất nước ngày một mở rộng phần lớn nhờ vào bãi đất mũi Cà mau được bồi đắp bằng phù sa sông Cửu Long phát nguồn từ Tây Tạng (Trung Quốc) chảy ra 9 cửa biển. Bãi bùn của Mũi phía đông được bồi đắp hàng ngày do thủy triều đưa lượng lớn phù sa 1ắng đọng tắp vào bãi bùn mà hình thành mũi đất. Nhưng mấy năm gần đây, biển đông dậy sóng dữ dội đã tàn phá cái mũi đất này làm cho có đoạn bị đứt ra. Hiện nay ngành chức năng đã có biện pháp chống giữ bằng cách cắm cọc và đổ đá xây kè bờ biển khu vực này.

Trong khi đó, khu vực bờ biển phía tây thuộc vịnh Thái Lan từ đất mũi tới Hà Tiên có bờ biển thẳng đứng qua hằng thế kỷ không thay đổi do dưới chân có đường nứt gãy sâu. Trên bờ là rừng nguyên sinh cả khu vực U Minh được Nhà nước bảo vệ gọi là Vườn quốc gia U Minh.

Tôi xin quay trở lại vùng miền đông đất đỏ nơi hình thành khu rừng nguyên sinh Cát Tiên. Cát Tiên chia làm hai khu : phía bắc sông Đồng Nai (thuộc tỉnh Lâm Đồng) và phía nam được gọi là Nam Cát Tiên thuộc tỉnh Đồng Nai.

Rừng Quốc gia Nam Cát Tiên

Nam Cát Tiên là tên gọi một vùng đất nằm gọn trong đoạn uốn khúc của sông Đồng Nai (Đồng Nai thượng) , tọa lạc ngay trên ranh giới của cả 3 tỉnh Đồng Nai, Bình Phước và Lâm Đồng. Khu rừng cấm Nam Cát Tiên là phần chót và cao nhất của huyện Tân Phú (Đồng Nai) có diện tích 36.000 ha, đại diện cho cả hệ thực vật và động vật Nam bộ.

Khu rừng có cảnh thiên nhiên đa dạng: vừa có đồi vừa có bãi ven sông, vừa có các trảng rộng lớn bằng phẳng, lại có các dòng chảy dốc. Vào mùa mưa các dòng suối hiền lành trở thành các dòng thác, nước đổ trắng xóa trên các triền đá lớn. Nhiều đoạn thác quanh co, lượn khúc tạo ra những bãi cát vàng rộng như các bãi tắm tự nhiên. Tục truyền, nơi đây có nàng tiên thường xuống hạ giới để vui đùa và tận hưởng dòng nước trong mát, khu vực nằm ở phía nam sông Đồng Nai nên được gọi là "Nam Cát Tiên".

Giữa dòng sông rộng lớn nổi lên các hòn đảo chạy dài theo con nước. Trên đảo, cây cổ thụ mọc xen với đám cỏ rộng có thể làm nơi cắm trại, đốt lửa đêm lý tưởng. Dọc ven sông, theo lộ chính về phía tay trái là toàn bộ các kiểu rừng già, hỗn giao của các loại cây quí: gõ, giáng hương, trắc, cẩm lai, gụ... Bên phải của con đường rừng là thác trời, một ghềnh thác kỳ thú nhất của Nam Cát Tiên. Tiếp tục băng rừng, qua các thung lũng sâu sẽ đến Bàu Sấu, nơi chứa nước rộng nhất, nằm ở khu tâm của rừng cấm Nam Cát Tiên. Lòng Bàu Sấu chứa nhiều loại cá, đặc biệt có cả cá sấu nước ngọt. Ven Bàu là nơi tập hợp của các loài chim lớn như công, trĩ, gà lôi, sến, giang, mòng két, le le, cù đen...

Nam Cát Tiên không những có cảnh tham quan ngoạn mục, lại nằm trong khu vực chuyển tiếp của khí hậu miền núi và đồng bằng nên Nam Cát Tiên có một dạng khí hậu độc đáo. Cùng với địa hình có nhiều sông suối bao bọc làm cho khu rừng già vừa được giư õnguyên vẹn vừa trở thành nơi qui tụ hầu hết các kiểu rừng đồng bằng Nam bộ. Đây là khu rừng nguyên sinh tiêu biểu cho hệ sinh thái rừng ẩm nhiệt đới vùng thấp. Rừng có nhiều cây cổ thụ như bằng lăng, gỗ đỏ; hơn 600 loài thực vật, hơn 100 loài cây gỗ quý, hàng trăm loại cây dược liệu, hơn 60 loài hoa phong lan...

Về động vật có 240 loài chim, có những loài chim quý hiếm như: trĩ lông đỏ, cò quắm xanh, tê giác một sừng, voi...

Di tích của vương quốc Phù Nam :

Các nhà khảo cổ học mới phát hiện một đền thờ vật linh thuộc nền văn hóa Phù Nam trên đỉnh ngọn đồi A1 (xã Quảng Ngãi, huyện Cát Tiên, Lâm Đồng) tại khu vực đầu nguồn sông Đồng Nai. Đó là khu đền thờ được xây gạch thô, bệ, khung diềm cửa, cột trụ bằng đá xanh granit chạm trổ hoa văn, các linga bằng vàng hoặc bằng vàng bịt bạc, một linga Yoni cao 2,1m (6.3 ft), đường kính 0,7m (2.1 ft) bằng đá xanh mài bóng, lớn nhất Đông Nam Á cùng hơn một trăm miếng vàng có khắc họa hình ảnh sinh hoạt thời đó: các vũ nữ, chiến binh, voi, bò, hoa sen... Đây là công trình khảo cổ có giá trị văn hóa, lịch sử và tín ngưỡng lớn để có thể xác định được sự tồn tại, nguồn gốc của một vương quốc đã bị lãng quên hơn 1.300 năm.

“Trong số hàng chục tiểu quốc đã xuất hiện ở Đông Nam Á trong khoảng từ thế kỷ I đến VII, nổi bật lên nước Phù Nam với vai trò tiếp thu và truyền bá văn hóa Ấn Độ”.(Lược sử Đông Nam Á, NXB Giáo dục – 1998, trang 28). Theo các sử cổ Trung Quốc từ đời Lương (52-556) cho biết nước Phù Nam ở phía tây nam nước Lâm Ấp (Cham pa), khí hậu giống Lâm Ấp (miền Trung Việt Nam ngày nay). Đến năm 580-640 thì Chân Lạp ở lưu vực sông Sê Mun là thuộc quốc của Phù Nam nổi lên áp đảo khiến cho vương quốc này bị khủng hoảng và tiêu vong sau đó. Chân Lạp dựng nước với vương triều Ăng Co là Cam pu chia ngày nay được chia thành hai vùng : phía bắc Biển Hồ (Tonlé Sap) gọi Lục Chân Lạp và phía nam là Thủy Chân Lạp thuộc khu vực sông Mê Công.

Vương quốc Phù Nam có kinh đô là Vyadhapura nằm bên bờ sông Mê Công gần Ba Phnom trên đất Campuchia ngày nay thuộc tỉnh Prey Veng. Các nhà khảo cổ thường nhắc đến thành phố cảng xưa ở vùng Thất Sơn (Long Xuyên) tên Óc Eo, hình thành và phát triển từ đầu đến thế kỷ thứ VI bị biến mất do bị vùi lấp sâu dưới lòng đất nơi Thoại Sơn (núi Sập), có lẽ bị cơn sóng thần nổi dậy tàn phá như nạn sóng thần ở Phú Kiệt (Thái Lan) mấy năm trước và Nhật Bản mới đây.

Vương quốc Phù Nam có mối quan hệ lịch sử và dân tộc với vương quốc Champa và Campuchia nên cả ba nơi này đều có cùng một truyền thuyết lập quốc. Theo đó, thuở xa xưa có một hoàng tử Ấn Độ te6n Kaudynia đi tuần thám tới vùng biển này thì gặp công chúa Liễu Diệp con gái vua Rồng ngăn chặn và thuyền của công chúa bị tên sắt của hoàng tử bắn thủng làm chìm. Công chúa thần phục hoàng tử và hai người kết hôn được vua Rồng dùng phép thuật rút hết nước xứ xở này để tạo nên vùng đất màu mỡ cho cai trị. Truyền thuyết rồng hút hết nước khu vực giữa vịnh Thái Lan với biền Đông tương ứng với vùng đất thuộc vương quốc Phù Nam (Nam Bộ ngày nay) phù hợp với hoạt động hải thoái ở khu vực này vào đầu công nguyên, phố cảng Óc Eo bị vùi lấp do sóng thần và nạn hải xâm vào thế kỷ thứ VI. Sau đó lại hải thoái dần cho đến ngày nay, thường xảy ra ngập lụt ở vùng Đồng Tháp mười và U minh – Cà Mau vừa do sông nước Cửu Long theo mùa mưa nước nổi vừa do nạn triều cường biển Đông xâm nhập.

“Vào thế kỷ thứ nhất của công nguyên, khi nước Phù Nam xuất hiện thì các bộ tộc giống người Anh đô nê siêng đã cư trù khắp ven biển miền nam Đông Dương. Phù Nam được coi như một đế quốc mà lãnh thổ bao trùm hết nước Campuchia, miền Nam Thái Lan, một phần nước Lào, hết Nam bộ và lên tới đèo Cả (Varella) hiện nay. Kinh đô Phù Nam ở Vyadhapura gần đồi Ba Phom cách biển chừng 200 km (ta gọi là Ba Nam, còn Trung Quốc phiên âm ra Phù Nam). Hải cảng giao thương với nước ngoài đặt ở Óc Eo gần núi Ba Thê thuộc tỉnh An Giang ngày nay…Đến thế kỷ thứ ba thì miền nam Đèo Cả (có lẽ tới gần Bà Rịa ngày nay) thành ra nước Chiêm Thành (Champa). Đến thế kỷ thứ sáu, thì nhà vua và dân tộc Khơ Me nổi lên lập thành Chân Lạp thì thu tóm đất đai còn lại ở hạ lưu Mêkông”. (Địa chí văn hóa TP Hồ Chí Minh, NXB TP HCM 1987, trang 139).

Vùng miền đất đỏ miền Đông Nam Bộ từ Sài Gòn tới Đồng Nai, Bình Phước, Lâm Đồng, Phan Thiết tương ứng với địa danh cổ là Xích thổ (Đất đỏ) hình thành từ 27 tới trên 30 nước nhỏ, có lẽ được tính theo dân tộc đang sinh sống tại chỗ như Stiêng, Mạ, Mnông, Cơ ho và nhiều nhóm tộc nhỏ khác nữa như Chrau, Kono, Chato …Các nhà khảo cổ học, dân tộc học còn cho biết thêm, những nước mới nổi lên ở miền Nam Đông Dương như Phù Nam rồi Chiêm Thành (Champa) đều chịu ảnh hưởng và theo văn minh Ấn Độ. Nói đúng hơn, đó là những bộ tộc được Ấn hóa trước nhất, mạnh nhất, nổi lên thành lập quốc gia. Tất nhiên có một số dân tộc hay bộ lạc chịu khuất phục và chấp nhận Ấn hóa theo, nhưng một số khác không chịu, đã chống lại rồi di tản tới các miền hẻo lánh như các bộ tộc Giarai, Ê Đê, Raglai, Churu (Choro)… tuy cùng dòng ngôn ngữ Malayô - Pôlinêsia với dân tộc Chăm nhưng không chịu Ấn hóa như Chăm nên kéo nhau lên Tây nguyên để giữ được văn hóa và tín ngưỡng riêng. Còn các dân tộc Bana, Xê Đăng, Cơ ho, Cơ tu, Mnông, Stiêng, Mạ … tuy không cùng dòng ngôn gữ Nam Á – Môn Khơ me như dân tộc Khơ me (Khmer) lại không chịu Ấn hóa như Khơ me nên kéo nhau lên cao nguyên hoặc sang những vùng hẻo lánh khác để giữ lấy tập tục và lối sống riêng. Việc thiên cư của họ kéo dài nhiều thế kỷ (lối 10 thế kỷ) và rất phức tạp, gay go vì có trước có sau, đan xen hoặc lẫn lộn và đi theo đường ngòng ngoèo, quanh co, vừa đi vừa dừng lại bị Ấn hóa một phần v.v…và bị các vương quốc đang trị vì khống chế như Campuchia, Champa.

Do đó, người ta phỏng đoán rằng khi nước Phù Nam chấp nhận văn minh Ấn Độ khởi xuất từ đồi Ba Nam tới vùng Bảy núi (Thất Sơn thì các dân tộc Stiêng, Mạ (thêm Mnông, Cơ ho) đã từng di trú ở vùng đồng bằng sông Cửu Long rồi. Khi một số dân Khơ me bị Ấn hóa di cư tới các tỉnh miền Tây như Sóc Trăng, Trà Vinh, Châu Đốc thì các dân tộc này chuyển lên miền Đông Nam Bộ và có một thời gian dài họ vẫn sinh sống ở vùng đất đỏ Bà Rịa, Xuyên Mộc (sách Đại Nam thống nhất họa đồ thời Minh Mạng năm 1838 có ghi nước Xương tinh tức địa bàn sinh tụ của dân tộc Stiêng) mà người Pháp khi chiếm đóng nước ta đã gọi họ là “Mọi Bà Rịa” hay Mọi Đá vách, Mọi Bồ Nông thời Minh Mạng, Thiệu Trị đời nhà Nguyễn. Thời đầu Pháp thuộc bác sĩ Yersin khi tìm đường lên Đà Lạt tới Đồng Nai (đi thuyền trên sông Đồng Nai thượng) đã gặp vua Mạ và nhờ ông này dẫn đường lên vùng Lâm Đồng và phát hiện ra cao nguyên Lang Biang.

Tới đây, chúng ta có thể tóm lược các diễn biến lịch sử và địa chất vùng miền Đông và miền Tây Nam Bộ từ đầu công nguyên như sau :

-Từ thế kỷ 1 đến thế kỷ thứ 6 : vương quốc Phù Nam chiếm lĩnh toàn bộ khu vực Nam Đông Dương bao gồm Nam Lào, Campuchia, Nam Bộ và Trung Bộ Việt Nam. Vùng đồng bằng sông Cửu Long bị hải xâm kéo theo sóng thần làm sập đoạn cuối dãy núi Thất sơn tại Thoại sơn (thuộc Long Xuyên nay) làm cho phố cảng Óc Eo (đúng tên là Ô Keo) bị vùi lấp cho đến đầu thế kỷ 20 (trước năm 1945) mới được phát hiện do được khai quật khảo cổ.

-Từ thế kỷ thứ 7 : vương quốc Chân Lạp xâm chiếm Phù Nam hình thành thời kỳ Tiền Angkor và phân chia thành Thủy chân lạp và Lục chân lạp.

-Từ thế kỷ thứ 8 : Vua Núi thuộc triều đại Sailendra từ vùng hải đảo Java thống lĩnh toàn bộ khu vực Nam Bộ, Campuchia và Champa do có lực lượng thủy quân hùng mạnh nhất vùng.

-Tới thế kỷ 9-12 : Chân Lạp khôi phục lại vương quốc lập ra nền văn minh Angkor huy hoàng (xây dựng Angkor Wat và Angkor Thom) chiến tranh với Champa.

-Tới thế kỷ 13 : làn sóng xâm lăng của đế quốc Nguyên Mông vào Nam Á tới Đại Việt, Champa và Chân Lạp, kể cả Java tuy thất bại những đã gieo rắc ảnh hưởng xấu làm khủng hoảng các vương quốc Chân Lạp, Champa và Java.

-Tới thế kỷ 14-15 : các nước Nam Á hay Đông Dương tạm thời yên ổn để xây dựng đất nước thì họa ngoại xâm của các nước phương Tây ập tới làm cho khu vực Nam Á bắt đầu biến động lớn kéo dài tới thế kỷ 20 và phong trào giải phóng dân tộc, giành độc lập nổ ra cho tới kết thúc và hòa bình lập lại như hiện nay.

Kết luận :

Chuyến du lịch Nam Cát Tiên (nổi bật với vườn quốc gia Nam Cát Tiên) đã gợi ý cho tôi trở lại với nguồn gốc của thời kỳ đầu công nguyên, trong đó tìm hiểu lại lịch sử và địa lý của các vương quốc hình thành lúc đó, đặc biệt nước Phù Nam mà ngày nay chỉ còn lại một số ít di vật khảo cổ được trưng bày ở một vài bảo tàng của các nước Nam Á như Việt Nam, Campuchia. Văn hóa Óc Eo là một đặc trưng của Phù Nam mà từ lâu ít được biết đến. Văn hóa Ấn Độ với đặc trưng tín ngưỡng thờ Linga (dương vật) – Yoni (âm vật) xâm nhập Phù Nam từ đầu công nguyên mà ngày nay còn thờ tại các đền Ấn Giáo ở thành phố Hồ Chí Minh, các tháp Chăm ở miền Trung, kể cả ở đền Bà Chúa Xứ - Châu Đốc bị biến dạng (tượng nam thành tượng nữ).

Từ đó, chúng ta rất tự hào về một Đại Việt – Việt Nam – một ngàn năm Thăng Long – Hà Nội gồm 54 dân tộc có một sức sống luôn vươn lên mãnh liệt qua các thời kỳ lịch sử với nhiều biến động ở khu vực Nam Á từ thời các vua Hùng đến thời đại ngày nay đã kiên cường, hy sinh và gian khổ chiến thắng ba đế quốc lớn từng đô hộ nước ta từ 20 năm, 100 năm và 1.000 năm có hơn.

Ở thời đại ngày nay, Việt Nam với các nước trong khu vực Nam Á đã cùng nhau chung sống trong một khối Asean gắn bó với nhau về kinh tế - văn hóa – xã hội vốn có chung dòng lịch sử đấu tranh và chủng tộc lâu đời trải qua nhiều biến động sâu sắc càng làm cho tình hữu nghị “láng diềng gần” thêm gắn bó, bền vững ./.

_____________________________________________________



© Tác giả giữ bản quyền.
. Đăng ngày 07.01.2012 theo nguyên bản của tác giả chuyển từ Sài Gòn.
. TRÍCH ĐĂNG LẠI VUI LÒNG GHI RÕ NGUỒN NEWVIETART.COM .