Đã là người dân nước Việt mến yêu mấy ai mà không
biết đến bài ca dao sau:
“Trèo lên cây bưởi hái hoa
Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân
Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc
Em có chồng anh tiếc lắm thay
Ba đồng một mớ trầu cay
Sao anh chẳng hỏi những ngày còn không
Bây giờ em đã có chồng
Như chim
vào lồng như cá cắn câu
Cá cắn câu biêt đâu mà gỡ
Chim vào lồng , biết thuở nào ra”.
Đoạn thơ trên tràn đầy sự tiếc nuối xót xa, thoảng
trong đó vời vợi những lời oán trách nhẹ nhàng nhưng
không kém phần day dứt. Những người đã từng trải thường
bị một tâm lý gây xúc động khá mạnh, đó là sự nuối
tiếc những sự việc đã qua. Thời gian không bao giờ quay
trở lại. Chẳng có sức mạnh nào có thể tái tạo lại
được những ngày xưa. Mà nếu có thể, thì việc đó đâu
còn được gọi là thuở ban đầu? Nên cái nỗi buồn “giá
như ngày ấy” luôn luôn tồn tại.
Một ngày nào đó người con gái đã ngậm ngùi thầm kể
với người mình yêu:
“Trèo
lên cây bưởi hái hoa
Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân"
Ngay mờ đầu tâm sự đã gợi lên một sự phi lý như chính
cuộc đời lỡ dở của nàng. Nàng muốn hái hoa , nhưng
sao chẳng dễ dàng! Nàng phải trèo lên để hái hoa mãi
trên cây bưởi đầy gai góc, đến khi trở xuống vườn
cà những tưởng hái bông cà màu tim tím nhưng hóa ra lại
là hái nụ tầm xuân xanh biếc. Ôi nàng … sao thật trớ
trêu!
Rồi sau đó nàng lặng lẽ ngắm nhìn nụ tầm xuân chớm
nở đầy sự khêu gợi quyến rũ mà chợt nghĩ tới mình,
khi buổi còn con gái hơ hớ chưa chồng và cả người bạn
tình thắm thiết nồng nàn thuở ấy!
“Em có chồng anh tiếc lắm thay!”. Vâng, tiếc lắm chứ.
Làm sao một người con trai đầy sức mạnh, đầy tham vọng
lại không tiếc, lại không đau đớn điên người khi thấy
người con gái mình hằng yêu thương lại ở trong vòng tay
kẻ khác.
Để lột
tả một cách mạnh mẽ tâm trạng, ở đây vần thơ đột
ngột chuyển hướng từ thể lục bát về thể 7 chữ được
gieo vần thanh trắc; giữa câu và ở cuối câu: “biếc”
và "tiếc” tạo ra những âm thanh mạnh, gắt và cao
trong cái giai điệu vốn bình bình trầm lặng của câu thơ
lục bát (bài thơ này không hẳn là thể song thất lục
bát bởi vì có những bốn câu lục bát tiếp theo).
Sao quá cay chua và thất vọng vậy? Chỉ vỏn vẹn có mỗi
ba đồng thôi, số tiền này đâu có lớn, ấy thế mà nó
đổi được cả cuộc đời, đổi cả được bầu trời
hạnh phúc?
“Ba đồng một mớ trầu cay
sao anh chẳng hỏi những ngày còn không?”
Vụng dại quá, tệ hại quá và đau đớn xé lòng biết
bao. Có lúc chúng mình đã từng kề sát bên nhau tưởng
có thể xiết được lấy tay nhau cùng sánh bước, ấy thế
mà ai quá chậm chạp, ai quá do dự nên để rồi dưới
gầm trời này, chúng mình mãi mãi xa nhau, không thể nào
tìm được, không bao giờ chuộc được, định mệnh khắc
nghiệt biết bao . Nỗi trường hận “giá như ngày ấy…”
chính là ở chỗ này!
Anh xa rồi như một cái bóng thoảng qua, còn em chơi vơi
ở lại, không gian, thời gian chẳng phải của mình, đời
tối xẫm màu vô nghĩa, với phận "chim chậu cá lồng"
để chờ đợi sự kết thúc một kiếp người… Vần thơ
đột ngột quay trở về và cũng bỏ lửng vội vàng ngay
tại đó với kiểu bảy chữ cùng sự gieo vần thanh trắc
đầy hiểm hóc gay cấn là cách tối ưu để lột tả một
định mệnh xót xa của một con người:
“Cá cắn câu biết đâu mà gỡ
Chim vào lồng biết thuở nào ra”.
Bài ca dao trên quả thật là bất hủ bởi tính nghệ thuật
và sức đồng cảm mạnh mẽ, lay động biết bao tâm hồn
cô quạnh ở trên cõi đời này. Bởi một lẽ, trong suốt
cuộc đời dài dằng dặc,nỗi trắc ẩn tiếc nuối lớn
hay nhỏ đâu phải của riêng ai? Bởi vì nhân quần này,
đã mấy ai không nếm vào vị đắng của tình yêu! Bài
ca dao sẽ sống mãi như một viên ngọc quý được giữ
gìn bao bọc trong cõi thẳm sâu tâm hồn và những hoài ước
của chúng ta.